1
MỞ ĐẦU
Ghẹ xanh là loại thuỷ sản có giá trị kinh kế v à giá trị dinh dưỡng cao, cơ thịt
giàu protein và khoáng ch ất. Trong những năm gần đây, sản l ượng ghẹ khai thác tự
nhiên ngày càng gi ảm nhanh. Trong khi nhu cầu ghẹ tr ên thị trường trong nước
cũng như trên thế giới ngày càng tăng .
Trước tình hình đó, Bộ Thuỷ sản trước đây (nay là Bộ Nông nghiệp v à Phát
triển Nông thôn) đã có chương trình phát triển việc nuôi ghẹ xanh xuất khẩu. Do
vậy nhiều địa phương có biển đã triển khia nghiên cứu nuôi ghẹ xanh. H iện tại ghẹ
xanh được nuôi ở khu vực Hạ Long, Cát B à, Khánh Hoà, Phú Yên, Ninh Thu ận, và
một số huyện đảo v ùng khơi xa, những nơi có nhiều vũng vịnh, nguồn giống tự
nhiên dễ kiếm. Hiện nay người ta đã sản xuất thành công ghẹ giống nhân tạo đây
chính là một điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi ghẹ phát triển.
Tuy nhiên, đến thời điểm này chưa có một loại thức ăn công nghiệp nào được
sử dụng cho nuôi trồng ghẹ xanh. Việc sử dụng ph ương pháp nuôi truy ền thống
nuôi ghẹ bằng các loại cá tạp đem tới rât nhiều nguy c ơ lâu dài cho s ự phát triển bền
vững của nghề nuôi ghẹ như sự ô nhiễm môi tr ường nuôi, sự nhiễm bệnh từ thức ăn
tươi có chất lượng không kiểm soát đ ược, tỉ lệ sống sót của ghẹ trong quá tr ình nuôi
thấp…
Từ những yêu cầu cấp thiết đó, đề t ài đặt vấn đề: “Nghiên cứu đặc điểm dinh
dưỡng và đề xuất hướng sản xuất thức ăn nuôi ghẹ xanh (Portunus pelagicus)
thương phẩm”
Nội dung của đề tài:
1. Tìm hiểu tình hình nuôi ghẹ xanh tại tỉnh Khánh Ho à.
2. Nghiên cứu đặc điểm dinh d ưỡng của ghẹ xanh: tính bắt mồi, loại thức ăn
ưa thích.
3. Nghiên cứu kích cỡ, độ bền của thức ăn ph ù hợp cho ghẹ nuôi th ương
phẩm.
4. Đề xuất quy trình sản xuất thức ăn nuôi ghẹ xanh th ương phẩm.
Mục đích của đề tài:
Đề xuất hướng sản xuất thức ăn công nghiệp có m ùi vị, kích thước phù hợp
sản khác. Sản lượng thu hoạch từ các mô h ình nuôi này không nhi ều khoảng 20
nghìn tấn/ năm, so với nhu cầu l à không đáng kể. Thức ăn chủ yếu sử dụng các loại
cá tạp, nhuyễn thể chân đầu nhỏ, phế phẩm trong các x ưởng chế biến thuỷ sản. Đặc
3
điểm của hình thức nuôi trồng này là phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên 1 năm ở
miền Bắc chỉ nuôi được một vụ vào mùa hè, vào mùa đông do nhi ệt độ quá thấp ghẹ
không sinh trưởng được. Mặt khác, vấn đề con giống cũng l à một khó khăn cho
nghề nuôi ghẹ ở miền Bắc do ch ưa chủ động được nguồn cung cấp con giống.
Ở khu vực miền Trung, Khánh Hoà là một vùng có nhiều lợi thế để phát triển
nghề nuôi ghẹ xanh. Thứ nhất đây một địa phương có nhiều diện tích vũng, vịnh,
đầm nước lợ, đảo, các khu vực n ước có chất lượng tốt còn chưa khai thác và sử
dụng. Thứ hai, người dân Khánh Hoà có kinh nghiệm nhiều năm về nuôi các sản
phẩm thuỷ sản nước mặn, đó là một nhân tố rất quan trọng để phát triển ng ành nuôi
ghẹ. Thứ ba, trong vài năm gần đây việc nuôi tôm sú v à tôm hùm liên ti ếp gặp
nhiều khó khăn do môi trường nuôi tôm lâu năm đ ã chứa nhiều mầm bệnh bị bỏ
hoang, nếu tận dụng những đầm, ao nuôi đó để nuôi ghẹ sẽ tiết kiệm đ ược chi phí
đầu tư ban đầu. Thứ tư, từ năm 1998 Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản
III (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III) đã nghiên cứu thành công đề
tài “ Sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh (Portunus pelagicus )” nên có thể chủ động
hoàn toàn về nguồn giống cũng nh ư kĩ thuật nuôi.
