§¹i Häc KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở địa bàn nông
thôn. Trong những năm vừa qua ngành nông nghiệp nước ta đã có sự chuyển
biến vượt bậc cả về năng suất và chất lượng. Vị trí và vai trò của kinh tế nông
nghiệp nông thôn đã được khẳng định trong các giai đoạn phát triển kinh tế
của đất nước.nghị quyết 10 của bộ chính trị 1986 đã khẳng định: Hộ nông dân
là đơn vị kinh tế tự chủ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất
nước.Vị trí của hộ sản xuẩt trong việc phát triên kinh tế hàng hoá nông nghiệp
là vô cùng quan trọng, nó là nguồn lưc dồi dào cung cấp lương thực, thực
phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đồng thời nó là thị
trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, tạo công ăn việc làm, tận
dụng nguồn lao đông trong nông thôn thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triểnvà
góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội.
Cùng với việc đổi mới của nền kinh tế đất nước, hệ thống NHNo&PTNT
Việt Nam nói chung và chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn nói riêng đã
xác định rõ một trong những khách hàng lớn của mình là hộ sản xuất. Với đặc
điểm là một huyện miền núi kinh tế còn nhiều khó khăn, dân tri thấp, đời sống
nhân dân còn nhiều khó khăn, các hoạt động thương mại ít, chủ yếu là các hộ
sản xuất nông nghiệp và buôn bán nhỏ lẻ thế nên nguồn vốn tín dung do ngân
hàng cung cấp có một vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của địa phương nói riêng và nâng cao đời sống nhân dân nói riêng.
Song một thực tế hiện nay là quan hệ tín dụng giữa chi nhánh NHNo&PTNT
Huyện Văn Bàn với các hộ sản xuất còn nhiều hạn chế và bất cập, vô hình
chung đã làm kìm hãm sự phát triển kinh tế của từng hộ sản xuất cũng như
làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy vấn đề đặt ra
lúc này đối với NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn là phải nghiên cứu thực trạng
tìm ra nguyên nhân và các giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để
mở rộng cho vay hộ sản xuất, tăng cường huy động vốn, nâng cao chất lượng
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 1
§¹i Häc KTQD
- Làm dịch vụ các dự án tín dụng quốc tế.
- Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền nhanh trong và ngoài nước.
- Kinh doanh ngoại tệ.
Trụ sở đặt tại: số 20 tổ dân phố số 8 thị trấn Khánh Yên huyện Văn Bàn
thành phố Lào Cai.
Điện thoại :020882135
Fax : 020882235
2. Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Văn Bàn.
2.1-Lịch sử ra đời.
Từ Ngân hàng Nhà Nước huyện Văn Bàn hoạt động trong cơ chế kế hoạch
hoá tập trung bao cấp thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ và tách thành ngân hàng
Nông nghiệp huyện Văn Bàn từ năm 1988 theo quyết định số 280/QĐ-NHNo
02 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam. Và chi nhánh NHNo&PTNT
huện Văn Bàn được thành lập từ ngày 19/6/1998 theo quyết số 340/QĐ-
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 3
§¹i Häc KTQD
NHNo-02 của TGĐ NHNo&PTNT Việt Nam, là đơn vị trực thuộc chi nhánh
NHNo&PTNT tỉnh Lào Cai, hoạt đông theo luật tổ chức tín dụng và điều lệ
của NHNo&PTNT Việt Nam.
Trong suốt thời gian hoạt động từ cơ chế hạch toán tập trung chuyển sang
cơ chế hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm và đối mặt với nền kinh tế thị
trường cạnh tranh sôi động, chi nhánh đã không tránh khỏi những khó khăn
trở ngại trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ ngân hàng theo cơ chế mới.
Không chịu bó tay với bất cứ khó khăn nào, bằng ý chí vươn lên từ nội lực
của cán bộ công nhân viên, có sự chỉ đạo chặt chẽ của NHNo&PTNT Việt
Nam, NHNo tỉnh Lào Cai. NHNo huyện Văn Bàn đã từng bước lập lại thế chủ
động, hoà nhập với cơ chế thị trường, nâng cao năng lực trong kinh doanh và
ngày càng phát triển ổn định trong kinh doanh dịch vụ tiền tệ ngân hàng, góp
phần trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ từ công tác đào tạo cán bộ đến kết quả kinh
Tuy nhiên không bằng lòng với kết quả đạt được, NHNo huyện Văn Bàn sẽ
tiếp tục phát huy phấn đấu cao hơn nữa chất lượng hoạt động kinh doanh, đặc
biệt chú ý đến chất lượng tín dụng góp phần phát triển, xây dựng kinh tế
huyện nhà nói riêng và Đất nước nói chung với mục tiêu “Hiệu quả an toàn và
phát triển”.
