Bài giảng về KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
QUYỂN 1:
Tài liệu này được sao chép từ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ BẢO
VỆ CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP
(CÁC BÀI CƠ BẢN) Lưu hành nội bộ do Tổng cục An ninh - Bộ công an
soạn thảo năm 2004
MỤC LỤC: gồm. 6 bài và phụ lục: tài liệu tham khảo
BỘ CÔNG AN
CÔNG TY CP DV BẢO VỆ TISTCO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bài : Một số kiến thức cơ bản về pháp luật cần thiết đối
với
lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp
Đào tạo: Cán bộ làm công tác bảo vệ các cơ quan, doanh nghiệp
I. Vị trí bài học:
Bài: Một số kiến thức cơ bản về pháp luật cần thiết đối với lực lượng bảo vệ cơ quan,
doanh nghiệp là bài học thuộc phần các bài cơ bản hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ cơ quan,
doanh nghiệp trong chương trình đào tạo vệ sĩ thuộc Công ty CP DV Bảo vệ Sao Vàng.
Bài học nhằm trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về pháp luật làm cơ sở cho
việc nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả cho công tác sau này.
II. Mục đích yêu cầu:
lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp
Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra đường lối, nhiệm vụ của cách mạng
nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Một trong những nhiệm vụ đó là xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ
quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp
hành Hiến pháp và pháp luật. Lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh
nghiệp cũng phải nắm vững pháp luật có liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ của mình để vận dụng thực hiện trong công tác, biết sử
dụng pháp luật như một vũ khí đấu tranh chống tội phạm.
I Nhận thức chung về Pháp luật
1 Khái niệm về Pháp luật:
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước và pháp luật
là phạm trù lịch sử, là sản phẩm của xã hội có giai cấp.Trong đấu
tranh giai cấp, khi giai cấp thống trị giành được chính quyền thì
thiết lập nhà nước của giai cấp mình và ban hành pháp luật để quản
lý xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp.
Pháp luật nói chung là hệ thống những quy tắc xử sự do nhà nước
đặt ra hay thừa nhận, bảo đảm thực hiện bằng ý chí của giai cấp
thống trị, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp
với lợi ích của giai cấp mình.
Pháp luật của nhà nước ta (Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam) là
hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, do nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban
hành và bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, trên cơ sở
giáo dục, thuyết phục mọi người tôn trọng thực hiện, là nhân tố điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
2 Các thuộc tính của pháp luật là: có 3 thuộc tính:
- Pháp luật do nhà nước ban hành để bảo vệ quyền lợi của giai
triển về mọi mặt. Hiện nay Nhà nước ta đang từng bước đưa giáo
dục pháp luật vào giảng dạy trong các trường học từ phổ thông đến
giáo dục đại học. Chính phủ lập hội đồng tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật.
4 Hệ thống pháp luật Việt Nam:
Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật
có mối liên hệ nọi tại thống nhất với nhau, được phân định thành
các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các
văn bản do nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình
thức nhất định. Các ngành luật trong hệ thống pháp luật
Việt Nam hiện nay gồm: Luật Nhà nước (Hiến pháp); Luật hành
chính, Luật lao động, luật đất đai, luật tài chính, ngân hàng, luật
hôn nhân gia đình, luật dân sự, luật hình sự, luật Tố tụng hình
sự….
Văn bản pháp luật của Nhà nước ta hiện nay phân theo thẩm quyền
ban hành và hiệu lực pháp lý gồm:
- Hiến pháp, Bộ luật, Luật: Do Quốc Hội ban hành và có hiệu lực
cao nhất.
- Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội;
- Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ.
- Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
- Quyết định, chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ.
-Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
- Nghị quyết, Thông tu liên tịch giữa các cơ Quan nhà nước có
thẩm quyền, giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức
chính trị - xã hội.
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, Chỉ thị của
Các hình phạt (điều 28) gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
a Hình phạt chính gồm:
+ Cảnh cáo
+ Phạt tiền
+ Cải tạo không giam giữ
+ Trục xuất
+ Tù có thời hạn
+ Tù chung thân
+ Tử hình
b Hình phạt bổ sung gồm:
+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định.
+ Cấm cư trú
+ Quản chế
+ Tước một số quyền công dân
+ Tịch thu tài sản
+ Phạt tiền, khi không áp dụng hình phạt chính.
+ Trục xuất, khi không áp dụng hình phạt chính.
1.3 Khái niệm về trách nhiệm hình sự:
Là trách nhiệm của một người đã thực hiện một tội phạm phải chịu
một biện pháp cưỡng chế của nhà nước là hình phạt đối với việc
phạm tội của họ. Hình phạt này được quyết định nhân danh nhà
nước và phản ánh sự lên án của nhà nước đối với kẻ phạm tội. Điều
2 Bộ luật Hình sự nêu rõ: Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ
luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
1.4 Khái niệm về phòng vệ chính đáng (điều 15 Bộ LHS):
* Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của
nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình
hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiếtngười
đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
phạm tội quả tang là:
- Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện;
- Ngay sau khi thực hiện tội phạm thi bị phát hiện;
- Kẻ phạm tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện
tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.
Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy
trốn. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn, về thời gian so với hành vi
chạy trốn, thì không được bắt quả tang mà có thể bắt theo trường
hợp khẩn cấp.
b Việc bắt người đang bị truy nã:
Đang bị truy nã là trường hợp kẻ phạm tội đang lẩn trốn, đã có lệnh
truy nã của cơ quan điều tra.
c Về thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
nã:
Bộ luật TTHS quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người
đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
d Về thủ tục:
- Việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã không cần
lệnh của cá nhân, cơ quan, tổ chức nào. Mọi công dân đều có
quyền bắt và có quyền tước vũ khí của người bị hại.
- Sau khi bị bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã phải
giải ngay đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân
dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay
người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2.2 Quy định về khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản trong
hoạt động TTHS:
Việc này do người có thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam
quy định tại điều 62 Bộ luật TTHS quyết định. Lực lượng bảo vệ
cơ quan, doanh nghiệp chỉ được quyền khám xét trong trường hợp
phạm tội quả tang nhằm tước vũ khí, thu giữ tài liệu vật chứng…
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành
chính.
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm
hành chính gây ra hoặc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
- Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh
do vi phạm hành chính gây ra.
- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa,
vật phẩm, phương tiện.
- Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi
và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại.
=> Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác (điều 22 PL),
gồm:
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
- Đưa vào trường giáo dưỡng
- Đưa vào cơ sở giáo dục
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh.
- Quản chế hành chính.
3.4 Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc
xử lý vi phạm hành chính:
Được quy định tại chương V Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
(từ điều 43 đến điều 52), gồm:
- Tạm giữ người;
- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
- Khám người
- Khám phương tiện vận tải, đồ vật.
- Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
- Bảo lãnh hành chính;
- Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời
gian làm thủ tục trục xuất.
- Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường
Bộ Công an hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký tạm trú và tạm vắng.
4.2 Thông tư số 06/TT/BNV (C13) ngày 20/6/1997 của Bộ Nội vụ
(nay là Bộ Công an) hướng dẫn đăng ký tạm trú, tạm vắng như
sau:
4.2.1 Đăng ký quản lý tạm trú:
a. Đăng ký tạm trú:
- Đối tượng phải đăng ký tạm trú là những người bắt đầu tuổi 15
trở lên (kể cả quân nhân và công annhân dân khi ra ngoài doanh
trại) ở lại qua đêm ngoài phạm vi phường, xã, thị trấn nơi thường
trú của mình với bất kỳ lý do gì đều phải trình báo tạm trú với công
an phường, xã, thị trấn hoặc đồn công an nơi đến.
Trường hợp cha, mẹ, vợ, chồng, con, thường đến tạm trú ở nhà
nhau thì khai báo lần đầu trong năm.
-Khi có người đến tạm trú thì chủ hộ gia đình, giám đốc khách sạn
hoặc người phụ trách nhà trọ, nhà khách, nhà ở tập thể trực tiếpư
hoặc cử người đến trình báo tạm trú tại các điểm đăng ký tạm trú,
tạm vắng của công an phường, xã, thị trấn hoặc đồn công an sở tại
trước 23 giờ. Nếu khách đến sau 23 giờ thì trình báo vào sáng hôm
sau trước lúc khách đi.
Thủ tục trình báo gồm:
Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác của người tạm
trú;
Khai “Phiếu tạm trú, tạm vắng”.
Cán bộ trực tại điểm đăng ký tạm trú, tạm vắng phải kiểm tra đối
chiếu giữa nội dung ghi trong phiếu đăng ký tạm trú, tạm vắng với
giấy tờ của khách, sau đó ký xác nhận vào phần phiếu cấp cho
người trình báo.
b. Đăng ký quản lý tạm trú có thời hạn:
- Đối tượng và thẩm quyền cấp giấy (hoặc sổ) đăng ký tạm trú có
thời hạn (sau đây gọi tắt là giấy) quy d định tại điều 15 Nghị định
nhận của công an nơi thường trú có xác nhận vào “phiếu khai báo
thay đổi nhân khẩu, hộ khẩu” là người của địa phương đi học
(không cấp giấy chứng nhận chuyển đi).
+ Hợp đồng lao động (đối với người lao động có hợp đồng).
Chứng nhận của chính quyền địa phương nơi người đó thường trú
xác nhận là người của địa phương hoặc giấy báo tạm vắng để đi
làm ăn sinh sống.