Trong thời gian qua nghề nuôi ghẹ xanh ở Khánh Ho à chưa phát tri ển tương
xứng với tiềm năng vốn có của vùng đất này cũng như cũng như chưa đáp ứng được
nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước và cho xuất khẩu. Ghẹ đ ược nuôi rải rác
ở một vài nơi trong toàn t ỉnh, số lượng không nhiều , không ổn định. Một năm chỉ
nuôi được 7 tháng mùa khô, mùa mưa không th ể nuôi được do ghẹ không thích ứng
được với điều kiện thời tiểt thay đổi nhất l à môi trường nước không đảm bảo. Năm
2006 sản lượng ghẹ xuất khẩu toàn tỉnh là 600 nghìn tấn (Báo cáo Tổng kết xuất
khẩu thuỷ sản của tỉnh năm 2006) đạt hơn 3 triệu USD. Mặc dù yêu cầu cho xuất
khẩu còn cao hơn nhiều so với con số đ ã đạt được. Để đáp ứng nhu cầu tăng đột
biến đó không thể trông đợi v ào những cách nuôi trồng tự phát v à nhỏ lẻ như vậy
vào số phụ bộ trên các đốt: đầu gồm có mắt, anten, và phần phụ miệng. Mai ghẹ to
phía trước có nhiều răng. Tr ước mai có hai hốc mắt có cuống, với hai cặp râu nhỏ
và râu lớn. Trên mai chia thành nhi ều vùng bằng những rãnh trung gian, m ỗi vùng
là vị trí của mỗi cơ quan. Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng và làm
thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gập v ào. Ghẹ đực có 2 lỗ sinh dục nằm ở
gốc của đôi chân b ò thứ 5 và dính vào đó một dương vật ngắn. Ghẹ cái có 2 lỗ sinh
dục nằm ở gốc đôi chân b ò thứ 3.
+ Phần bụng: Phần bụng của ghẹ g ấp lại phía dưới phần đầu ngực v à phần
bụng phân đốt và tuỳ từng gới tính, h ình dạng và sự phân đốt cũng không giống
nhau. Cón cái trư ớc thời kì thành thục sinh dục yếm có h ình hơi vuông. Khi thành
thục, yếm trở nên phình rộng với 6 đốt bình thường.Con đực có yếm hẹp hình chữ
V, chỉ có các đốt 1, 2 v à 6 thấy rõ còn các đốt 3, 4, 5, liên kết với nhau. Đuôi có một
đốt nhỏ nằm ở tận cúng của phần bụng với một lỗ l à đầu sau của ống tiêu hoá. Bụng
ghẹ dính vào phần đầu ngực bằng 2 khuy l õm ở mặt trong của đốt 1, móc vào 2 nút
lồi bằng chitin nằm tr ên ức ghẹ [2].
Đặc điểm dinh d ưỡng.
Tập tính ăn mồi của ghẹ biến đổi theo từng giai đoạn phát triển. Trong giai
đoạn ấu trùng ghẹ con ăn động vật ph ù du. Ghẹ con chuyển dần sang ăn tạp nh ư
rong, tảo, giáp xác, nhuyễn th ể, cá hay ngay cả xác chết động vật. Ghẹ con 2 – 7 cm
chủ yếu ăn giáp xác nhỏ. Ghẹ tiền tr ưởng thành từ 7 – 13 cm (CW) thư ờng ăn nhiều
các động vật hai mảnh vỏ v à phúc túc (động vật chân bụng). Trong khi đó ghẹ lớn
hơn thường ăn cua con, ghẹ con v à cá.