2.2- Các giai đoạn phát triển chủ yếu
* Giai đoạn từ 1988 – 1990
Đây là giai đoạn thanh lập – Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam
đã ra đời với chức năng là một ngân hàng chuyên doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn. Đây là một lĩnh vực, một địa bàn trọng điểm của đất nước
với nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu
GDP và là khu vực kinh tế chiếm hơn 85% dân số nước ta
Trong giai đoạn này hoạt động của NHPTNN huyện Văn Bàn vẫn do ngân
hàng Nhà nước điêu hành trực tiếp. Trong bối cảnh kinh té xã hội và điều kiện
hoạt động như thế NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn đã gặp rất nhiều kho khăn
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 5
§¹i Häc KTQD
nhưng vẫn đứng vững và tạo dựng nền móng để tồn tại và phát triển, từng
bước xây dựng mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ.
*Giai đoạn từ 1991 - 1996
Năm 1990 là năm đanh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình đổi mới của
nghành ngân hàng. Thang 5/ 1990 hai pháp lệnh ngân hàng ra đời khẳng định
hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng Nhà nước với chức năng ngân hàng
trung ương, là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng, là ngân háng phát
hành đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam. Các
ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng theo cơ chế thị trường trong khuôn khổ của pháp luật
NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn trong giai đoạn này bắt đầu gia đoạn phát
triển mạnh mẽ vơi nhiều sản phẩm và dịch vụ mới cũng như chủ động hơn
trong hoạt đông của mình. Cuối năm 1991 được sự chấp thuận của ngan hàng
NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn , có con dấu riêng, có nhiệm vụ thực hiện một
phần nghiệm vụ của chi nhánh cấp 2 và theo uỷ quyền của NHNo&PTNT Việt
Nam . Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh :
* Chức năng:
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 7
Phòng
Kế toán tài vụ
Phòng
Tín dụng
Phòng
Vi tính
Văn phòng
Phòng
Giao dịch kinh
doanh tổng hợp
Giám đốc
- Phó giám đốc phụ trách kinh tế tài chính và công
tác đoàn thể
- Phó giám đốc phụ trách tín dụng
Ngân hàng cấp 3 – xã Võ Lao
§¹i Häc KTQD
- Trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo phân cấp của
NHNo&PTNT Việt Nam trên địa bàn theo địa giới hành chính
- Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo uỷ
quyền của tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
- Thực hiện các được giao và thừa lệnh của tổng giám đốc NHNo&PTNT
Việt Nam.
* Nhiệm vụ:
- Huy động vốn.
các hình ảnh làm tư liệu phục vụ cho việc trực tiếp kinh doanh của chi nhánh
cũng như việc quảng bá thương hiệu của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Chấp hành đầy đủ các báo cáo, thống kê theo chế độ quy định và theo
yêu cầu đột xuất của tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
- Thực hiện các nghiệm vụ khác do hội đồng quản trị, tổng giám đốc
NHNo&PTNT Việt Nam giao.
III - Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn
1 - Đặc điểm về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng
* Các sản phẩm và dịch vụ truyền thống của ngân hàng:
- Thực hiện mua bán và trao đổi ngoại tệ: Ngân hàng đứng ra mua bán
một loại tiền chẳng hạn như USD lấy một loại tiền khác như “France” Pháp
hay “Yên” Nhật và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với
khách hàng là các nhà kinh doanh trên lĩnh vực thương mại đặc biệt là ngoại
thương, khách du lịch cũng cần đến dịch vụ này vì ho sẽ cảm thấy thoải mái
hơn nếu có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay địa phương họ đến.
- Tín dụng: Với nguồn vốn to lớn huy động được từ nền kinh tế ngân
hàng đầu tư cho các doanh nghiệp và các nhu cầu tín dụng khác trong nền
kinh tế kể cả cho vay tiêu dùng. Nhờ sự chuyển hoá này mà hiệu quả đồng
tiền phát huy được cả từ hai phía.
- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Quá trình luân chuyển
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 9
§¹i Häc KTQD
hàng hoá, các doanh nghiệp có thể thực hiện thanh toán với nhau bằng cách
ghi nợ qua thương phiếu còn người bán thì bán các giấy tờ đó cho ngân hàng
để thu tiền về còn ngân hàng thu được chiết khấu thương phiếu.
- Nhận tiền gửi: Là hình thức huy động vốn cho vay.
- Thanh toán: Công nghệ ngân hàng hộ trợ thanh toán trong từng quốc
gia và hình thanh mạng thanh toán quốc tế toàn cầu qua hệ thống SWIFT.
