Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Bưu chính Viễn thông - Pdf 26

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
MỤC LỤC
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 23
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG LÀ MỘT DOANH NGHIỆP TRONG HỆ
THỐNG CỘNG ĐỒNG CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG
TỪ NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 2002 24
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 63
63
HÀ NỘI, NGÀY … THÁNG …. NĂM 2011 63
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
LỜI NÓI ĐẦU
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào
cũng phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng. Vốn chính
là tiền đề của sản xuất kinh doanh. Song, việc sử dụng vốn như thế nào để có
hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng của mỗi doanh
nghiệp.Vì vậy, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là những vấn đề đang
được Chính phủ, Ngân hàng và các Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Trước đây, trong cơ chế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp được Nhà
nước cấp phát vốn, lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù nên hiệu quả sản xuất
kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn không được các doanh nghiệp
quan tâm thích đáng. Ngày nay khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp phải tự đối mặt với những biến động của thị trường, với sự cạnh
tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Muốn có được hiệu
quả cao trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp
để huy động và sử dụng vốn sao cho hợp lý. Đây là việc làm cần thiết, cấp
bách và có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp cũng như đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân .
Xuất phát từ vai trò của Vốn và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đối với doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Qua thời gian được học ở trường, được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi một quan điểm đều có
cách tiếp cận riêng; và qua các giai đoạn phát triển của nền kinh tế, khái niệm
về vốn của doanh nghiệp dần được hoàn thiện.
Theo K.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu
vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn,
nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã
quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho
nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nhà khoa học đại diện
cho các trường phái khác nhau đã bổ sung cho quan điểm của Marx các yếu tố
mới cũng được coi là vốn.Tiêu biểu là Paul.A.Samuelson - Nhà kinh tế học
theo trường phái “tân cổ điển” đã kế thừa các quan niệm của trường phái “cổ
điển” về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
xuất thành 3 bộ phận là đất đai, lao động và vốn . Theo ông, vốn là hàng hoá
được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới. Sau đó, định nghĩa về
vốn của Samuelson đã được bổ sung bởi nhà kinh tế học David Begg.Theo
ông vốn bao gồm có vốn hiện vật (các hàng hoá dự trữ, để sản xuất ra hàng
hoá khác) và vốn tài chính (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp).
Nhìn chung, Samuelson và Begg đều có một quan điểm cơ bản thống nhất là
các vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, quan
điểm này cho thấy vốn vẫn bị đồng nhất với tài sản của doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Kinh tế học hiện đại, vốn sản xuất kinh doanh là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá
trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
*Các đặc trưng cơ bản của Vốn được thể hiện như sau :
Thứ nhất, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là
vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và vô hình của doanh
nghiệp.

nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì
nhất thiết cần phải có lượng vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà
nước hay còn gọi là vốn pháp định. Lượng vốn này nhiều hay ít phụ thuộc
vào loại hình doanh nghiệp của doanh nghiệp đó.
Thứ hai, Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh một cách liên tục và hiệu quả. Nếu doanh nghiệp thiếu
vốn kinh doanh sẽ dẫn tới việc sản xuất đình trệ, không đảm bảo thực hiện các
hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để thanh toán với nhà cung
ứng, ; thậm chí dẫn đến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và phá sản.
Thứ ba, Vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để phân loại doanh
nghiệp theo quy mô.Việc doanh nghiệp được xếp vào loại lớn,trung bình,hay
doanh nghiệp nhỏ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến từng khâu trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư, Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản tạo nên vị thế của doanh nghiệp
so với các đối thủ cạnh tranh.Để đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh, đảm
bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải năng
động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến
quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành. Điều đó đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có nhiều vốn.
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Thứ năm, Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và kiểm tra hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc xác định các chỉ tiêu tài chính như: hiệu
quả sự dụng vốn, hệ thống thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và cơ
cấu phân phối sử dụng vốn…giúp nhà quản lý nhận biết được trạng thái vốn trong
các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, qua đó có thể phát hiện ra các khuyết
tật và nguyên nhân của nó để có sự điều chỉnh phù hợp.
Qua việc phân tích 5 vai trò cơ bản trên, ta có thể thấy được vấn đề sử
dụng vốn sản xuất kinh doanh như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động

- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp,
tức là số vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của nhà
nước giao.
- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh
với nhau để thực hiện hoạt động thương mại hoặc dịch vụ .
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước
bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp của
các thành viên, hoặc do bán trái phiếu
- Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà
doanh nghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như
ngân hàng, các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người bán
Ngoài ra, còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng,
khách hàng và bạn hàng.
* Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn.
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành hai loại là vốn thường
xuyên và vốn tạm thời.
- Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn
của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động
đầu tư mang tính dài hạn của doanh nghiệp.
- Vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại vốn theo nội dung Kinh tế:
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn sản xuất kinh doanh vận
động một cách liên tục và biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau,
từ tiền mặt đến tư liệu lao động, hàng hoá dự trữ Sự khác nhau về mặt vật
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị

động vận chuyển sản phẩm, hàng hoá do quá trình kinh doanh tạo ra.
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Thiết bị và dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị
điện tử
Các loại tài sản cố định khác: là những loại tài sản cố định chưa được liệt
kê vào các loại trên.
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tài sản cố định được chia thành:
Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh: là những tài sản
cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất
kinh doanh phụ của công nghiệp như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương
tiện vận tải
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc
phòng: là những tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý và sử dụng vào các
hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, đảm bảo an ninh quốc phòng của doanh
nghiệp.
Tài sản cố định của doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc
nhà nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Căn cứ vào thực trạng sử dụng: Tài sản cố định được chia thành
Tài sản cố định đang sử dụng: là những tài sản cố định của doanh nghiệp
đang sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động phúc lợi, sự
nghiệp an ninh quốc phòng của doanh nghiệp.
Tài sản cố định chưa cần sử dụng: là những tài sản cố định cần thiết cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song
hiện tại chưa cần sử dụng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.
Tài sản cố định không cần sử dụng: là những loại tài sản không cần thiết
hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần
được thanh lý, nhượng bàn để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu

ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải
thu, các khoản tạm ứng ).
+ Phân loại theo hình thái biểu hiện thì vốn lưu động có thể chia thành hai
loại:
Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm
Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ,
tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
khoán ngắn hạn
Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức
tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
+ Dựa trên quan hệ sở hữu,người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và
định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần
trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên
doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp
Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay
các nhân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua
phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh
nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được
hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ đó có
các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn,

tăng giá tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác như nâng cao uy tín sản
phẩm trên thị trường, nâng cao chất lượng môi trường làm việc, Khi hoạt
động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở
rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm và mức sống cho người lao
động cũng ngày càng được cải thiện.Điều này đi đôi với việc năng suất lao
động tăng lên,tạo đà cho doanh nghiệp tiếp tục phát triển. Đồng thời nó cũng
làm tăng các khoản đóng góp của doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan và nó
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đối với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, đặc biệt ở giai đoạn phát triển nền
kinh tế thị trường, trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế thế giới.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Doanh nghiệp
1.2.2.1. Chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất
người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như: hiệu quả sử dụng toàn
bộ vốn, doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu. Trong đó:

SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
-Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn :

Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một
đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, vì vậy nó càng lớn càng tốt.
- Doanh lợi vốn :
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Nó phản ánh khả
năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Nó cho biết một đồng vốn đầu tư đem

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
thanh toán ngắn hạn, số vòng quay các khoản phải thu…. Tuy nhiên như ta
đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp được phân làm hai loại là vốn cố
định(VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ). Do đó, các nhà phân tích không chỉ
quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng vốn của tổng nguồn vốn mà
còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguốn vốn
của doanh nghiệp đó là VCĐ và VLĐ.