Khả năng sử dụng phổ thức ăn rộng của cua, ghẹ tr ưởng thành là một yếu tố
chính làm cho chúng có th ể phân bố rộng khắp v ùng Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Tập tính dinh dưỡng và sự khéo léo của phần miệng l àm cho ghẹ có thể ăn nhiều
loại nhuyễn thể vỏ cứng v à giáp xác. Tuy nhiên gh ẹ không thích nghi tốt với việc
6
bắt con mồi di động. H ơn nữa, tập tính kiếm ăn của chúng thay đổi theo tuổi. Ghẹ
có tập tính trú ẩn ban ng ày và kiếm ăn vào ban đêm. Nhu c ầu thức ăn của chúng
cũng khá lớn nhưng chúng cũng có khả năng nhịn đói từ 10 – 15 ngày.
Ghẹ ôm trứng
x ử lý chlorin 30 ppm
Bể ương
Ấu trùng ghẹ
Ghẹ bột
Ghẹ giống
1.3. NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GIÁP XÁC [2]
Để động vật nuôi tăng tr ưởng nhanh thì ngoài việc đảm bảo các yếu tố môi
trường (nhiệt độ nước nuôi, pH, S‰, ) việc sử dụng thức ăn cần đảm bảo đầy đủ
các thành phần quan trọng như: Protein, Glucid, Lipid và các chất khác cần thiết
cho sự phát triển và sinh trưởng của cơ thể như vitamin, khoáng ch ất.
Nhu cầu Protein
Trong thành ph ần thức ăn nuôi thủy sản, chất đạm đ ược chú ý nhiều nhất v ì đó
là những chất quan trọng v à đắt tiền nhất trong bất cứ tổ hợp thứ c ăn nào. Động vật
nuôi trong tình tr ạng thiếu protein sẽ dễ nhạy cảm với các bệnh đ ường ruột, bệnh
đường hô hấp, cơ thể chậm lớn do đó hiệu quả kinh tế không cao [7].
Trong tình trạng thiếu dinh d ưỡng, đặc biệt thiếu protein kéo dài s ẽ kéo theo
các triệu chứng thiếu các chất dinh d ưỡng khác gọi là triệu chứng loạn din h dưỡng.
Thiếu protein kéo dài ảnh hưởng đến tình trạng phát triển c ơ thể của giáp xác m à
dấu hiệu đầu tiên dễ nhận thấy nhất l à cơ thể vật nuôi chậm lớn, có thể xảy ra các
rối loạn chức năng và sinh ra bệnh tật.
Theo Kanazawa và Dall Etal thì nhu c ầu Protein của vật nuôi tương đối rộng
từ 15 ÷ 62% tuỳ theo giai đoạn phát triển của nó. Đối với giáp xác ở giai đoạn
thương phẩm thì hàm lượng protein thức ăn khoảng từ 30 ÷ 40 %. Thức ăn trong
giai đoạn này nên sử dụng đạm từ nhiều nguồn gốc khác nhau.
8
Enzyme protease c ủa hệ tiêu hoá của giáp xác chủ yếu ở l à Trypsin và
chymotrypsin, không có pepsin. Việc bổ sung các e nzyme đầy đủ trong thức ăn là
không cần thiết vì giáp xác có kh ả năng tiêu hoá các mảnh vụn hữu cơ do trong ruột
tồn tại hệ vi sinh vật cộng sinh có vai tr ò tiêu hoá.
0.84
1.40
2.16
1.96
1.60
1.60
0.32
1.44
2.12
9
Trong các acid amin không thay th ế thì hàm lượng Lys và Met mà giáp xác
đòi hỏi khá cao. Trong khi các Acid amin này có rất ít trong các nguy ên liệu dùng
để sản xuất thức ăn chăn nuôi. V ì vậy cần phải bổ sung th êm các acid amin này khi
sản xuất thức ăn. Có thể sử dụng các chế phẩm Ly s và Met công nghi ệp với tỉ lệ bổ
sung hợp lí.
Acid amin không thi ết yếu
Là các acid amin có thể được tổng hợp trong c ơ thể do đó khi thiếu chúng
trong thức ăn cơ thể có thể tự tổng hợp để b ù trừ cho sự thiếu hụt n ày nhưng quá
trình đó chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu . Một số acid amin không thi ết yếu như là Gly,
Glu, Ala, Ser, Asp. Riêng có Cys và T yr có thể tái tạo từ Phe gọi l à acid amin bán
thiết yếu. Các acid amin không thiết yếu thường chiếm một tỉ lệ cao trong th ành
phần đạm của thức ăn. Vì vậy nếu trong thức ăn có nhiều loại Protein cùng được sử
dụng một lúc thì chúng có thể bù trừ bổ trợ cho nhau về các thành phần Acid amin.
