Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc, căn bản và toàn
diện sau khi thực hiện công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Với sự khuyến khích phát triển mọi thành
phần kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo động lực lớn cho sự phát triển kinh tế
xã hội. Cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình kinh tế khác, lúc này
kinh tế hộ sản xuất mới thực sự khẳng định được mình. Sự phát triển của kinh tế
hộ sản xuất đã mang lại những kết quả to lớn cho nền kinh tế nói chung và lĩnh
vực nông nghiệp nông thôn nói riêng. Một thành tựu quan trọng phải kể đến là
từ một nước phải nhập khẩu lương thực, giờ đây Việt Nam đã trở thành một
trong ba nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn nhất thế giới. Trong tình hình thực
tế hiện nay, hộ sản xuất là đơn vị kinh tế chủ yếu cung cấp các sản phẩm tiêu
dùng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó phát triển kinh tế hộ sản xuất là
yêu cầu cần thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế trước mắt và trong tương lai.
Một trong những yếu tố quan trọng cần thiết cho quá trình phát triển kinh
tế hộ sản xuất là sự trợ giúp về vốn của các ngân hàng thương mại. Với tư cách
là người bạn đồng hành của nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua,
NHNo & PTNT Việt Nam với các chi nhánh của mình đã và đang là kênh
chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ sản xuất, góp phần tạo công ăn việc làm giúp
nông dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình.
Tuy nhiên do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, chi
phí nghiệp vụ cao, địa bàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp
nhiều khó khăn. Vì vậy, thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHNo gặp khó khăn
trong hoạt động tín dụng đối với loại hình này, chất lượng tín dụng còn nhiều
vấn đề chưa tốt. NHNo&PTNT Hà Tây cũng không tránh được khó khăn này
khi mà khách hàng có quan hệ với Ngân hàng đa số là hộ nông dân (chiếm tỷ lệ
71% trong tổng dư nợ).
Chính vì lý do này cộng với những kiến thức đã học và qua thời gian thực
tập NHNo & PTNT Hà Tây, em đã chọn chuyên đề " Một số giải pháp nâng
Tín dụng ra đời, thời kỳ này lãi suất cao do sản xuất hàng hoá chưa phát triển,
Nhà nước chưa có sự điều tiết đối với quan hệ tín dụng nên người cho vay tự ấn
định mức lãi suất.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường
đã hình thành và phát triển nhiều loại hình sở hữu, có sự phân công lao động, tổ
chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Luôn luôn tồn tại một thực tế là ở bất kỳ
một thời điểm nào trong nền kinh tế cũng xảy ra hiện tượng thừa vốn hay thiếu
vốn tạm thời do tính chất mùa vụ, chu kỳ kinh doanh. Người thiếu vốn cần vay
để giải quyết nhu cầu, người thừa vốn lại muốn cho vay ra để tăng thêm lợi
nhuận. Đây chính là tiền đề tạo ra quan hệ tín dụng.
Vậy tín dụng là gì?
Có quan niệm cho rằng, “tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng
trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn
trả theo thời hạn đã thoả thuận”.
Tuy nhiên, sự phát triển và biến đổi là hết sức đa dạng và phong phú.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, có rất nhiều cách thức loại hình
của nghiệp vụ tín dụng. Việc đưa ra một khái niệm như thế sẽ là gò bó và không
linh hoạt. Vì vậy khái niệm tín dụng chỉ nên đưa ra một cách đơn giản như sau:
“Tín dụng là quan hệ vay mượn, sử dụng vốn của nhau một cách tạm thời
dựa trên nguyên tắc có hoàn trả và sự tin tưởng”.
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu tín dụng theo một số khía cạnh như sau:
Thứ nhất, quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn và sử dụng vốn của nhau
giữa các chủ thể kinh tế. Vốn ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng trong đó bao
hàm cả tiền và tài sản. Các chủ thể có thể là hai hoặc nhiều bên cùng tham gia
vào hoạt động tín dụng - điều này giải thích khái niệm đồng tài trợ.
