giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp dầu khí toàn cầu– chi nhánh thăng long - Pdf 23

1
Chuyên đề thực tập
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU– CHI NHÁNH
THĂNG LONG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN VĂN SÙNG
Lớp : 9B4 -VBII
Mã sinh viên : 09C14010048
Chuyên ngành : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1
Bùi Công Lý Lớp: NHD_K10
2
Chuyên đề thực tập
HÀ NỘI – 8/2013
2
Bùi Công Lý Lớp: NHD_K10
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề này là công trình nghiên cứu của riêng em. Các
số liệu trình bày trong phạm vi chuyên đề là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2013
Sinh viên thực hiện
\

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Hệ thống NHTM Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Hiện
nay, các hoạt động kinh danh của NHTM ngày càng đa dạng và phong phú như:
nhận tiền gửi, cấp tín dụng, phát hành thẻ, phát hành chứng chỉ tiền gửi, thanh toán
quốc tế, bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu…Trong đó, hoạt động tín dụng vẫn là
nghiệp vụ chủ yếu cơ bản và đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Hoạt
động tín dụng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển đất nước, là công cụ tài trợ
vốn cho nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro mà hậu quả của nó không
chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như lợi nhuận của các ngân hàng mà
còn đối với các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Nợ xấu là vấn đề thời sự trong hệ thống NHTM Việt Nam và xử lý nợ xấu đang
là một trong những vấn đề cốt lõi trong quá trình tái cơ cấu hoạt động ngân hàng
hiện nay. Nợ xấu chính là lý do khiến các ngân hàng thời gian qua không dám tiếp
tục cho vay, dù nguồn vốn không thiếu. Ngân hàng phải thận trọng hơn với các
khoản vay để tránh các khoản nợ xấu tiếp theo, dẫn tới hậu quả là các ngân hàng có
tiền mà không cho vay được, còn nền kinh tế thì vẫn tiếp tục khát vốn. Đứng trước
tình hình đó, các NHTM Việt Nam phải tăng cường công tác quản lý RRTD, hạn
chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em lựa chọn đề tài “Giải pháp
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn
Cầu– Chi nhánh Thăng Long” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp. Đề tài được tiến
hành nghiên cứu dựa trên tình hình rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2010 – 2012 tại
ngân hàng với mong muốn tìm ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp hữu ích cho

Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu- Chi nhánh Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu- Chi nhánh Thăng Long.
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
9
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì:
Tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên
cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm
hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Thứ nhất, tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả nên người cho vay khi chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn.
Thứ ba, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

1.1.3.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng.
Theo ủy ban Basel, rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối
tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã cam kết.
Theo thông tư 02/2013/TT – NHNN ban hành ngày 21/01/2013 thì “ Rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả
năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ
không đúng hạn cho ngân hàng cho dù là nợ gốc hay nợ lãi. RRTD không chỉ giới
hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
khác của ngân hàng như bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên
ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
1.1.3.2. Phân loại rủi ro tín dụng.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD được chia làm hai loại là
rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch gồm 3 loại là, rủi ro bảo đảm, rủi ro lựa chọn, và rủi ro nghiệp vụ:
+ Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm, chủ thể bảo đảm,
cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị TSĐB.
Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết
định cho vay.
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là loại rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật
xử lý các khoản vay có vấn đề.