Nhu cầu Lipid và acid béo
Chất béo là thành phần cung cấp năng l ượng quan trọng c ùng với carbohydrat.
Nếu năng lượng thức ăn quá thấp vật nuôi sẽ sử dụng Protein l àm nguồn cung cấp
năng lượng để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn năng l ượng từ
Protein này sẽ làm cho giá thành th ức ăn tăng cao,do đó cần xem xét kĩ về tỉ lệ giữa
Protein và Lipid. Nhưng n ếu năng lượng trong thức ăn quá cao sẽ l àm cản trở sự
hấp thụ thức ăn của giáp xác v à đó là nguyên nhân khi ến cho chất đạm không được
có hơn 60 Acid béo khác nhau g ồm Acid béo no và các Acid béo không no.
Các Acid béo no thường có mặt trong mỡ động vật tr ên cạn như Trâu, Bò,
Heo…, còn các Acid béo không no có ngu ồn gốc từ thực vật hay động vật biển.
Trong phân tử Acid béo không no có th ể có từ 1, 2 tới 3 nối đôi… Những
Acid béo không no có ho ạt tính sinh học cao th ường là những Acid béo không no
trong phân tử có từ 2 nối đôi trở n ên. Trong mỡ cá và động vật sống dưới biển
thường giàu các Acid béo không no như: Linoleic acid (2 nối đôi), Acid Linolenic(3
nối đôi), Acid Arachidonic (4 nối đôi). Vào trong cơ th ể thì Acid Arachidonic có
hoạt tính sinh học cao nhất. Dầu gan cá hoặc gan mực rất gi àu acid Arachidonic.
Tuy nhiên ngoài m ỡ cá ra, dầu thực vật ho àn toàn không có Acid Arachidonic, còn
trong mỡ động vật thì có nhưng với lượng rất ít. Vì vậy trong chế biến thức ăn cho
giáp xác ở từng giai đoạn phải bổ sung th êm dầu gan cá hoặc gan mực nhằm cung
11
cấp nguồn Acid Arachidonic. Đối với thuỷ sản nuôi th ương phẩm thì lượng Acid
Arachidonic bổ sung khoản từ 1.2 đến 1.5% l à tốt nhất. Trong sản xuất thức ăn
người ta thường sử dụng dầu mỡ động vật thuỷ sản thay cho dầu mỡ của động vật
trên cạn. Nhu cầu Acid béo thiết yếu đối với động vật biển cao h ơn động vật trên
cạn đang trong giai đoạn tr ưởng thành, cho nên việc bổ sung mỡ cá hay dầu gan cá
vào thức ăn cho giáp xác ở các giai đoạn l à rất cần thiết.
Hoạt tính sinh học của mỡ cá đặc biệt cao, không loại n ào sánh bằng. Hàm
lượng Acid Arachidonic trong mô các t ổ chức của cá là 5%, còn trong dầu gan cá là
25% hoặc hơn thế nữa. Nhu cầu các Acid béo thiết yếu đối với động vật thuỷ sản
nói chung khoảng 2% khi nhỏ v à 1% khi đã lớn, tính theo tổng số năng l ượng trong
khẩu phần. Tăng liều l ượng Vitamin B1 trong khẩu phần sẽ giúp cho c ơ thể giáp
xác tổng hợp được một phần Acid béo chưa no thiết yếu. Nhu cầu về Acid béo đối
với giáp xác là rất lớn cho nên sản xuất thức ăn cho giáp xác cần đảm bảo tính cân
đối của Acid béo. Tỉ lệ trong đó là: 10% Acid béo chưa no chứa nhiều nối đôi, 30%
là các Acid béo no và còn 60% là Acid Oleic.
Phospholipid
Là chất rất cần thiết trong th ành phần thức ăn của vật nuôi thuỷ sản, nó ảnh
tổng hợp steroit v à Acid béo. Tinh bột, dextrin, và glycogen từ động vật thân mền
đều được tiêu hoá tốt. Nhưng không phải tất cả các Carbohydrat tiêu hoá được đều
có ý nghĩa. Cellulose cũng đ ược tiêu hoá một phần do chúng có enzyme cellulase.