- Bảo quản vật có giá cho khách hàng trong điều kiện an toan tuyệt đối
và hoàn toàn bí mật.
tế cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá.
Một số dân tộc ở vùng cao chủ yếu làm nương rẫy, ruộng nước rất ít, sản
xuất chủ yếu là tự cung tự cấp, một số bộ phận có tập quán du canh du cư,
phương thức canh tác còn lạc hậu, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Do đặc
điểm của một huyện miền núi có đến 17/22 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn
được nhà nước đầu tư chương trình 135, hơn nữa lại có nhiều dân tộc với
phong tục tập quán lâu đời trong sản xuất và sinh hoạt nên quá trình chuyển
nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá còn gặp nhiều khó
khăn. Song với tinh thần đoàn kết một lòng, nhiều chủ trương chính sách của
Nhà nước ban hành hợp với ý Đảng lòng dân nên 11 dân tộc em trên địa bàn
huyện Văn Bàn đã quyết tâm vượt lên mọi khó khăn trước mắt để thoát khỏi
đói nghèo. Trên cơ sở phát huy thế mạnh về nông lâm nghiệp, đẩy mạnh tiến
độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp với vùng sinh thái, dần
dần hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, áp dụng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật về giống, lấy tham canh hiệu quả là chính, mở rộng diện
tích cây đặc sản như quế, thảo quả… nhằm không ngừng nâng cao mức thu
nhập của nhân dân .
Về cây lương thực: tổng sản lượng cây lương thực đạt khoảng 27.810 tấn
đạt 105.2% so với kế hoạch.
Trong đó:
- Lúa đạt sản lượng là21.387 tấn đạt 106,6% kế hoạch.
- Ngô đạt 6.423 tấn đạt 109,9% kế hoạch.
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 11
§¹i Häc KTQD
- Đậu tương đạt 570 tấn đạt 129% kế hoạch.
- Cây ăn quả trồng được 14,5 ha.
Về chăn nuôi: đẩy mạnh chăn nuôi đưa chăn nuôi lên thành nghành sản
xuất chính: phát triển nhanh các loại gia súc như trâu, bò, dê; phát triển đàn
lợn giống thuần chủng, hướng hộ gia đình chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm nhìn
chung ổn định, phát triển tốt:
tế, vừa đảm bảo tính pháp lý và nhất là các mối quan hệ tín dụng. Các mối
quan hệ này có sự đan xen và ràng buộc lẫn nhau cả về chủ thể cũng như cơ
cấu ngành nghề. Hộ sản xuất là thành phần tương đối phức tạp nó đòi hỏi
trong quá trình hoạt động phải có sự linh hoạt và mềm dẻo trong tất cả các
khâu của quá trình thực hiện. Để đạt được điều đó kà cả một vấn đề còn nhiều
khó khăn và vướng mắc, nó cần có sự hợp tác của nhiều cơ quan, ban ngành
khác nhau, trước hết phải tạo ra sự chuyển biến về nhận thức của bà con nông
đân với quan hệ tín dụng, đồng thời phải hoàn thiện các chính sách, tạo điều
kiện để chủ thể kinh tế (hộ sản xuất) có quan hệ tín dụng với ngân hàng thuận
tiện hơn, trên cơ sở nguyên tắc vay trả sòng phẳng, đúng hạn trả gốc và lãi.
Do vậy trong những năm qua tại chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn
đã rất coi trọng chất lượng tín dụng và đã thực hiện cho vay trực tiếp đến hộ
san xuất. Văn Bàn có địa hình là đồi núi, có rất nhiều xã vùng cao đi lại khó
khăn do đó nhiều khi người dân không thể đến ngân hàng để vay vốn. Nhưng
không vì khó khăn đó mà ngân hàng chịu bó tay, các cán bộ tín dụng của ngân
hàng đã mang vốn tới từng hộ dân, giúp họ có vốn để làm ăn đồng thời còn
giúp họ sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả nhất. Ngoài ra ngân hàng
còn thực hiện khoán cho từng cán bộ tín dụng các chỉ tiêu cho vay – thu nợ -
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 13
§¹i Häc KTQD
dư nợ - và tỷ lệ nợ quá hạn, có chế độ thưởng phạt nghiêm minh. Từ đó
khuyến khích được cán bộ tín dụng phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ
chuyên môn, khả năng giao tiếp, thận trọng trong khi thẩm định, lựa chọn
khách hàng và quyết định cho vay. Để thu hút được khách hàng và đầu tư có
hiệu quả, chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn luôn cố gắng phấn đấu
khẳng định uy tín của mình, kết cấu cho vay hợp lý. Và kết quả cho vay hộ
sản xuất đạt được trong những năm qua từ 2004 – 2006 của chi nhánh
NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn được thể hiện qua bảng sau:
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 20006 Tổng số
đã phát huy hiệu quả gần như là tối đa trên tổng nguồn vốn. Ngân hàng luôn
chủ động tạo điều kiện cho hộ sản xuất kinh doanh thuận lợi nên dư nợ quá
hạn không cao,tránh được rủi ro về nguồn vốn. Cán bộ tín dụng của ngân hàng
luôn giám sát chặt chẽ nguồn vốn của mình nên hộ sản xuất phải đầu tư có
hiệu quả và họ đã phát huy sức mạnh của mình trong sản xuất kinh doanh nhờ
thế họ cũng thấy được hiệu quả từ nguồn vốn ngân hàng mang lại.