1.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đầu tư vào việc mua sắm
và sử dụng tài sản cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp càng cao.
- Hàm lượng vốn cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu thuần trong
kỳ thì doanh nghiệp cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này
ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Vì vậy, chỉ tiêu này càng
nhỏ càng thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản cố định càng cao.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
13
Hiệu suất sử dụng vốn
cố định
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn cố định sử dụng
bình quân trong kỳ
=
Hàm lượng vốn
cố định

SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
14
Số vòng quay
vốn lưu động
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
=
Thời gian một vòng
luân chuyển
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay vốn
=
Hiệu quả sử dụng
vốn cố định
Lãi thuần trong kỳ
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
=
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
- Hàm lượng vốn lưu động:
Chỉ tiêu này cho biết để thu được một đồng doanh thu thuần thì số vốn
lưu động mà doanh nghiệp phải bỏ ra là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng nhỏ
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao.
- Tỷ lệ sinh lời của VLĐ:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh
nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả. Do đó, chỉ tiêu này càng cao
càng tốt.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp
1.3.1. Những nhân tố chủ quan

giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, tránh sử dụng vốn một cách không
hợp lý, qua đó đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra liên tục và hiệu quả .
Yếu tố chi phí
Chi phí là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn. Khi chi
phí đầu vào tăng lên, doanh nghiệp buộc phải tăng giá cả hàng hóa dịch vụ
đầu ra, dẫn đến khối lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ giảm xuống, từ đó
làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy, để tồn tại và phát
triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp luôn
phải tìm cách giảm chi phi, hạ giá thành sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh
để thu hút khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình; hàng hoá được tiêu thụ
nhanh sẽ làm tăng vòng quay sử dụng vốn, đem lại hiệu quả sử dụng vốn tốt
hơn cho doanh nghiệp .
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các ngành sản xuất
kinh doanh khác nhau có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật
như: tính chất ngành nghề, tính thời vụ và chu kỳ kinh doanh.
Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề tới hiệu quả sử dụng vốn thể hiện
ở quy mô, cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô, cơ cấu vốn khác
nhau sẽ ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể
thức thanh toán chi trả do đó ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng vốn và
khả năng đảm bảo nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
nghiệp. Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính thời vụ
thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quỹ trong năm thường có sự biến động lớn,

17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
toán đúng. Bởi vì, nếu đầu tư vốn quá mức hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn
đến tình trạng lãng phí vốn của doanh nghiệp.Nếu đầu tư quá ít sẽ khiến
doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng các đơn đặt hàng, từ đó có thể mất
thị trương do không đủ sản phẩm bán ra. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp không
có quyết định đầu tư đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ sản xuất,
doanh nghiệp có thể bị tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh,đánh mất thị
phần,dẫn tới thua lỗ phá sản
Năng lực quản lý của doanh nghiệp
Năng lực quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở hai mặt : năng lực quản lý tài
chính và năng lực quản lý sản xuất. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu
nhà quản lý doanh nghiệp không có những phương án sản xuất phù hợp,
không bố trí hợp lý các khâu, các trình độ lao động, các giai đoạn sản xuất sẽ
gây lãng phí nguồn lực, vốn, vật liệu Điều đó có nghĩa là năng lực quản lý
của doanh nghiệp yếu kém và sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Trong quản lý tài chính, nhà
quản trị tài chính phải xác định được nhu cầu vốn kinh doanh, phải bố trí cơ
cấu hợp lý, không để vốn bị ứ đọng, dư thừa, phải huy động đủ vốn cho sản
xuất. Nếu cơ cấu vốn không hợp lý, vốn đầu tư lớn các tài sản không sử dụng
hoặc ít sử dụng, vốn trong quá trình thanh toán bị chiếm dụng sẽ làm tăng chi
phí sản xuất, làm giảm khả năng luân chuyển vốn Điều đó có nghĩa là năng
lực quản lý hành chính yếu kém và tất yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng
vốn.
Nói tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình, lĩnh vực kinh
doanh cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp mà mức độ và xu
hướng tác động của chúng tới doanh nghiệp có thể giống hoặc khác nhau. Do
đó, việc nhận thức đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn sẽ
giúp doanh nghiệp có những biện pháp kip thời, hữu hiệu để nâng cao hiệu