Lượng cellulose chủ yếu đ ược lấy từ nguồn tảo trong nôi tr ường nuôi.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy glycogen l à nguồn thức ăn tốt đối với
giáp xác, ngoài việc cung cấp lượng tinh bột nó còn được sử dụng trong vai tr ò chất
kết dính trong thức ăn công nghiệp d ùng trong nuôi tr ồng thuỷ sản.
Một số nghiên cứu về nhu cầu chất x ơ trong thức ăn giáp xác đ ược tiến hành
với mục đích phục hồi tốc độ tăng tr ưởng gây nên bởi sự dư thừa Protein trong khẩu
phần ăn bằng cách tăng c ường lượng chất xơ trong thức ăn. Tuy nhiên cần lưu ý,
ống tiêu hoá của giáp xác rất ngắn, nếu l ượng chất xơ trong thức ăn cao, thức ăn sẽ
không dủ thời gian để tiêu hoá, do đó làm gi ảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn.
Glucid theo nhu c ầu của giáp xác nói chung chủ yếu l à tinh bột. Tinh bột là
thành phần dinh dưỡng chủ yếu của các loại ngũ cốc v à đậu. Sự biến đổi của tinh
13
bột trong cơ thể giáp xác cũng không tách dời việc tạo th ành glucoza rồi tạo thành
glucogen là ngu ồn dinh dưỡng cho các cơ quan và hệ thống dưới dạng sinh năng
lượng.
Cellulose là một Glucid thường có mặt bên cạnh tinh bột trong các nguồn
nguyên liệu có chứa tinh bột. C ơ thể giáp xác không sản xuất ra các Enzyme để
phân giải cellulose, nhưng m ột số loại vi khuẩn đ ường ruột của chúng lại có các
Enzyme đó. Vì vậy cellulose ở ruột giáp xác có thể được phân giải, tuy nhi ên lượng
tiêu hoá là không đáng k ể. Đặc biệt là cellulose có ngu ồn gốc từ vỏ của các hạt ngũ
cốc thường không thể tiêu hoá được. Vì vậy trong thức ăn của các loại giáp xác cần
chọn nguồn tinh bột chứa ít chất x ơ.
Nhu cầu Vitamin
Đây là các chất hữu cơ có phân tử lượng thấp, là một thành phần vi lượng
trong các yếu tố dinh dưỡng của động vật thuỷ sản, chúng không c ó khả năng tạo ra
năng lượng cho cơ thể sinh vật như các nhân tố đa lượng nhưng lại có thể đóng vai
trò làm tăng sức sống, tăng khả năng kháng bệnh ở động vật, tăng khả năng chịu
thích đường dẫn cho sự thẩm thấu qua th ành mạch máu của các kháng thể, bạch cầu
và các thành ph ần của hệ thồng miễn dịch, đến n ơi bị xâm nhập của tác nhân gây
bệnh, để tiêu diệt chúng. Mặt khac C có vai trò tổng hợp lên Corticosteroid, đây là
chất có liên quan tới khả năng chống chịu của thuỷ sinh vật với các tác động của
môi trường, của yếu tố dinh dưỡng và cơ học
Nhu cầu chất khoáng.
Vai trò cuả khoáng chất đối với cá v à giáp xác rất đa dạng, chủ yếu đ ược sử
dụng trong quá tr ình tạo hình đặc biệt là vỏ giáp xác, tham gia v ào quá trình tạo
Protit, hoạt hoá Enzyme, điều ho à chuyển hoá nước, duy trì ổn định môi trường bên
trong cơ thể. Trong điều kiện thức ăn có th ành phần luôn khác nhau, sức chịu đựng
của giáp xác rất kém do đó tỉ lệ chết trong v à sau thời kì lột xác là rất lớn.
Các chất khoáng cần thiết đối với c ơ thể giáp xác có thể kể ra đây gồm: Ca, P,
Na, S, Cl, Mg, Fe, Mn, Cu, Zn, Mo, B, và m ột số khoáng vi l ượng khác.
