LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin chân thành cám ơn sâu sắc đến các thày cô giáo khoa
Tài chính Ngân hàng là những người đã hết lòng truyền đạt kiến thức nền tảng
giúp em hoàn thành khóa luận này. Em vô cùng biết ơn thày giáo GS – TS
Nguyễn Văn Tiến đã giành cho em sự giúp đỡ tận tình và trực tiếp định hướng,
triển khai các nội dung tới khi em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cám ơn đến ban Giám đốc, các cô chú, anh chị đang công
tác tại NHNo&PTNT huyện Tiên Lữ đã tạo mọi điều kiện và chỉ bảo em trong
suốt quá trình thực tập và nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin trân trọng cảm ơn gia đình, nhà trường và bạn bè đã ủng hộ, giúp
đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập cũng như trong suốt thời gian làm khóa
luận để em hoàn thành tốt công việc học tập và bảo vệ khóa luận.
Em xin chân thành cám ơn !
Sinh viên
Lương Thị Huyền
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan trên đây là công trình nghiên cứu của riêng em, kết quả
nêu trong khóa luận là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế tại
NHNo&PTNT huyện Tiên Lữ nơi em thực tập.
Ngày 18 tháng 5 năm 2011
Người viết khóa luận
Lương Thị Huyền
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
thể đã chứng tỏ được sức mạnh của mình.
Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng gặp khó khăn thách thức. và nước ta hiện
nay là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn, hơn 70%
lao động trong nông nghiệp, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đơn vị sản xuất
chủ yếu là kinh tế hộ gia đình năng suất thấp, quy mô vốn, tiềm lực còn nhỏ bé,
việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản suất kinh doanh còn hạn chế, trình độ
dân chúng nhìn chung chưa hiểu biết nhiều về kinh tế thị trường và nền sản xuất
hàng hóa. Một trong yếu tố quan trọng cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế
hộ sản xuất là sự trợ giúp về vốn của các Ngân hàng thương mại. với tư cách là
bạn đồng hành nhưng nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua NHNo &
PTNT Việt Nam với các chi nhánh của mình đã và đang là kênh chuyển tải vốn
chủ yếu đến hộ sản xuất góp phần tạo công ăn việc làm giúp nông dân làm giàu
chính đáng bằng sức lao động của mình.
Nhưng do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, chi phí
nghiệp vụ cao, địa bàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp nhiều
khó khăn. Vì vậy.thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHNo&PTNT gặp khó khăn
trong hoạt động tín dụng đối với loại hình này, chất lượng tín dụng còn gặp
nhiều vấn đề chưa tốt. NHNo&PTNT huyên Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên cũng
1
không tránh khỏi khó khăn. Vì vậy, thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHNo &
PTNT gặp nhiều khó khăn trong họat động tín dụng đối với loại hình này, chất
lượng tín dụng còn nhiều vấn đề chưa tốt. khi mà khách hàng có quan hệ với
Ngân hàng đa số là hộ nông dân(chiếm tỉ lệ 80% trong tổng dư nợ) .
Chính vì lí do này với vốn kiến thức đã học và qua thời gian thực tập
NHNo&PTNT Huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, em đã chọn chuyên đề “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNo &PTNT Huyện
Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên ”với mong muốn tìm hiểu và đóng góp một vài ý kiến
về vấn đề này”.
LƯỢNG TÍN DỤNG HSX
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HSX TẠI CHI
NHÁNH NHNo &PTNT HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHÁT
LƯỢNG TÍN DỤNG HSX TẠI CHI NHÁNH NHNo &PTNT HUYỆN TIÊN
LỮ TỈNH HƯNG YÊN
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế cả về lí luận và thực tiễn nên đề tài
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thày, cô giáo
và ban giám đốc, các cô chú, anh chị đang công tác tại NHNo&PTNT Huyện
Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên để em hoàn thành đề tài này
!" #$
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤTCỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Hộ sản xuất
%%&'()
Hiện nay hộ sản xuất đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức kinh tế
phát triển của xã hội và vẫn đang tiếp tục phát triển, do đó, có nhiều quan niệm
về hộ sản xuất .
Có quan niệm cho rằng : Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành
viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên
cùng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất của hộ được tiến hành
một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng
huyết thống, thường cùng chung sống chung một ngôi nhà, họ cũng là một đơn
vị để tổ chức lao động.
doanh đa dạng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, chế biến và làm các dịch vụ khác.
Đây vừa là ưu điểm lại vừa là nhược điểm của kinh tế hộ sản xuất. Nhược điểm
là khó khăn trong việc sản xuất chuyên canh, tăng quy mô sản xuất….Ưu điểm
là linh hoạt, dễ thích ứng với yêu cầu của thị trường, khai thác tiềm năng tài
nguyên, sức lao động ở nông thôn , đa dạng hoá các nguồn trả nợ, phân tán bớt
rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay.