Người vay bị thất nghiệp tạm thời hoặc trong thời gian dài, tiền lương bị suy
giảm dẫn tới không có thu nhập và không đảm bảo khả năng trả nợ. Do người vay
hoạch định ngân quỹ không chính xác, không cân bằng được thu nhập và chi phí
trong tương lai để đảm bảo phần trả nợ cho ngân hàng. Hoặc do đạo đức khách
hàng không tốt, chủ tâm lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng, cố tình sử dụng
vốn sai mục đích và thiếu thiện chí trả nợ. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng từ khách hàng
cá nhân cũng có thể đến từ các biến cố bất thường trong cuộc sống gây khó khăn
cho khách hàng như ốm đau, bệnh tật, tai nạn, chết, ly dị…
• Đối với khách hàng doanh nghiệp:
Một là, khả năng quản lý doanh nghiệp kém. Hoạt động quản lý có vai trò
quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó. Doanh
nghiệp hạn chế trong việc xây dựng, triển khai các phương án, dự án đầu tư, quản
lý nhân sự, xác định chiến lược kinh doanh, lựa chọn môi trường kinh doanh không
phù hợp…khiến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp giảm sút. Một quyết định sai lầm
của ban quản lý có thể để lại hậu quả nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp đó, nghiêm trọng hơn doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng phá sản.
Điều này ảnh hưởng tất yếu đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, làm gia tăng
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
RRTD của ngân hàng quan hệ với doanh nghiệp đó.
Hai là, rủi ro xuất phát từ thị trường cung cấp nguyên vật liệu. Do thị trường
cung cấp không có khả năng cung cấp đủ số lượng nguyên liệu mà doanh nghiệp
cần hoặc cung cấp nguyên liệu không đảm bảo về chất lượng như doanh nghiệp
mong muốn, thời gian cung cấp bị chậm trễ, chi phí tăng cao cũng gây khó khăn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp …
Ba là, rủi ro từ thị trường tiêu thụ. Do khâu nghiên cứu thị trường chưa tốt,
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất không đáp ứng thi trường về chất lượng, mẫu
mã, chủng loại, thị hiếu người tiêu dùng. Đồng thời, khi thị trường ngày càng phát
triển, ngày càng có nhiều nhà cạnh tranh trên thị trường cùng cung cấp một loại

thể phát hiện kịp thời rủi ro có thể xảy ra.
Năm là, ngân hàng không thường xuyên thực hiện việc kiểm tra giám sát
khách hàng sau khi vay: Rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các khâu của quy trình
tín dụng, vì vậy việc rủi ro xảy ra trong khi khách hàng sử dụng tiền vay ngân hàng
là một điều không thể tránh khỏi. Việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích là một
điều rất dễ xảy ra, vì vậy ngân hàng cần phải thận trọng hơn trong quá trình giám
sát của mình nếu muốn hạn chế RRTD.
Sáu là, rủi ro trong thực hiện bảo đảm tín dụng: Điều này do ngân hàng thực
hiện đánh giá TSĐB không tốt, không đúng quy định của pháp luật (tài sản phải có
đủ điều kiện pháp lý, không có tranh chấp, phải có tính thị trường, giá trị ổn
định…).
1.1.3.5. Tác động của rủi ro tín dụng
RRTD là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, vi phạm các đặc
trưng cơ bản của tín dụng là sự hoàn trả và tính thời hạn, gây nên sự đổ vỡ lòng tin
của người cấp tín dụng và người nhận tín dụng. Tùy theo mức độ mà nó gây ra
những tác hại nghiêm trọng không chỉ với ngân hàng, với khách hàng mà còn với
cả nền kinh tế và xã hội.
a. Đối với khách hàng
• Đối với người gửi tiền.
Khi ngân hàng không thể thu hồi được các khoản cấp tín dụng của mình, điều
này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
• Đối với người vay tiền.
RRTD ảnh hưởng đến lượng vốn khả dụng của ngân hàng để cho vay, ngân hàng
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
sẽ thận trọng hơn khi cho vay, áp dụng các điều khoản cho vay chặt chẽ hơn. Khi uy
tín của ngân hàng giảm sút do hậu quả của RRTD, ngân hàng có thể phải huy động với
lãi suất cao hơn để hấp dẫn khách hàng gửi tiền do vậy ngân hàng có thể áp dụng lãi
suất cho vay cao hơn để bù đắp lại chi phí lãi từ các khoản huy động.