Do những chính sách như lãi xuất cho vay hợp lý, ưu đãi, thủ tục nhanh
chóng gọn gàng nên ngân hàng đã đạt được những kết quả như chỉ tiêu và kế
hoạch đề ra, mặt khác thì ngân hàng đã áp dụng các biện pháp mở rộng cho
vay cũng như bám sát mục tiêu phát triển kinh tế của huyện uỷ, uỷ ban nhân
dân huyện để đầu tư đúng hướng chỉ đạo đề ra. Một mặt NHNo&PTNT
Huyện Văn Bàn cũng đã pá dụng một cách uyển chuyển quyết định
67/1999/QĐ.TTg, Quyết định 148 của chính phủ về cải tiến thủ tục cũng như
điều kiện tài sản thế chấp khi cho vay tạo điều kiện cho các hộ sản xuất vay
vốn được thuận tiện.
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 15
§¹i Häc KTQD
1.2. Tình hình thu nợ hộ sản xuất
Đây là hoạt động quan trọng quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng. Nhận
thức được điều đó cán bộ tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Văn
Bàn đã tích cực trong công tác thu hồi nợ, kết quả được thể hiện qua bảng sau:
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
Thu nợ ngắn hạn 5.980 5.650 10.230
Thu nợ trung-dài hạn 11.457 17.933 21.472
Tổng số tiền 17.437 23.583 31.702
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Văn
Bàn các năm 2004-2006.
Năm 2004 thu nợ của ngân hàng là 17.437 triệu đồng, một kết quả tốt trong
giai đoạn kinh tế địa bàn có nhiều biến động. Sang năm 2005 thu nợ của ngân
2005 tổng dư nợ hộ sản xuất là 46.511 triệu đồng tăng 11.967 triệu đồng so
với năm 2004 tương ứng tăng 34,6%. Đến năm 2006 thì dư nợ hộ sản xuất tiếp
tục yăng cao tổng dư nợ hộ sản xuất đạt 58.725 triệu đông tăng 12.214 triệu
đồng so với năm 2005 tương ứng tăng 26,3%.
Nhìn chung việc giải ngân nguồn vốn tuy chưa đều nhưng do biết phát huy
những thế mạnh của mình nên ngân hàng và hộ sản xuất đã có quan hệ chặt
chẽ với nhau để cùng phát huy tối đa nguồn vốn tín dụng đã được giải ngân.
2. Thực trạng chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện
Văn Bàn.
2.1. Tình hình nợ quá hạn đối với hộ sản xuất.
Trong kinh doanh ngân hàng tất yếu không tránh khỏi những bất trắc rủi ro
xẩy ra và nợ quá hạn là hiện tượng thường xuyên xảy ra ở bất cứ loại hình cho
vay nào. Vơi đặc thù đa số hộ sản xuất nông nghiệp, một trong những nghành
kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu và bị thiẹt hại lớn
bởi thiên tai, dịch bệnh. Do đó làm cho nhiều hộ sản xuất thua lỗ trong kinh
Mộc Đức Mạc – KDTH45A 17
§¹i Häc KTQD
doanh vì việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn bị chậm
trễ từ đó thiếu khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Chính vì thế các Ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh
NHNo&PTNT Huyện Văn Bàn nói riêng cần có những biện pháp hữu hiệu để
hạn chế tình trạng nợ quá hạn. Cụ thể phải thực hiện phân tích đánh giá chính
xác về khách hàng, phân tích dự án vay vốn của khách hàng(tính pháp lý và
tính khả thi của dự án). Hiện nay tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng và mức rủi ro tín dụng ngân hàng, nó thể hiện
qua bảng số liệu sau:
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
Tổng dư nợ 34.544 46.511 58.725
Nợ quá hạn 137 282 391