Thứ hai, vốn này chỉ được sử dụng một cách tạm thời nghĩa là có thời
hạn. Thời hạn ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên. Và khi hết
Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra được
hiệu quả xã hội.
Trên cơ sở đó, khi cho vay, ngân hàng phải tính toán cân nhắc để vừa đảm
bảo không vi phạm luật, vừa giải quyết được đầu ra. Để thực hiện được điều này
các ngân hàng phải nghiên cứu kỹ về tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài
chính, mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Đây chính là các cơ sở chủ yếu
cho việc đảm bảo chất lượng tín dụng. Như vậy chất lượng được hình thành và
đảm bảo từ hai phía: ngân hàng và khách hàng.
Và như thế, hoạt động tín dụng sẽ mang lại hiệu quả khi mà nó càng ngày
càng thực hiện được nhiềm món vay có chất lượng cao, góp phần tích cực cho
sự phát triển không chỉ riêng cho bản thân ngân hàng mà là cả sự phát triển của
nền kinh tế xã hội. Hiệu quả hoạt động tín dụng ngày càng cao thể hiện mức độ
đóng góp của hoạt động ngân hàng đối với xã hội ngày càng lớn. Điều đó cũng
có nghĩa hoạt động tín dụng hiệu quả khi nó đạt được sự tăng trưởng quy mô và
nằm trong tầm quản lý của ngân hàng để giữ ổn định chất lượng tín dụng. Trong
cơ chế thị trường hiệu quả hoạt động tín dụng là điều kiện tiên quyết cho sự tồn
tại và phát triển của ngành ngân hàng mà trước hết là các tổ chức tín dụng là nơi
trực tiếp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
2. Phân loại tín dụng
Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiên, căn cứ vào một số các tiêu thức mà người ta có thể phân loại các loại hình
như sau:
a- Phân loại theo mục đích:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp
thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại là cho vay ngắn hạn để bổ xung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
nghiệp như cà phê, điều...
- Cho vay dài hạn là loại cho vay mà thời hạn của nó là dài hơn đối với
cho vay trung hạn. Loại hình tín dụng này được cung cấp để đáp ứng nhu cầu
dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn
xây dựng xí nghiệp nhà máy mới, các dự án đầu tư phát triển như cơ sở hạ tầng.
- Nghiệp vụ cho vay truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho
vay ngắn hạn nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng đã chuyển sang
kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ ngân hàng.
c. Phân loại theo căn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối vói
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh,
quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn
thu nợ bổ xung.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với
khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có
bảo đảm. Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ
hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền
vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.
d. Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay.
Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hoàn trả theo các cách sau:
+Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và lãi theo định kỳ ( khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kì nợ).
+Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ
hạn thoả thuận( Trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn).
+Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể
cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản
xuất và lưu thông hàng hoá phát triển .
*Chức năng phản ánh tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền
kinh tế.
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín
dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp nhạy bén tình hình hoạt động của
nền kinh tế.Do đó tín dụng còn là một công cụ quan trọngcủa Nhà nước để kiểm
soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định, phát triển kinh tế.
Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt,gắn liền với việc
phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể
phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là một lĩnh vực khá rộng, bao quát một không gian nhiều chiều
(ngang dọc, trên dưới, trong ngoài) của chính sách tiền tệ quốc gia. Hệ quả của
hoạt động tín dụng có quan hệ biện chứng với tiến trình vận hành chiến lược
phát triển kinh tế -xã hội và hội nhập thị trường thế giới. Xét về tầm quản lý vĩ
mô, tín dụng là một phạm trù gắn chặt với xu hướng “tạo tiền”, sự tạo tiền này
sẽ được xoá đi khi hoàn trả tín dụng đến hạn. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng
đóng vai trò rất quan trọng:
+Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả.
+Tín dụng ngân hàng là công cụ của Nhà nước điều tiết khối lượng tiền tệ
lưu thông trong nền kinh tế.
+Tín dụng ngân hàng thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của
nền kinh tế .
