giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp việt nam thịnh vượng – chi nhánh giảng võ - Pdf 23

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
*****
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH
VƯỢNG CHI NHÁNH GIẢNG VÕ
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Văn Luyện
Họ và tên sinh viên : Phạm Thị Thu Hà
Lớp: : NHM – K12
Khoa: : Ngân hàng
Chuyên ngành : Ngân hàng thương mại
Hà Nội, Năm 2013
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng
em. Các số liệu trình bày trong phạm vi bài khóa luận là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng. Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình của
mình.
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thu Hà
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể thầy, cô giáo đã tận
tình giảng dạy em và các bạn trong thời gian vừa qua và đặc biệt cảm ơn TS
Lê Văn Luyện – thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn
thành khóa luận này.

16 CIC Trung tâm thông tin tín dụng
17 TCTD Tổ chức tín dụng
18 TMCP Thương mại cổ phần
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
19 TSĐB Tài sản đảm bảo
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
STT Tên bảng
Tran
g
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của VPBank Chi nhánh Giảng Võ 31
Bảng 2.1 Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền 33
Bảng 2.3 Cơ cấu huy động vốn từ khách hàng theo kỳ hạn 33
Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh của VPBank Chi nhánh Giảng Võ 34
Bảng 2.5 Tình hình tổng dư nợ VPBank Chi nhánh Giảng Võ 36
Bảng 2.6 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo đối tượng khách hàng 38
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn vay 40
Bảng 2.8 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành nghề kinh doanh 42
Bảng 2.9 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền tệ 44
Bảng 2.10 Tổng hợp phân loại nợ tại VPBank Chi nhánh Giảng Võ 45
Bảng 2.11 Tình hình nợ quá hạn tại VPBank Chi nhánh Giảng Võ 46
Bảng 2.12 Tình hình nợ xấu tại VPBank Chi nhánh Giảng Võ 47
Bảng 2.13
NQH và nợ xấu của VPBank Chi nhánh Giảng Võ theo
ngành nghề kinh doanh
50
Bảng 2.14 NQH, nợ xấu của Chi nhánh Giảng Võ theo thời hạn vay. 52
Bảng 2.15 Tình hình nợ có khả năng mất vốn 54
Bảng 2.16 Mức điểm của khách hàng tương ứng với việc xếp loại 57
Bảng 2.17 Nợ cơ cấu lại 58

doanh cũng như lợi nhuận của các ngân hàng mà còn đối với các chủ thể khác
trong nền kinh tế.
Nợ xấu là vấn đề thời sự trong hệ thống NHTM Việt Nam và xử lý nợ xấu
đang là một trong những vấn đề cốt lõi trong quá trình tái cơ cấu hoạt động
ngân hàng hiện nay. Năm 2011 - 2012, tỷ lệ nợ xấu ở hầu hết các NHTM Việt
Nam đều tăng lên khá nhanh, điều đó không ngoại trừ với các ngân hàng lớn
như VCB, TCB, BIDV…Tính đến ngày 21/8/2012, theo số liệu mà Thống đốc
NHNN công bố, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là hơn 229.000 tỷ
đồng, chiếm 8,8% tổng dư nợ. Con số trên thực sự đáng lo ngại và gây ảnh
hưởng tới hoạt động của các ngân hàng cũng như nền kinh tế. Một khoản tiền
lớn lên tới trên 200 nghìn tỷ đồng không thể đưa vào lưu thông, bị đóng băng
sẽ gây lãng phí lớn cho xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn như
hiện nay. Nợ xấu chính là lý do khiến các ngân hàng thời gian qua không dám
tiếp tục cho vay, dù nguồn vốn không thiếu. Ngân hàng phải thận trọng hơn
với các khoản vay để tránh các khoản nợ xấu tiếp theo, dẫn tới hậu quả là các
ngân hàng có tiền mà không cho vay được, còn nền kinh tế thì vẫn tiếp tục
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng
khát vốn. Đầu tháng 11/2011, Standard and Poor’s đã điều chỉnh đánh giá
mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ nhóm 9” lên “ nhóm
10” (nhóm cuối cùng trong thang 10 nhóm của Standard and Poor’s), điều đó
cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đang nằm trong nhóm những quốc gia
có độ rủi ro rất cao, cùng với Hy Lạp. Đứng trước tình hình đó, các NHTM Việt
Nam phải tăng cường công tác quản lý RRTD, hạn chế tới mức thấp nhất
những rủi ro có thể xảy ra.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em lựa chọn đề tài “Giải
pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt
Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Giảng Võ” làm đề tài khóa luận. Đề tài được
tiến hành nghiên cứu dựa trên tình hình rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2010
– 2012 tại ngân hàng với mong muốn tìm ra nguyên nhân, đề xuất các giải