Lượng chất khoáng chiếm 2 – 4% trọng lượng cơ thể giáp xác, một l ượng
khoáng chất đóng vai trò là yếu tố tạo hình. Chất khoáng tham gia v ào tất cả các
15
phản ứng trong c ơ thể. Hoạt tính sinh học của các khoáng thể hiện chủ yếu d ưới
dạng ion hoá.
Cớ thể giáp xác có thể tự sản xuất ra các chất khoáng cần thiết cho chúng. V ì
vậy tất cả các khoáng chất đó không phải l à thành phần bắt buộc trong thức ăn đối
với giáp xác nuôi. Một phần nhỏ khoáng trong môi trư ờng nước có thể được hấp thụ
trực tiếp qua hệ hô hấp của giáp xác.
Hàm lượng khoáng trong thức ăn công nghiệp để nuôi giáp xác không đ ược
thiếu nhưng cũng không nên vượt quá một ngưỡng nhất định.
Trong số các chất khoáng có mặt trong thức ăn nuôi giáp xác th ì Ca và P
chiếm tỉ lệ cao và quan trọng trong việc tạo th ành lớp vỏ chitin, chuyển hoá các chất
Protit, Lipid, Glucid. Vì v ậy khi sản xuất thức ăn cần phải bổ sung th êm các thành
phần là Ca và P dưới dạng chế phẩm.
I.4. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU THỨC ĂN NUÔI GHẸ
XANH THƯƠNG PH ẨM.
Ser
2.5
2.04
1.69
3.09
Glu
11.3
12.68
10.2
12.15
Pro
3.3
2.06
1.57
1.9
Gly
11.9
4.52
3.48
10.97
Ala
3.7
4.45
3.94
5.13
16
Cys
0.3
0
0
2.16
His
1.75
1.15
3.71
1.21
Lys
6.17
4.74
6.86
4.84
Arg
4.85
2.37
1.71
3.24
Bảng 1.4. Hàm lượng các khoáng trong 100g c ơ thịt ghẹ
Ca
2
mg
104
Fe
2
mg
0.911
Mg
2
mg
33
P
Thiamin
mg
0.1
Riboflavin
mg
0.051
Niacin
mg
3.3
Pantothenic acid
mg
0.43
Vitamin B-6
mg
0.18
Tổng
mcg
50.8
Vitamin B-12
mcg
7.3
Vitamin A
IU
6
Tiền Vitamin A
mcg
2
Vitamin E
mg
1
g
0.68
18:2
g
0.029
18:3
g
0.022
18:4
g
0.019
20:4
g
0.084
20:5
g
0.244
22:5
g
0.055
22:6
g
0.231
Cholesterol
mg
100
Từ tổng quan các tài liệu trên có thể nhận thấy:
Thành phần cơ thịt ghẹ gần giống với tôm về tỉ lệ protein cũng nh ư tỉ lệ các
acid amin, riêng về khoáng và Vitamin thì c ơ thịt ghẹ có nhiều h ơn hẳn về hàm
lượng. Do vậy sử dụng bột tôm ở tỉ lệ cao trong thức ăn cho ghẹ nuôi th ương phẩm
béo. Glucid được amilase thuỷ phân thành đường glucose. Quá trình tiêu hoá lipit
thì mật có tác dụng quan trọng . Th ành phần của mật cá cũng t ương tụ như động vật
máu nóng là acid mật có muối mật, không có các enzyme ti êu hoá. Mật có tác dụng
nhũ tương mỡ và hoạt hoá lipase, khích thích ru ột vận động.
Tham gia chủ yếu vào quá trình tiêu hoá hoá h ọc là các tuyến tiêu hoá. Ở cá có
hai tuyến quan trọng nhất l à gan và tuỵ.
19
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tiêu hoá.
Cường độ tiêu hoá của thuỷ sinh vật phụ thuộc v ào hàng loạt các yếu tố nội tại
và sinh thái như:
- Khối lượng thức ăn: kết quả nghi ên cứu của nhiều tác giả cho thấy l à lượng
thức ăn càng nhiều thì sự tiêu hoá càng chậm trễ, mức sử dụng thức ăn c àng thấp.
Lượng thức ăn nhỏ, tốc độ ti êu hoá nhanh hơn, tri ệt để hơn, và enzyme tiêu hoá
ngấm vào thức ăn nhanh hơn.