+Tín dụng ngân hàng góp phần bình ổn giá cả trong nền kinh tế .
+Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, mở rộng quan hệ lưu thông hàng hoá quốc tế.
+Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của hộ sản xuất nói trên là các ngành nông,
lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp ở nông thôn, thị trấn, thị xã
ven đô và thường khi nói đến hộ sản xuất thì người ta thường nghĩ đến hộ nông
dân là chủ yếu vì hộ nông dân chiếm phần lớn dân số cả nước và chiếm đa số
lực lượng lao động trên toàn lãnh thổ.
* Khái niệm tín dụng hộ sản xuất.
Tín dụng hiểu theo các đơn giản là quan hệ kinh tế trong đó "người này"
chuyển cho "người khác" quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật. Với
những điều kiện mà hai bên thoả thuận (về số lượng hay mục đích sử dụng, thời
hạn hoàn trả, phương thức hoàn trả, lãi phải trả, đảm bảo). Tuỳ từng chủ thể để
tham gia quan hệ tín dụng mà người ta phân thành tín dụng thương mại, tín dụng
ngân hàng... Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là
ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế và dân cư. Nó bao gồm hai mặt
hoạt động chính là huy động vốn và cho vay. Do đặc điểm riêng của mình, tín
dụng ngân hàng có ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời
hạn và phạm vi đầu tư. Nguồn vốn của ngân hàng là tiền nên thích hợp với mọi
đối tượng xin vay nên có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác
nhau. Vì lý do trên tín dụng ngân hàng là hình thức quan trọng nhất trong các
hình thức tín dụng hiện tại và là hình thái tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị
trường.
Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là quan hệ tín dụng giữa một bên
là ngân hàng và một bên là hộ sản xuất. Hình thức tín dụng này đã có từ lâu trên
thế giới nhưng ở Việt Nam nó chỉ thực sự xuất hiện khi có nghị quyết 10 của Bộ
chính trị với sự thừa nhận quyền tự chủ của thành phần kinh tế cá thể. Sau khi
được thừa nhận và cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường kinh tế hộ
sản xuất đã phát triển nhanh chóng và đã đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế
nói chung, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Có được thành công trên phải nói
hội những sản phẩm, hàng hoá mà họ sản xuất ra, đồng thời mua từ thị trường
những thứ mà họ cần. Để đạt được điều đó thì các hộ sản xuất cần nhiều vốn để
mua vật tư, đầu tư đổi mới kỹ thuật, mua hạn sắm máy móc thiết bị. Trong khi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó vốn tự có của các hộ rất hạn chế, cho nên các hộ sản xuất cần đến sự trợ giúp
của ngân hàng để mở rộng sản xuất.
Xét trên một khía cạnh khác thì sự chuyên môn hoá sản xuất dẫn tới tình
trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm chưa có hàng hoá bán thì
chưa có thu nhập nhưng họ cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất,
mua sắm, đổi mới công cụ sản xuất. Trong trường hợp này các hộ sản xuất cần
có sự trợ giúp của ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục.
Hơn nữa trong điều kiện nước ta hiện nay cơ cấu kinh tế nói chung và cơ
cấu sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng còn ở trong tình trạng mất
cân đối. Do đó tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất,
hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
nguyên vật liệu.
Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.
2. Thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó
góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn
Tại một thời điểm nhất định trong xã hội luôn xuất hiện những nguồn tiền
tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời xuất hiện những tổ chức
kinh tế, cá nhân cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của các ngân hàng là
tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để cho các đơn vị cá nhân tạm thời đang thiếu
vốn vay. Tuy nhiên quá trình đầu tư tín dụng này không phải là rải đều cho các
chủ thể có nhu cầu về vốn để duy trì, mở rộng sản xuất mà phải thực hiện một
cách tập trung. Ngân hàng chủ yếu tập trung đầu tư tín dụng cho các hộ sản xuất
kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế phát triển của
đoạn tới chính phủ cần tập trung đầu tư, hỗ trợ cho nông nghiệp như việc nâng
cấp cơ sở hạ tầng ở nông thôn và các điều kiện, yếu tố cần thiết khác cho sản
xuất nông nghiệp như trạm bơm điện, hệ thống thủy lợi, cải tiến công cụ lao
động.