Các loại giấy tờ trên đương sự hoặc người đại diện cơ quan, tổ
chức, cơ sở sử dụng lao động hoặc cơ sở cho chứa trọ trực tiếp
mang đến cơ quan công an nơi có thẩm quyền để xem xét cấp giấy
tạm trú có thời hạn.
- Những vấn đề cần chú ý:
Các đối tượng được cấp giấy nêu trên nếu giấy hết thời hạn, người
tạm trú còn tiếp tục ở lại thì phải đến công an nơi cấp giấy xin gia
hạn hoặc cấp lại giấy khác. Quá trình sử dụng nếu thay đổi nơi tạm
trú, mục đích tạm trú, giấy mất, hư hỏng… thì đương sự phải trình
báo và làm thủ tục xin cấp lại.
+ Giấy tạm trú có thời hạn không thay thế sổ hộ khẩu gia đình hoặc
giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể, mà chỉ xác nhận việc tạm trú
hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân làm ăn, sinh
sống.
+ Người được cấp giấy (hoặc sổ) tạm trú có thời hạn phải nộp một
khoản lệ phí theo quy định.
Những vấn đề cụ thể khác về đăng ký quản lý nguời tạm trú có thời
hạn do Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát nhân dân hướng dẫn
chi tiết.
4.2.2 Đăng ký, quản lý tạm vắng:
a. Những người từ 15 tuổi trở lên có việc riêng đi vắng qua đêm
khỏi quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú thì phải khai báo tạm vắng.
chuyên dùng cho các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong
luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng
thể thao nói trên.
c. Súng săn gồm: các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ,
tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, súng hỏa
mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng
cho các loại súng kể trên.
d. Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại
đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc chất cứng, cung, nỏ,côn
các loại và các loại khác do Bộ nội vụ quy định.
5.2 2. Vật liệu nổ công nghiệp bao gồm: các loại thuốc nổ và phụ
kiện gây nổ (kíp nổ, ngòi nổ, dây nổ….) dùng trong sản xuất công
nghiệp và các mục đích dân dụng khác.
3. Công cụ hỗ trợ gồm: các loại roi cao su, roi điện, gây điện,
găng tay điện; lựu đạn hơi cay, ngạt độc, gây mê, bình xịt hơi cay,
ngạt, độc, gây mê, súng bắn đạn nhựa, cao su, súng bắn laze; súng
bắn đinh, súng bắn từ trường và các loại công cụ hỗ trợ khác.
Về quản lý vũ khí quân dụng:
Theo điều 8, điều 13 quy chế thì lực lượng bảo vệ chuyên trách của
một số cơ quan, xí nghiệp nhà nước được trang bị vũ khí quân
dụng. Người được giao giữ, sử dụng vũ khí quân dụng phải có
trách nhiệm và chứng chỉ đã được huấn luyện bảo quản, sử dụng và
biết sử dụng thành thạo vũ khí được giao, có phẩm chất đạo đức
tốt, có sức khỏe phù hợp. Khi thi hành công vụ có mang vũ khí
phải kèm theo giấy phép sử dụng. Khi chuyển công tác khác, nghỉ
hưu, thôi việc, chuyển ngành… thì phải nộp lại cho cơ quan, đơn
vị. Trường hợp mất vũ khí, mất giấy phép sử dụng phải báo ngay
cho cơ quan công an sở tại và cơ quan cấp giấy phép.
5.3 Quản lý vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ:
Theo điều 38 và 40 quy chế thì: Ban, đội bảo vệ chuyên trách của
lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh
vực khác mà nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị
tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Phạm vi bí mật nhà nước được chia làm 3 mức độ: Tuyệt mật, Tối
mật, Mật.
6.2 Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, tổ chức và Chủ tịch
UBND các cấp về công tác bảo vệ bí mật nhà nước:
- Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định
của pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản pháp luật
khác có liên quan.
- Ban hành và tổ chức thực hiện nội quy bảo vệ bí mật nhà nước ở
đơn vị, địa phương mình.
- Xác định cụ thể bí mật nhà nước ở đơn vị, địa phương mình làgì
để tổ chức công tác bảo vệ.
- Bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
- Tuyên truyền, giáo dục những người thuộc quyền quản lý của
mình nâng cao trách nhiệm, cảnh giác và nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
- Thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
theo quy định của Chính phủ.
6.3 Bảo vệ bí mật Nhà nước trong một số lĩnh vực cụ thể:
- Nội dung bí mật Nhà nước nếu truyền đưa bằng phương tiện viễn
thông và máy tính thì phải được mã hóa theo quy định của pháp
luật về cơ yếu. Không sử dụng máy tính đã nối mạng Internet đánh
máy, in sao tài liệu mật.
- Cơ quan tổ chức, công dân Việt Nam tiếp xúc với tổ chức, cá
nhân nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước; khi tiến hành chương trình hợp tác quốc tế có