- Chất lượng thức ăn: chất l ượng thức ăn khác nhau khả năng ti êu hoá thức ăn
giao động từ 70 – 90%.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ: nhiệt độ môi tr ường ảnh hưởng rất nhiều đến sự
tiêu hoá thức ăn. Mức độ tiêu hoá ở các nhiệt độ khác nhau là khác nhau.
- Ảnh hưởng của tuổi: trong thời k ì tăng trưởng thì sự tiêu hóa tăng lên ở
mức độ cao, sự ti êu hoá tăng lên theo m ức độ trưởng thành. Sự phụ thuộc của quá
trình tiêu hoá vào tu ổi rất phức tạp do nhiều nguy ên nhân, trước hết là do sự hoàn
thiện cơ quan tiêu hoá và h ệ enzyme tiêu hoá.
- Sự vận động của ruột: sự vận động của ruột có ảnh h ưởng tới sự tiêu hoá
của thức ăn trong ruột. Sự vận động của ruột cũng t ương tự như ở động vật máu
nóng gồm có 3 hình thức : dao động, nh ào trộn và nhu động. Sự vận động của ruột
làm cho thức ăn ngấm đều enzyme ti êu hoá, giúp cho quá trình h ấp thụ chất dinh
dưỡng đưa thức ăn di động trong ống ti êu hoá.
Sự vận động của các đoạn ruột khác nhau l à khác nhau, đo ạn ruột trước vận
động chậm hơn đoạn ruột sau. Do tốc độ di động thức ăn về phía sau của đoạn ruột
trước chậm hơn đoạn sau, nên tác động của enzyme ở đoạn ruột tr ước triệt để hơn,
cung cấp là: arginine, histidie, isoleucine, leucie, lisine, metionie, phenylalanin,
threonin, tryptophan và valin.
Các loại thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản có thể l à con đường đưa các tác
nhân gây bệnh vào trong hệ thống nuôi và qua con đường tiêu hoá xâm nhập vào cơ
thể động vật thuỷ sản. Do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật khác nhau để
ngăn chặn con đường xâm nhập này. Không nên sử dụng thức ăn t ươi trong nuôi
trồng thuỷ sản thâm canh, nhất l à các loại thức ăn như cá tạp, tôm cua nhỏ có chất
lượng kém, vì loại thức ăn này có thể bị cảm nhiễm nhiều loại tác nhân gây bệnh
cho đối tượng nuôi, đặc biệt khi cá c thức ăn tươi được bảo quản không tốt, ngo ài ra
loại thức ăn này con gây ô nhi ễm môi trường nghiêm trọng khi động vật nuôi không
sử dụng hết trong một thời gian ngắn. Các loại thức ăn tổng hợp v à tự chế biến cần
được bảo quản tốt, tránh mốc, vón v à nhiễm khuẩn. Nấm mốc trong thức ăn tổng
21
hợp hay trong nguy ên liệu để sản xuất thức ăn tổng hợp có thể sinh ra trong vi ên
thức ăn các loại độc tố (Aflatoxin) gây hoại tử nghi êm trọng gan ở động vật thuỷ
sản nuôi. Theo các nghiên c ứu cho thấy thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt tới
sức đề kháng của động vật nuôi, không phải l à các yếu tố đa lượng như: Protein,
Glucid, lipid mà l ại chính là các nhân tố vi lượng như Vitamin, khoáng ch ất. Do vậy
để tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, cần quan tâm tới các th ành phần vi lượng
trong khẩu phần thức ăn h àng ngày, đặc biệt là Vitamin, trong đó quan tâm t ới
Vitamin C, A, B và E. Tác nhân gây b ệnh có thể là sự thiếu hụt một th ành phần
dinh dưỡng nào đó trong khẩu phần thức ăn của động vật thuỷ sản, đặc biệt sự thiếu
hụt này kéo dài liên tục thì kết quả là gây rối lợn hoạt động trao đổi chất của c ơ thể,
hoạt động của hệ Enzyme gặp trở ngại, sự sinh tr ưởng và phát triển không bình
thường, dấu hiệu sinh lý sẽ xuất hiện, bệnh tật sẽ xảy ra.
Hiện nay nguồn giống ghẹ nuôi đ ã có thể chủ động nhờ kĩ thuật sản xuất giống
ghẹ xanh nhân tạo, vấn đề lớn cần quan tâm tiếp theo l à thức ăn phù hợp với ghẹ
xanh nuôi thương ph ẩm để quá trình nuôi đạt được sự khép kín.