Khả năng tài chính thường yếu, tài sản thế chấp không có giá trị
hoặc thiếu giấy tờ pháp lý, tính thanh khoản lại không cao
Có rất ít ngành nghề có đăng ký kinh doanh…Việc đáp ứng các
điều kiện vay vốn như thông lệ trong tín dụng hộ sản xuất là rất khó.
!" Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong
nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả
năng kỹ thuật, quyền làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của
mỗi hộ gia đình. Việc phân loại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện
để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả.
5
* Đứng trên giác độ ngân hàng: Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau:
+ Loại 1: Là các hộ có vốn, có kỹ thuât, kỹ năng lao động, biết tiếp cận với
môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị trường. Như
vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quá trình
lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ trên
thị trường.
+ Loại 2: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong tay họ
không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh
doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín
dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát
huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
+ Loại 3: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không
tiên là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy
mô hộ gia đình, tiếp theo là giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên
kinh tế hàng hoá quy mô lớn, đó là nên kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng
trung gian tiền tệ. Đó là giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể
phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giải thoát tình trạng nền kinh tế kém
phát triển.
#$)/00&)!12345))6 !)
7)78)2,97):1 %!);4
Việt Nam có khoảng 80% dân số sống ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, nhưng việc sử dụng và khai thác nguồn nhân lực này còn đang
ở mức thấp do trình độ thấp và khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Hiện nay nước
ta có khoảng 12 triệu lao động chưa được sử dụng. Các yếu tố sản xuất chưa
phát huy hết hiệu quả do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở
nông thôn. Vì vậy để sử dụng hợp lý nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông
thôn. Trước tiên cần phát triển kinh tế hộ sản xuất. Trên thực tế cho thấy trong
những năm gần đây hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất
trong khu vực nông nghiệp và nông thôn đã giải quyết được một phần không
nhỏ công ăn việc làm cho người dân nông thôn.
##$/+)<):=>,?(;)6);
@A%)/0(
HSX là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường,
các HSX phải tự quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất
7
cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai để có thể cạnh tranh trên thị
trường. Muốn đạt được điều này, các hộ đều phải không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm sao cho đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, cung
cấp dịch vụ sau bán hàng tạo niềm tin cho khách hàng để có thế đứng vững trên
thương trường.
nghiệp.
Tóm lại: Với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản
xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai,
tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động,
tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày
càng thể hiện rõ nét. Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh,
tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách
nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an
ninh trật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi
"nhàn cư vi bất thiện" gây ra.
1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế HSX
%*%&;<=!"
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng hàng
hoá là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan
hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên
cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như: Tín
dụng Ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng Nhà nước, tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung.
Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới
hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Điều 20: Luật các tổ chức tín dụng quy định:
“ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng ”.
“ Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
9
quản lý lao động về các khoản thu nhập của mình.
10
#BG!:); !) %:1/;"I=)!%
Khách hàng là tất cả công dân Việt nam có đủ điều kiện đi lao động tại
nước ngoài.
Người lao động phải có hợp đồng ký kết với doanh nghiệp dịch vụ về việc
đi làm việc ở nước ngoài. Mức tiền vay tối đa 80% chi phí cần thiết liên quan
đến thủ tục đi lao động tại nước ngoài. Thời hạn vay phù hợp với khả năng trả
nợ trong thời gian lao động tại nước ngoài.
#DG!:()/0: Tất cả các khách hàng có nhu cầu và có điều kiện
trả nợ dần trong thời hạn vay. Có thu nhập thường xuyên và có tài sản đảm bảo
cho khoản vay. Thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả
năng trả nợ theo phân kỳ trả nợ trong thời hạn vay.
%*%@456 7;<=A!"-'8912#3
Trong nền kinh tế hàng hoá các loại hình kinh tế không thể tiến hành sản
xuất kinh doanh nếu không có vốn. Nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng
thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với hộ sản
xuất. Vì vậy, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở
thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
•Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì
quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế .
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên
môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản
xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu
nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản
xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Những lúc
đó các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy
trì sản xuất liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng có
truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín dụng
Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút , giải quyết việc
làm cho người lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm,
ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ
ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
12
Do đó, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề
kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này
phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ.
• Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường
và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường
Khi không có tín dụng ngân hàng, sản xuất của hộ gia đình phổ biến mang
tính tự cung tự cấp. Tín dụng ngân hàng cung cấp vốn cho HSX, một phần hay
toàn bộ sản phẩm của hộ trở thành hàng hóa trên thị trường. Đồng thời thông
qua thị trường họ có thể định hướng cho sản xuất của mình sao cho sản phẩm
sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người mua. Để đáp ứng ngày
càng tốt những nhu cầu đa dạng đó buộc HSX phải mua sắm máy móc trang
thiết bị… mở rộng quy mô sản xuất. Và đầu tư kỹ thuật công nghệ nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm của mình để có thể tiêu thụ nhanh sản phẩm, với lợi
nhuận cao. Như vậy, nhờ tín dụng ngân hàng mà tính chất sản xuất hàng hóa
ngày càng tăng lên trong cách làm, cách nghĩ của người dân.