Tỷ lệ NQH = Dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho thấy tình hình NQH tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả
năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của
ngân hàng đối với các khoản vay.
Tỷ lệ NQH càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, điều đó
cũng đồng nghĩa với việc mức độ RRTD mà ngân hàng phải đối mặt cũng cao hơn.
NQH tăng chứng tỏ khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.
b. Tỷ lệ nợ xấu.
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi
ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy
ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Theo quyết định của NHNN số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007, nợ
xấu của tổ chức tín dụng bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5
như sau:
Nhóm 3, nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Các khoản NQH từ 91 ngày đến
180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; các khoản nợ được miễn hoặc
giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
các khoản nợ được phân vào nhóm 3.
Nhóm 4, nhóm nợ nghi ngờ bao gồm: Các khoản NQH từ 181 ngày đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần
thứ hai; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4.
Nhóm 5, nhóm nợ có khả năng mất vốn bao gồm: Các khoản NQH trên 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5.
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII

theo các thành phần kinh tế khác nhau như: DNNN, công ty cổ phần, công ty
TNHH, cá nhân…
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
18
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
e. Tỷ lệ nợ có đảm bảo
Tỷ lệ nợ có bảo đảm = Dư nợ có bảo đảm/Tổng dư nợ
TSĐB là nguồn trả nợ thứ cấp của khách hàng cho ngân hàng, việc các khoản
vay của ngân hàng được bảo đảm chắc chắn bằng những tài sản có tính khả mại cao
góp phần hạn chế RRTD.
1.2. PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1. Quan niệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Phòng ngừa và hạn chế RRTD của ngân hàng chính là năng lực thực hiện các
chính sách, quy trình tín dụng dựa trên cơ cấu tổ chức được thiết lập, cơ sở công
nghệ ngân hàng hiện có, khả năng chỉ đạo điều hành của Ban lãnh đạo, khả năng
triển khai đội ngũ nhân viên và các công cụ hỗ trợ nhằm giảm thiểu tổn thất của
ngân hàng.
1.2.2. Các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
a. Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản là lợi
nhuận, an toàn và lành mạnh. Để đạt được mục tiêu đó thì chính sách tín dụng phải
được xây dựng dựa trên các căn cứ:
• Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy
động được.
• Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của đội ngũ cán
bộ nhân viên là nhân tố quan trọng để xây dựng chính sách hợp lý.
• Căn cứ vào những dự báo về rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro
trong hoạt động tín dụng nói riêng. Đồng thời việc xây dựng chính sách tín dụng còn

• Đánh giá bảo đảm tiền vay
• Đánh giá môi trường kinh doanh, các yếu tố thị trường
• Bên cạnh việc đánh giá khách hàng, CBTD cần thường xuyên đánh giá từng khoản
vay, khả năng thu hồi của khoản vay đó để từ đó đưa ra những nhận xét chính xác
nhất và là dấu hiệu để cảnh báo RRTD trong hoạt động ngân hàng để có những
biện pháp thích hợp đảm bảo cho ngân hàng chủ động phòng ngừa RRTD.
e. Phân tán rủi ro tín dụng
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Đây là một biện pháp mà ngân hàng cần chủ động tiến hành nhằm phòng ngừa
RRTD thông qua các cách sau:
• Đa dạng hóa phương thức cho vay: ngân hàng cần tiến hành đa dạng hóa các
phương thức cho vay của mình.
• Đa dạng hóa khách hàng vay vốn: để phân tán rủi ro và đạt được mục tiêu lợi
nhuận, các ngân hàng có thể mở rộng cho vay các thành phần kinh tế khác nhau,
các ngành kinh tế khác nhau.
• Đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư: Ngân hàng cần phải tôn trọng các giới hạn trong cho
vay, thực hiện đồng bộ với chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh
doanh.
f. Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng, có chế độ khen thưởng, kỷ luật rõ ràng.
Đây là một biện pháp chủ động trong công tác phòng ngừa RRTD của ngân
hàng, chính vì vậy ngân hàng cần có những biện pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của mình sao cho phù hợp với tiến trình phát triển của nền kinh tế.
1.2.2.2. Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
a. Chú trọng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Các ngân hàng tiến hành kiểm tra việc tuân thủ các cơ chế, quy chế, quy trình
nghiệp vụ và các quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh của các bộ phận chức
năng chuyên môn, trong đó đặc biệt là hoạt động tín dụng nhằm phát hiện, ngăn ngừa
và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng.