Ngoài việc chú trọng đầu tư cho các ngành kinh tế kém phát triển, tín
dụng ngân hàng còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các ngành kinh
tế mũi nhọn để tạo cơ sở thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển như sản xuất hàng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất khẩu, bưu điện viễn thông, dầu khí...
4. Tín dụng ngân hàng góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nông
thôn.
Một trong những đặc điểm quan trọng của sản xuất nông nghiệp là mang
tính thời vụ cao nên tại thời điểm chưa thu hoạch được nông phẩm chưa có hàng
hóa để bán người nông dân thường ở trong tình trạng thiếu thu nhập để đáp ứng
các nhu cầu chi tiêu tối thiểu tạo điều kiện để nạn cho vay nặng lãi hoành hành.
Đặc biệt cơ bản của tín dụng cho vay nặng lãi là lãi suất cho vay rất cao, mục
đích sử dụng vốn vay chủ yếu là phục vụ các nhu cầu thiếu yếu trong sinh hoạt.
Lãi suất cho vay cao là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hộ sản xuất đã khó khăn
lại càng khó khăn hơn và không bao giờ có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn đó
được. Như vậy nạn cho vay nặng lãi không những không thúc đẩy sản xuất phát
triển mà còn kìm hãm sản xuất, đẩy nông dân đến chỗ nghèo túng hơn, gây ra
những tiêu cực ở nông thôn.
Đứng trước tình hình trên, ngân hàng đã nắm bắt được thực tế và tiến
hàng cho vay hộ sản xuất tốt hơn. Để tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp xúc với
vốn vay, ngân hàng tới tận tay các thôn xóm phục vụ nhu cầu vay vốn. Khi
nguồn vốn tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất, tiêu
dùng của các hộ sản xuất thì nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn sẽ không còn cơ
hội để tồn taị. Tín dụng ngân hàng cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất cùng với
chế độ lãi suất ưu đãi không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất mà còn
ngân hàng, hộ sản xuất phải thực hiện đầy đủ các cam kết đã ghi trong hợp đồng
tín dụng tức là phải đảm bảo trả nợ đúng hạn và các điều kiện khác. Như vậy để
sản xuất kinh doanh có hiệu quả, để có đủ lợi nhuận trang trải lãi vay ngân hàng,
hộ sản xuất phải thực hiện hạch toán kinh tế.
Bằng việc đầu tư tín dụng cho các hộ sản xuất, ngân hàng đã tạo điều kiện
cho họ làm quen và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế. Sở dĩ như vậy là vì bất
cứ hộ sản xuất nào muốn tồn tại và phát triển, muốn thị trường chấp nhận sản
phẩm hàng hoá của mình cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi
phí sản xuất. Đặc biệt trong trường hợp hộ sản xuất có sử dụng vốn vay ngân
hàng thì lại càng cần phải tiến hành hạch toán kinh tế, tính toán sao cho đồng
vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nhất để sau khi trả nợ gốc và lãi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vay ngân hàng các hộ sản xuất vẫn có phần thu nhập của mình.
Tóm lại tín dụng ngân hàng đã thực hiện việc kiểm soát bằng đồng tiền
đối với sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất, thông qua đó thúc đẩy hộ sản xuất
thực hiện hạch toán kinh tế, làm cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
6. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận và mở rộng sản
xuất hàng hoá
Một trong những đặc điểm quan trọng của hộ sản xuất là thường mang
tính gia đình, các thành viên trong hộ thường có quan hệ huyết thống. Chịu ảnh
hưởng nặng nề của đặc điểm này, các hộ sản xuất thường quen với phương thức
tự cấp, tự túc. Mọi sản phẩm làm ra chỉ để phục vụ cho nhu cầu của chính bản
thân họ và ngược lại họ chỉ tiêu thụ những sản phẩm do bản thân mình làm ra.