• TDNH các hộ gia đình làm quen và từng bước thực hiện tính toán,
hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Trong sản xuất hàng hóa, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình thì bất cứ
một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để sản
phẩm của mình được thị trường chấp nhận và kinh doanh có lãi. Các hộ sản xuất
0B Tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ mở
rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề. Khai thác các tiềm năng
về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất. Tăng sản phẩm
cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất.
Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng
bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường.
Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản
xuất hàng hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn.
Thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinh doanh,
tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất. Tạo nhiều
việc làm cho người lao động.
14
Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn, hạn chế tình trạng bán
lúa non
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng tính hàng hoá của sản
phẩm nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN.
Ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục
tiêu của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, trong hoạt động
thực tiễn cho vay cho thấy cơ chế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như quy định
về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử lý tài sản thế chấp …Nếu không
có những giải pháp để tháo gỡ thì Ngân hàng không thể mở rộng đầu tư vốn và
nâng cao hiệu quả việc cho vay phát triển kinh tế hộ .
1.3 Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với HSX
%%&'"2C D9#! / 3E;<=()
sản xuất, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín
dụng.
Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cũng không thể nằm
ngoài khái niệm chất lượng tín dụng nói chung, do vậy có thể hiểu chất lượng tín
dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là vốn cho vay của ngân hàng được hộ sản
xuất đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra một số tiền lớn hơn đủ để
hoàn trả cả gốc và lãi, trang trải các chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp với
các điều kiện của ngân hàng và nền kinh tế.
#L-&,0)! 9)<45)
Nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là vấn đề rất cần thiết đối với cả
phía ngân hàng, hộ sản xuất và nền kinh tế:
O':=)%): Nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là điều
kiện để ngân hàng bảo toàn và tăng cường vốn của mình , là cơ sở để ngân hàng
gia tăng lợi nhuận, vì tín dụng HSX chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tài
sản sinh lời của ngân hàng
O':= : góp phần lành mạnh hóa quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng và các HSX, giúp các hộ được thỏa mãn nhu cầu về vốn để duy trì,
mở rộng sản xuất kinh doanh. Nâng cao đời sống vật chất tinh thần góp phần
phát triển kinh tế nông thôn.
16
O':=*+, : ngân hàng thương mại là một mắt xích trong hệ
thống tài chính quốc gia. Ngân hàng hoạt động có hiệu quả là yếu tố góp phần
ổn định tài chính tiền tệ và kiểm chế lạm phát, tạo điều kiện cho NHNN thực thi
chính sách tiền tệ. Hơn nữa, kinh tế HSX góp phần lớn vào sự nghiệp CNH-
HĐH nông nghiệp nông thôn, phát triển kinh tế đất nước.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng HSX.
Hiện nay, tín dụng vẫn chiểm khoảng 60% - 70% trong tổng tài sản có của
các Ngân hàng thương mại. Vì thế sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng
• R!'9
Doanh số thu nợ hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền
Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời
kỳ.
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất =
Doanh số thu nợ HSX
Tổng dư nợ của HSX
x 100%
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu
tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay hộ sản
xuất của Ngân hàng trong thời kỳ.
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Doanh số thu nợ HSX
Doanh số cho vay HSX
x 100%
• S)49
Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh số tiền ngân hàng đã giải ngân nhưng chưa thu
hồi trong một thời điểm nhất định.
• R92"
Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng chưa thu hồi được
sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản vay được cho vay đến hạn thanh
toán tại thời điểm đang xem xét.
Thứ hai :Tỷ lệ nợ quá hạn :
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ
Theo quyết định 493/QĐ - NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc ngân
hàng nhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng thì: Nợ quá
- Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh
giá là khả năng tổn thất cao.
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
19
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3 và
khoản 4 điều này.
- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Các khoản nợ khoanh chờ xử lý;
+ Các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày
theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3 và
khoản 4 điều này.
Khoản 3: trường hợp một khách hàng có nhiều hơn 1 khoản nợ với tổ chức
tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ
chức tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó
vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Khoản 4: Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại) mà tổ
chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy
giảm thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào
các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 theo quy định này, tỷ lệ nợ
xấu / tổng dư nợ là một tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh rõ nhất về chất lượng cho vay của ngân
đồng vốn của Ngân hàng bỏ ra đã được sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm
chi phí, tạo ra lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
• T9JEP)%)
Là một chỉ tiêu quan trọng để xem xét chất lượng tín dụng hộ sản xuất. Chỉ
tiêu này phản ánh tần suất sử dụng vốn được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi – Thuế
Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn
của Ngân hàng cũng như hiệu quả của đồng vốn đó mang lại.
?2&BG12 HHI8& %
- GQ.
Doanh số cho vay HSX
Tổng số lượt HSX vay vốn
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất. Số tiền vay
càng cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay càng tăng lên. Điều đó
21