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Giảng Võ
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Giảng Võ
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 10 Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì:
Tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa
bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá
nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao
tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên cho
vay khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Thứ nhất, tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả nên người cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ
trả đúng hạn.
Thứ ba, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay

đó.
1.1.3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng.
Theo ủy ban Basel, rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc
bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản
đã cam kết.
Theo thông tư 02/2013/TT – NHNN ban hành ngày 21/01/2013 thì “ Rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 12 Học viện Ngân hàng
nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của
mình theo cam kết”
Như vậy, RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng, biểu hiện thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ
hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho dù là nợ gốc hay nợ lãi. RRTD
không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động
mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, tài trợ thương
mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
RRTD là một tất yếu mà các ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn ra
khỏi hoạt động tín dụng của mình, họ buộc phải chấp nhận sự tồn tại của rủi
ro và cố gắng tìm mọi phương thức để có thể hạn chế đến mức thấp nhất
RRTD, đặc biệt là khi thế giới đang tiến dần tới giai đoạn toàn cầu hóa, các
hoạt động của ngân hàng trở nên vô cùng phong phú và không chỉ giới hạn
trong phạm vi quốc gia như trước đây mà còn hướng ra thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh đó, các hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro hơn, yêu
cầu cần có một phương thức quản trị RRTD hiệu quả là vấn đề trọng tâm
trong công cuộc đổi mới và phát triển của các ngân hàng hiện nay. Đồng thời
sự tăng cường kiểm soát quốc tế đặt ra yêu cầu các ngân hàng cần có những
biện pháp hữu hiệu để hạn chế rủi ro và đáp ứng được những tiêu chuẩn quy

Hoạt động tín dụng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro trong số các hoạt
động của ngân hàng. Do vậy, việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra RRTD là vô
cùng quan trọng, góp phẩn không nhỏ vào việc quản trị RRTD để từ đó tìm ra
biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD.
a. Nguyên nhân môi trường kinh doanh
Hoạt động tín dụng chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố kinh tế, chính trị,
xã hội, pháp luật.
Thứ nhất, tín dụng chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế gồm các yếu tố
như: chu kỳ kinh tế, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất,
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 14 Học viện Ngân hàng
chính sách tiền tệ…Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp
làm ăn hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngược lại, khi
nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định gây nhiều ảnh hưởng
tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như: sản xuất đình
trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hóa bị ứ động, không thu hồi được vốn đầu tư
dẫn tới khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn.
Thứ hai, tín dụng phụ thuộc vào môi trường chính trị - xã hội. Môi trường
chính trị - xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, là
môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Doanh nghiệp yên tâm mở rộng sản xuất và phát triển kinh doanh, làm tăng
doanh thu, lợi nhuận và tạo điều kiện trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Ngược
lại, nếu doanh nghiệp luôn bị đặt trong tình trạng cấm vận kinh tế, chính trị
bất ổn…thì điều nãy sẽ dẫn tới việc kìm hãm hoạt động sản xuất, gây nhiều
hậu quả nghiêm trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
từ đó gây ra rủi ro đối với doanh nghiệp nói chung và RRTD của ngân hàng
nói riêng.
Thứ ba, tín dụng phụ thuộc vào yếu tố môi trường quốc tế. Trong xu
hướng hội nhập nền kinh tế thế giới như hiện nay, các ngân hàng mở rộng
lĩnh vực hoạt động của mình sang khu vực quốc tế thông qua các hoạt động

như doanh nghiệp mong muốn, thời gian cung cấp bị chậm trễ…khiến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn. Ngoài ra, khi thị
trường nguyên liệu khan hiếm, giá cả đầu vào tăng cao khiến chi phí tăng cao
cũng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ba là, rủi ro từ thị trường tiêu thụ. Do khâu nghiên cứu thị trường chưa
tốt, sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất không đáp ứng thi trường về chất
lượng, mẫu mã, chủng loại, thị hiếu người tiêu dùng. Đồng thời, khi thị trường
ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều nhà cạnh tranh trên thị trường cùng
cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ buộc doanh nghiệp phải không ngừng
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 16 Học viện Ngân hàng
nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện các chính sách khuyến mại, giảm giá
hàng bán để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hàng hóa. Những hành động trên khiến
chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, nếu việc kinh doanh không thuận
lợi, không đạt được mục tiêu đề ra sẽ khiến doanh thu giảm sút, lợi nhuận
giảm và hậu quả là khả năng trả nợ ngân hàng gặp nhiều rủi ro.
Bốn là, tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, cơ cấu vốn không
hợp lý, hệ số nợ quá cao…hoạt động kinh doanh không ổn đinh, doanh nghiệp
gặp khó khăn trong việc hoàn trả nghĩa vụ nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Năm là, rủi ro đạo đức khách hàng vay vốn. Khách hàng sử dụng vốn sai
mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, cố tình lừa đảo ngân hàng.
Doanh nghiệp cố tình che dấu các khoản lỗ, cố tình làm báo cáo tài chính giả
để chiếm dụng vốn của ngân hàng. Vì vậy CBTD gặp khó khăn trong việc phân
tích tài chính của khách hàng trong giai đoạn thẩm định.
c. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngoài các nguyên nhân khách quan được phân tích ở trên, RRTD còn xuất
phát từ những nguyên nhân chủ quan đến từ chính ngân hàng cấp tín dụng
cho khách hàng.
Một là, chính sách tín dụng không hợp lý: Chính sách tín dụng được ví như
kim chỉ nam trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một chính sách tín dụng