Ngoài ra còn có một yếu tố nữa là khiến hộ sản xuất không có khả năng tiếp cận
với nền kinh tế hàng hoá đó là sự hạn chế về vốn sản xuất. Với khả năng vốn tự
có eo hẹp, các hộ sản xuất chỉ có khả năng tổ chức sản xuất ở qui mô nhỏ, chỉ đủ
đáp ứng nhu cầu của bản thân họ.
Cùng với việc mở rộng đầu tư tín dụng cho hộ sản xuất, ngân hàng đã tạo
ra một bước chuyển quan trọng trong phương thức sản xuất của hộ sản xuất.
Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo. Sau khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống của nông dân đã được cải thiện rõ
rệt, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ sản xuất, đặc biệt là ở vùng
cao, vùng xa, các hộ gia đình chính sách vẫn ở trong tình trạng không đủ ăn. Tín
dụng ngân hàng với lãi xuất ưu đãi dành cho các hộ sản xuất đã đóng góp đáng
kể vào quá trình thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo của chính phủ.
Tín dụng ngân hàng góp phần làm giảm bớt tệ nạn xã hội. Trong quá trình
thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần. Các thành phần kinh tế
quốc doanh, tập thể, cá thể đều được tự do kinh doanh theo đúng pháp luật. Sự
phát triển của nền kinh tế thị trường làm cho số người giàu tăng lên rất nhanh
nhưng đồng thời mức độ nghèo đói của một số hộ nghèo cũng có xu hướng tăng.
Kết quả là hố sâu phân cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tất yếu sẽ nảy sinh
nhiều vấn đề tiêu cực, tệ nạn xã hội có điều kiện phát triển. Tín dụng ngân hàng
tạo thêm công ăn việc làm cho hộ sản xuất, tăng thu nhập, hạn chế bớt những
phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững nền tảng an ninh chính trị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tín dụng ngân hàng góp phần củng cố lòng tin của nhân dân nói chung và
của hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước.
Tóm lại ngân hàng có vai trò to lớn đối với hộ sản xuất cả về mặt kinh tế
lẫn chính trị, xã hội. Để tín dụng ngân hàng đến được với hộ sản xuất, các ngân
hàng phải tự hoàn thiện mạng lưới tổ chức, biện pháp nghiệp vụ của mình để
đáp ứng một cách thuận tiện, kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuất, toạ điều kiện
thuận lợi cho hộ sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài những nỗ lực của
bản thân ngân hàng, Nhà nước và các ngành các cấp có liên quan cũng cần phải
xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp, tạo môi trường kinh doanh thuận tiện
cho các ngân hàng để quan hệ giữa ngân hàng và hộ sản xuất ngày càng được
mở rộng và có hiệu quả hơn.
IV. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN
XUẤT
mong muốn.
Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cũng không nằm ngoài
khái niệm chất lượng tín dụng nói chung. Có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân
hàng đối với hộ sản xuất là vốn cho vay của ngân hàng được hộ sản xuất đưa
vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... tạo ra một số tiền lớn hơn đủ để
hoàn trả gốc và lãi, trang trải chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp các điều kiện
của ngân hàng và của nền kinh tế - xã hội.
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ sản xuất.
Do mức vốn vay bình quân của hộ sản xuất nhỏ, đa số các hộ sản xuất có
tài sản ít nên những khoản vay ngân hàng phải làm ăn có hiệu quả thì mơí có
khả năng trả nợ ngân hàng. Vì vậy để xem xét chất lượng tín dụng ngân hàng
đối với hộ sản xuất, nói chung ta chỉ quan tâm đến góc độ ngân hàng. Để đánh
giá chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất thường người ta sử dụng những chỉ
tiêu sau:
* Các chỉ tiêu định lượng.