Thức ăn khô thường kém hấp dẫn so với thức ăn t ươi, do đó cần nghiên cứu
tạo ra một loại thức ăn ri êng cho ghẹ xanh ở giai đoạn nuôi th ương phẩm, vừa có
Sử dụng bột cá của công ty Bột cá Kiên Giang có thành phần chính: protein
60.5%, lipid 8.5%, khoáng 9.82%, xơ 2.72%
Bột cá được dùng trong tất cả các công thức với tỉ lệ phối trộn 25%, là nguồn
cung cấp Protein chủ yếu trong thức ăn nuôi ghẹ xanh th ương phẩm.
23
Bột cá có mùi thơm đặc trưng, màu từ vàng tới vàng nâu, không m ốc, không
có mùi ôi, khét.
Bột ruốc
Nguyên liệu ruốc biển (moi) khô, không mốc, có mùi thơm đặc trưng, hàm
lượng protein 67%, lipid 6.7%, chất khoáng 34.32% . Tỉ lệ phối trộn trong các công
thức sản xuất thức ăn l à 8%.
Bột đầu tôm
Gồm bột đầu tôm được mua từ Công ty TNHH Thuỷ Sản Simmy có th ành
phần chính: protein 37.1%, lipid 5.57%, ch ất xơ 6.53%, chất khoáng 5.84% .
Tỉ lệ phối trộn là 5%.
Bột đậu nành
Là một loại nguyên liệu thực vật giàu protein 37% và lipid 18%, mu ối khoáng
và các vitamin nh ất là các vitamin tan trong d ầu, đây là loại nguyên liệu rẻ tiền và
tốt để sản xuẩt thức ăn cho các đối t ượng nuôi trong ngh ành thuỷ sản. Trong bột đậu
nành giàu protein và các acid amin không thay th ế nhất là Lizin, Tryptophan, là
những acid amin thường thiếu trong thức ăn có nguốn gốc thực vật khác. Tuy ngh èo
các acid amin chứa S như Metionin, systin, protein của đậu nành có giá trị hơn của
những loại hoà thảo khác, và được xem là có giá trị sinh học cao nhất trong số
Protein có nguồn gốc thực vật.
Giá trị sinh học của protein đậu nành tương đương v ới protein của động vật.
Trong đậu nành có chứa lecithine là một loại phospholipid có tác dụng tăng tỉ lệ
sống của thuỷ sản nuôi trồng. Đậu n ành còn giàu các nguyên t ố khác như Mg, Zn,
Mn, Cu.
Cám gạo
Là thành phần phụ của công nghiệp xay xát, th ành phần chính gồm vỏ cám,
Khoáng
Xơ
Bột cá Kiên Giang
60.2
8.5%
7.448
19.82
2.17
Bột đậu nành trích ly
44.45
7.15
10.28
5.84
6.53
Bột cá khô lạt
48.91
4.51
12.5
25.26
Bột ruốc
26.56
2.43
26.86
34.32
Bột đầu tôm
34.1
5.78
10.89
27
11.7
Linoleic acid
2.4%
Linolervia acid
2.1%
Eicosadic acid
1.3%
Pentadekanic acid
0.4%
Margaric aicd
0.4%
Eicosatric acid
0.2%
Sonstige
29.2%
Cholesterol
12.410 mg/ kg
Vitamin A
250.000 UI/kg
Vitamin D3
100.000 UI/kg
Vitamin K3
300 mg/kg
Vi-premix
Là một chế phẩm công nghiệp gồm hỗn hợp cá c Vitamin C, nhóm B, Inositol,
cholin, A, B, E, K và các khoáng vi lư ợng hay bị thiếu trong th ành phần nguyên liệu
dùng sản xuất thức ăn.
Cholestin, lecithine: là chất bổ sung phospholipid v à HUFA
Thành phần chính: phospholipid: 64% , acid béo không no: 28% , cholesterol:
5%, vitamin A: 1%, vitamin D: 1%. Bổ sung chất béo, phospholipid, tạo mùi thơm
hấp dẫn bao bọc viên thức ăn, giảm sự hoà tan chất dinh dưỡng trong nước và kích