không thể phủ nhận. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trương thuận lợi
cho doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và
hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chỉ
một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng có
những tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng của doanh nghiệp. Để thấy rõ hơn
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
tác động của các chính sách kinh tế của nhà nước đến hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp,ta phân tích một số chính sách cơ bản sau:
- Chính sách lãi suất : Lãi suất tín dụng là một công cụ để điều hành lượng
cung cầu tiền tệ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Lãi suất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu doanh
nghiệp không có cơ cấu vốn hợp lý, hoạt động sản xuất kinh doanh không
hiệu quả thì hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là phần vốn vay sẽ bị giảm sút. Ở
nước ta , Nhà nước ổn định mức lãi cơ bản và đưa ra biên độ giao động đối
với lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Theo đó, nếu lãi suất tiền gửi cao
chứa đựng yếu tố tích cực là giúp cho việc phân phối lại thu nhập trong quảng
đại quần chúng nhưng lại là việc khó khăn cho việc huy động vốn đầu tư sản
xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Chính sách tỷ giá : Tỷ giá hối đoái vừa phản ánh sức mua của đồng nội
tệ, vừa biểu hiện cung cầu về ngoại tệ.Qua đó, điều tiết nền sản xuất qua việc
thúc đẩy hoặc hạn chế sản xuất hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu. Mặt khác,
tỷ giá hối đoái cũng tác động đến thu nhập của doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Nếu tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ cao sẽ kích thích xuất khẩu,
làm tăng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và ngược lại. Do đó, khi tỷ giá
thay đổi, nhiều doanh nghiệp thu lãi nhưng cũng có không ít doanh nghiệp
phải bù lỗ.
- Chính sách thuế : Thuế là công cụ quan trọng của nhà nước để điều tiết

quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của mình.
Mức độ lạm phát
Lạm phát cao là nguyên nhân trực tiếp làm tăng chi phí nguyên vật liệu,
chi phí nhân công, chi phí thuê mua kho bãi, chi phí vận tải và nhiều loại chi
phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc
tăng giá sản phẩm đầu ra để bù đắp những thay đổi về chi phí đầu vào là tất
yếu, tuy nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi. Do đó, tỉ lệ lạm phát cao có
thể làm giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí thu hẹp thị trường tiêu thụ , làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sử dụng
vốn như thế nào cho hợp lý để có thể đối phó với mức lạm phát cao liên tục,
đặc biệt với trường hợp lạm phát phi mã và siêu lạm phát luôn là vấn đề lớn
được các doanh nghiệp đặt ra khi xây dựng chiến lược kinh doanh của mình.
Rủi ro bất thường trong kinh doanh
Rủi ro luôn là một yêu tố tồn tại song song với các cơ hội trong hoạt động
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp . Doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều
loại rủi ro khác nhau như : Rủi ro tài chính (rủi ro do sử dụng nợ vay), rủi ro
trong quá trình sử dụng tài sản, vận chuyển hàng hoá (mất mát, thiếu hụt
,hỏng hóc ),rủi ro về thị trường tiêu thụ, rủi ro lien quan đến nguồn cung ứng
đầu vào, … Ngoài ra còn có các rủi ro mà nguyên nhân xuất phát từ môi
trường tự nhiên, như bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, sóng thần, nước
biển dâng, trái đất “nóng” lên, Mặc dù việc dự đoán, dự báo các rủi ro này
là khó, tuy nhiên đó đều là các hiện tượng thiên nhiên hoạt động theo quy luật
nhất định , do đó, các doanh nghiệp cũng có thể chủ động phòng tránh hoặc
lựa chọn giải pháp thích hợp.
Những rủi ro này điều dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất vốn , mất uy tín
và mất bạn hàng trong sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Vốn điều lệ: 3.000.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Ba tỷ đồng).
Với nghành nghề chính là tư vấn thiết kế, thi công xây lắp, cung cấp
thiết bị, dịch vụ chuyên nghành Bưu chính Viễn thông.
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
SV:Nguyễn Đức Thành Lớp: TCDN – K39(BVH)
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status