Năm là,ngân hàng không thường xuyên thực hiện việc kiểm tra giám sát
khách hàng sau khi vay: Rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các khâu của quy
trình tín dụng, vì vậy việc rủi ro xảy ra trong khi khách hàng sử dụng tiền vay
ngân hàng là một điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, các ngân hàng
thường tập trung vào công tác thẩm định trước khi giải ngân nhưng lại chưa
chú trọng đúng mức vào công tác kiểm soát sau khi giải ngân, điều này làm
ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng. Việc khách hàng
sử dụng vốn sai mục đích là một điều rất dễ xảy ra, vì vậy ngân hàng cần phải
thận trọng hơn trong quá trình giám sát của mình nếu muốn hạn chế RRTD.
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 18 Học viện Ngân hàng
Sáu là, rủi ro trong thực hiện bảo đảm tín dụng: Điều này do ngân hàng
thực hiện đánh giá TSĐB không tốt, không đúng quy định của pháp luật (tài
sản phải có đủ điều kiện pháp lý, không có tranh chấp, phải có tính thị trường,
giá trị ổn định…). Tuy nhiên, CBTD cần chú ý TSĐB chỉ là nguồn trả nợ thứ
cấp, có thể gặp rủi ro do có thể bị hư hại, bị giảm giá trị, tính khả mại thấp…
nhưng thực tế vẫn có nhiều trường hợp ngân hàng cho khách hàng vay căn cứ
vào nguồn trả nợ thứ hai đó. Chính vì vậy trong thời gian qua, việc thị trường
bất động sản đóng băng đã gây nguy hại không nhỏ cho hoạt động của các
ngân hàng do phần lớn TSĐB là bất động sản.
1.1.3.4. Tác động của rủi ro tín dụng
RRTD là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, vi phạm các
đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự hoàn trả và tính thời hạn, gây nên sự đổ
vỡ lòng tin của người cấp tín dụng và người nhận tín dụng. Về bản chất đây là
loại rủi ro đa dạng và phức tạp, rất khó quản lý và thường xuyên là nguyên
nhân dẫn đến các loại rủi ro khác. Khi RRTD nảy sinh, tùy theo mức độ mà nó
gây ra những tác hại nghiêm trọng không chỉ với ngân hàng, với khách hàng
mà còn với cả nền kinh tế và xã hội.
a. Đối với khách hàng
• Đối với người gửi tiền.

ngân hàng, thậm chí là rút lại các khoản tiền đã gửi trước đó, hậu quả là khả
năng huy động vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm giảm quy mô hoạt
động của ngân hàng. Ngoài ra, NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối
với các ngân hàng bạn, ngân hàng nước ngoài, nên rất khó nhận được các
khoản cấp tín dụng khi cần thiết.
RRTD làm tăng chi phí của ngân hàng: Khi RRTD xảy ra thì ngân hàng sẽ
không thu hồi được nợ trong khi vẫn phải thanh toán lãi huy động vốn. Đồng
thời các chi phí khác có thể phát sinh như chi phí quản lý nợ xấu, chi phí cho
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 20 Học viện Ngân hàng
nhân viên thu hồi nợ, chi phí cơ hội do số tiền không thu hồi được về để đem
vào đầu tư…Từ đó làm hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng,
khả năng kinh doanh và làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận của ngân hàng.
RRTD có thể làm cho ngân hàng bị phá sản: Ngân hàng gặp RRTD đã làm
giảm sút lòng tin trong dân chúng. Họ lo ngại về mức độ an toàn của các
khoản tiền đã gửi và đến rút tiền để đem đầu tư vào một ngân hàng khác mà
theo họ là an toàn và sinh lời nhiều hơn. Nghiêm trọng hơn, khi khách hàng
đến rút tiền ồ ạt, điều này có thể dẫn đến việc phá sản khi không đủ khả năng
chi trả cho một số lượng quá lớn khách hàng như vậy.
c. Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của ngân hàng liên quan đến rất
nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế đến
các tổ chức tín dụng khác. Khi hệ thống ngân hàng gặp rủi ro, kinh doanh kém
hiệu quả dẫn tới sự mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn trong
việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát
triển của nền kinh tế xã hội.
1.1.3.5. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng.
a. Tỷ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá
hạn. Nói cách khác NQH là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn,

ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ
hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị
quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ
được phân loại vào nhóm 5.
Tỷ lệ nợ xấu =
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 22 Học viện Ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD. Nếu tỷ
lệ này cao, điều đó đồng nghĩa với việc các khoản tín dụng có dấu hiệu khó
hoàn trả gia tăng, ngân hàng gặp phải RRTD.
c. Tỷ lệ mất vốn
Tỷ lệ mất vốn =
Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 được đề cập ở trên. Tỷ lệ
này càng cao thì tổn thất của ngân hàng càng lớn. Ngân hàng cần có biện
pháp thích hợp để ngăn chặn việc các nhóm nợ của mình bị xếp xuống hạng có
khả năng mất vốn.
d. Mức độ tập trung tín dụng
Mức độ tập trung tín dụng là sự phân chia khoản mục vốn tín dụng trong
tổng dư nợ cho vay theo các tiêu chí khác nhau như: ngành nghề kinh doanh,
thời hạn, đối tượng khách hàng, loại tiền, khu vực địa lý…qua đó phản ánh cơ
cấu tín dụng và định hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nó phụ thuộc
vào chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ. Mỗi ngân hàng có
một chiến lược phát triển khác nhau. Tuy nhiên, nếu việc phân bổ dư nợ cho
vay vào một lĩnh vực nào đó quá nhiều lại càng tiềm ẩn nhiều RRTD. Chính vì
vậy, các NHTM hiện nay thường đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm tăng
khả năng sinh lời và hạn chế rủi ro.
• Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền.
Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền là mức độ cho vay bằng VNĐ hay

thiểu tổn thất của ngân hàng.
Cụ thể hơn thì: Phòng ngừa RRTD tức là các biện pháp mà ngân hàng tiến
hành trước khi RRTD xảy ra, đó là các biện pháp chủ động nhằm hạn chế xác
suất xảy ra RRTD, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
và thường được thực hiện trước khi cấp tín dụng cho khách hàng. Còn hạn chế
RRTD là các biện pháp mà ngân hàng áp dụng nhằm giảm thiểu tới mức thấp
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12
Khóa luận tốt nghiệp 24 Học viện Ngân hàng
nhất những tổn thất có thể mang lại từ RRTD, các biện pháp này thường được
tiến hành trong và sau quá trình cấp tín dụng cho khách hàng.
1.2.2. Các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
a. Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản là
lợi nhuận, an toàn và lành mạnh. Một chính sách tín dụng hợp lý sẽ tạo điều
kiện cho ngân hàng vừa tối đa hóa lợi ích, vừa giảm thiểu được rủi ro. Để đạt
được mục tiêu đó thì chính sách tín dụng phải được xây dựng dựa trên các căn
cứ:
• Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn
huy động được. Chính vì vậy cần dựa vào quy mô nguồn vốn để lựa chọn kỳ
hạn đầu tư, loại hình cho vay phù hợp.
• Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của đội
ngũ cán bộ nhân viên là nhân tố quan trọng để xây dựng chính sách hợp lý.
• Căn cứ vào những dự báo về rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và
rủi ro trong hoạt động tín dụng nói riêng. Đồng thời việc xây dựng chính sách
tín dụng còn phụ thuộc vào các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong
từng thời kỳ, bởi điều này ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của thị trường.
b. Thắt chặt và thực hiện đúng quy trình tín dụng
Việc tuân thủ quy trình tín dụng trong hoạt động ngân hàng là rất quan
trọng. Nếu CBTD thực hiện nghiêm chỉnh quy trình xét duyệt cho vay, kiểm tra

đúng đắn trong việc có nên cho khách hàng vay vốn hay không. Nhưng nếu có
một sai sót xong quá trình thẩm định dẫn tới quyết định sai lầm thì RRTD xảy
ra là không tránh khỏi. Vì vậy ngân hàng cần phải nâng cao hơn nữa chất
lượng thẩm định khách hàng để phòng ngừa những tổn thất có thể xảy ra sau
này.
Phạm Thị Thu Hà Lớp NHM – K12

Trích đoạn Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn vay Tình hình nợ xấu. Thực hiện nghiêm túc chính sách tín dụng. Áp dụng các biện pháp về đảm bảo tiền vay. Những tồn tạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status