- Chỉ tiêu 1:
Doanh số cho vay BQ 1 hộ =
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất. Số tiền càng
cao chứng tỏ hiệu quả cho vay tăng lên, thể hiện mức sản xuất cũng như quy mô
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất tăng lên, thể hiện mức sản xuất
cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất tăng lên.
- Chỉ tiêu 2:
Tỉ lệ dư nợ trung dài hạn HSX =
Tỷ lệ này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn của hộ sản
xuất để mở rộng sản xuất trong kinh doanh. Theo đánh giá, tỷ lệ tối thiểu là 30%
tổng dư nợ (mục tiêu của NHNNo & PTNT Việt Nam). Tuy vậy tỷ lệ có thể cao
thấp tùy thuộc nhu cầu vốn trung dài hạn tại địa phương cũng như tín dụng của
từng chi nhánh NHNo.
cũng là chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng tín dụng.
= - Chi phí cho vay HSX
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Chất lượng tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng chúng
ta có thể phân thành 3 nhân tố: ngân hàng, khách hàng và môi trường.
a- Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng.
* Chính sách của ngân hàng:
+ Chính sách của ngân hàng do ban lãnh đạo vạch ra, đó là hệ thống có
liên quan đến việc khuyếch trương hay hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã
hoạch định hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng.
+ Đó là việc tập trung đầu tư, nghiên cứu từng nhóm khách hàng mà
trêncơ sở đó có những chính sách, cách giải quyết đối với từng nhóm khách
hàng nhất định.
Như vậy chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào việc xây dựng chính
sách tín dụng của ngân hàng .
* Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính cũng
như sản xuất kinh doanh của khách hàng nói chung và hộ sản xuất nói riêng.
Thông tin tín dụng có thể được khai thác trực tiếp từ khách hàng, từ bạn hàng
của khách hàng, từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụng trong và ngoài nước.
Số lượng, chất lượng của thông tin tín dụng thu nhập được có liên quan đến mức
độ chính xác trong phân tích tín dụng, thông tin càng đầy đủ nhanh nhạy, chính
xác và toàn diện thì càng tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro do đó chất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lượng tín dụng được nâng cao.
* Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong quá
trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng. Nó được bắt
đầu từ khi chuẩn bị cho vay, kiểm tra quá trình cho vay đến khi thu được nợ. Sự
hiện tại và phát triển trong tương lai. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới
nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ sản phẩm,
mức độ chiếm lĩnh trên thị trường của sản phẩm, các quan hệ tài chính, vay vốn,
trả nợ với khách hàng, bạn hàng của ngân hàng. Uy tín chỉ được khẳng định và
kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường.
Như vậy nhân tố này ảnh hưởng đến khả năng rủi ro do chủ quan của
khách hàng gây nên: rủi ro về đạo đức, về thiếu năng lực, trình độ, kinh nghiệm,
khả năng thích ứng với thị trường... ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất
kinh doanh của hộ sản xuất, do đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân
hàng.
* Năng lực tài chính của khách hàng.
* Phương án vay vốn.
Phương án vay vốn, có khả năng thực thi càng cao thì rủi ro càng thấp khả
năng trả nợ của khách hàng được đảm bảo do đó chất lượng tín dụng cũng được
đảm bảo.
* Đảm bảo cho khoản vay.
Có nhiều loại bảo đảm cho một khoản vay ngân hàng. Tuy nhiên bất cứ
loại bảo đảm nào để được ngân hàng chấp nhận phải cần thoả mãn 3 yêu cầu:
+ Dễ được định giá.
+ Dễ cho ngân hàng quyền được sở hữu hợp pháp.
+ Dễ tiêu thụ hay thuận tiện sử dụng.
Bảo đảm có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Trực tiếp khi nó được khách
hàng ký thác để đảm bảo cho chính mình, gián tiếp khi nó được một người
khách ký thác để đảm bảo cho khách hàng, có 3 loại đảm bảo thường được
dùng:
- Cầm cố, chiết khấu thương phiếu.
- Bảo đảm bằng thế chấp tài sản.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Bảo đảm bằng sự bảo lãnh.