b. Môi trường kinh doanh
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng lớn đến việc phòng ngừa và hạn chế RRTD.
Nếu môi trường pháp lý, chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các biện
pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD của ngân hàng phát huy tác dụng, còn nếu
những yếu tố trên trở nên bất lợi thì việc áp dụng các biện pháp để phòng ngừa và
hạn chế RRTD của ngân hàng gặp nhiều khó khăn.
.
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong hoạt động của các NHTM thì nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ quan
trọng nhưng lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Và RRTD để lại nhiều hậu quả xấu đối với
các chủ thể trong nền kinh tế. Thông qua chương 1, chúng ta đã có cái nhìn tổng
quan về RRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên đó mới chỉ là
nhìn nhận RRTD và việc phòng ngừa, hạn chế RRTD về mặt lý luận, còn thực
trạng RRTD tại mỗi ngân hàng lại khác nhau và việc áp dụng các biện pháp cụ thể
để phòng ngừa và hạn chế RRTD tại từng ngân hàng đó cũng khác nhau, nó phụ
thuộc vào chính sách của từng ngân hàng trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, chương 1
là cơ sở để chuyên đề vận dụng đi vào phân tích thực trạng phòng ngừa và hạn chế
RRTD tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Thăng Long trong
chương 2.
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
23
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU
CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU -

PGD
Hoàng Quốc Việt
Trụ sở chính
Phòng phục vụ khách hàng
Phòng dịch vụ khách hàng
PGD
Mỹ Đình
PGD Trung
Hòa
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Các chức năng hoạt động chủ yếu của Chi nhánh bao gồm: Huy động vốn
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; chiết khấu các
giấy tờ có giá; thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng; kinh doanh ngoại
tệ,bảo lãnh và thanh toán quốc tế; hoạt động bao thanh toán.
Hiện nay, GP.Bank Chi nhánh Thăng Long đã vượt qua những khó khăn bao
đầu và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường, đứng
vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa
dạng hóa các dịch vụ kinh doanh tiền tệ.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động
GP.Bank Chi nhánh Thăng Long gồm 2 phòng chức năng và 5 PGD trực
thuộc là: PGD Mỹ Đình, PGD Trần Duy Hưng, PGD Hoàng Quốc Việt, PGD
Nguyễn Trãi và PGD Trung Hòa.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của GP.Bank Chi nhánh Thăng Long
2.1.3. Tình hình hoạt động của GP.Bank Chi nhánh Thăng Long từ 2010 đến 2012
Trải nhiều năm hoạt động, Thương hiệu GP.Bank ngày càng chứng tỏ vị thế
của mình trên thị trường thông qua việc quy mô của ngân hàng ngày càng được mở
rộng, sản phẩm đa dạng và phong phú hơn, chất lượng dịch vụ được nâng cao, đội
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII
25

đảm vốn cho vay, an toàn thanh khoản và tăng nhanh tài sản, nâng cao vị thế của
GP.Bank trong hệ thống ngân hàng. Các sản phẩm huy động vốn của GP.Bank rất
đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của dân cư và các tổ chức bằng ngoại tệ và
nội tệ thông qua các kênh huy động khác nhau.
Trong năm 2010, GP.Bank cũng đã mở ra nhiều chương trình khuyến mãi
hấp dẫn và cung cấp các sản phẩm huy động vốn ngày càng đa dạng như phát hành
thêm kỳ phiếu, tài khoản thông minh nên đã làm cho nguồn vốn huy động từ
khách hàng của Chi nhánh vẫn giữ được ổn định và tăng trưởng tốt, đạt ở mức
459.709 triệu đồng.
Đến thời điểm 31/12/2011, tổng vốn huy động lên tới 605.351 triệu đồng, tăng
Nguyễn Văn Sùng Lớp: 9B4- VBII


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status