NGHIÊN cứu đặc điểm DINH DƯỠNG , SINH sản của sá SÙNG (sipunculus robustus kerstein, 1865) tại VÙNG TRIỀU VEN BIỂN CAM RANH – KHÁNH hòa - Pdf 22



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

oOo NGUYỄN VĂN THANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG , SINH SẢN
CỦA SÁ S
ÙNG (Sipunculus robustus Kerstein, 1865)
TẠI VÙNG TRIỀU VEN BIỂN CAM RANH – KHÁNH HÒA LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGÔ ANH TUẤN


ii LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức trong và ngoài nước :
- Trường đại học Nha Trang – Tp Nha Trang
- Ban quản lý Dự án hợp phần hỗ trợ phát triển nuôi truồng thủy sản
bền vững (SUDA)
- Phòng thực tập sinh lý-sinh thái - Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản trường
Đại học Nha Trang
- Lãnh đạo Chi cục Thú y cùng toàn thể các đồng nghiệp
đã ủng hộ và giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Ngô Anh Tuấn đã dìu dắt tôi trên
con đường nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chu đáo trong suốt
quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn.
Xin cảm ơn sinh viên Hoàng Thị Hồng và các sinh viên khác đã giúp đỡ tôi
thực hiện đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, kích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Nha Trang, ngày 20 tháng 9 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Văn Thanh

iii
2.3.4.2. Phương pháp nghiên cứu thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa 15
iv 2.3.5. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản 15
2.3.5.1. Đánh giá các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 15
2.3.5.2. Tỷ lệ đực cái 16
2.3.5.3. Kích thước thành thục lần đầu 16
2.3.5.4. Sức sinh sản 16
2.3.5.5. Mùa vụ sinh sản 17
2.4. Phân tích số liệu 17
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian điều tra 18
3.2. Đặc điểm sinh trưởng của sá sùng 24
3.2.1. Đặc điểm cấu tạo ngoài của sá sùng 24
3.2.2. Đặc điểm cấu tạo trong của Sá sùng 25
3.2.2.1. Thành cơ thể 25
3.2.2.2. Khoang cơ thể 26
3.2.2.3. Cơ co vòi 27
3.2.2.4. Hệ tiêu hóa 27
3.2.2.5. Hệ bài tiết 29
3.2.2.6. Hệ thần kinh 29
3.2.2.7. Tuyến sinh dục 30
3.2.3. Kích thước và khối lượng của sá sùng trong thời gian nghiên cứu 30
3.2.4. Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của sá sùng 32
3.3. Đặc điểm dinh dưỡng 33
3.3.1. Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa 33
3.3.2. Hoạt động bắt mồi của sá sùng 37
3.4. Đặc điểm sinh sản 37
3.4.1. Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 37
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ điểm thu mẫu. 11
Hình 3.1: Thành phần chất đáy tính theo tỉ lệ % theo thời gian 19
Hình 3.2: Một số loài tảo có trong môi trường trầm tích 21
Hình 3.3: Một số loài tảo có trong môi trường nước 23
Hình 3.4: Cấu tạo bên ngoài của sá sùng 24
Hình 3.5: Cấu tạo thành cơ thể ở khoang thân 25
Hình 3.6: Cấu tạo thành cơ thể ở khoang xúc tu 25
Hình 3.7: Khoang xúc tu của sá sùng 26
Hình 3.8: Khoang thân của sá sùng 27
Hình 3.9: Cơ co vòi của sá sùng 27
Hình 3.10: Cấu tạo hệ tiêu hóa của sá sùng 28
Hình 3.11: Cấu tạo đĩa miệng của sá sùng 28
Hình 3.12: Tiền thận của sá sùng 29
Hình 3.13: Dây thần kinh của Sá sùng 29
Hình 3.14: Cấu tạo tuyến sinh dục của sá sùng 30
Bảng 3.5: Chiều dài và khối lượng sá sùng trong thời gian nghiên cứu 31
Hình 3.15: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng toàn thân của sá sùng 32
Hình 3.16: Tỉ lệ % các thành phần trong hệ tiêu hóa của sá sùng 34
Hình 3.17: Một số loài tảo có trong hệ tiêu hóa của sá sùng 36
Hình 3.18: Tuyến sinh dục giai đoạn I 38
Hình 3.19: Tuyến sinh dục sá sùng đực giai đoạn II 39
Hình 3.20: Tuyến sinh dục sá sùng cái giai đoạn II 39
Hình 3.21: Tuyến sinh dục sá sùng đực giai đoạn III 40
Hình 3.22: Tuyến sinh dục sá sùng cái giai đoạn III 41
Hình 3.23: Tuyến sinh dục sá sùng đực giai đoạn IV 41
Hình 3.24: Tuyến sinh dục sá sùng cái giai đoạn IV 42


viii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. W: Khối lượng toàn thân.
2. W
k
: khối lượng toàn thân không nội tạng
3. Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục
4. STT: Số thứ tự
5. NCKH: Nghiên cứu khoa học
6. KXĐ: không xác định giới tính
7. ♂: Con đực
8. ♀: Con cái
9. KH & CN: Khoa học và công nghệ
10. TTSD: Thành thục sinh dục
11. GTNN: Giá trị nhỏ nhất
12. GTLN: Giá trị lớn nhất
13. TB: Trung bình
14. ĐLC: Độ lệch chuẩn
15. GSI: Hệ số thành thục sinh dục
16. GĐ I: Giai đoạn I
17. GĐ II: Giai đoạn II
18. GĐ III: Giai đoạn III
19. GĐ IV: Giai đoạn IV

1



2 3. Ý nghĩa của đề tài.
o Luận văn là tài liệu bổ sung những kiến thức khoa học về đặc điểm dinh
dưỡng và đặc điểm sinh sản của sá sùng. Một loài có giá trị kinh tế, làm cơ sở khoa học
cho các nghiên cứu tiếp theo về sinh sản nhân tạo loài sá sùng phục vụ cho nhu cầu
nghiên cứu khoa học và triển khai nuôi thương phẩm, giảm áp lực khai thác tự nhiên.
3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu sá sùng trên thế giới
Sá sùng là một loài thuộc ngành Sipuncula (sá sùng hay sâu đất), tiếng Hán gọi
là “sa sùng” (nghĩa là trùng đất) là một ngành có khoảng 144-350 loài (theo ước tính
từ các nguồn khác nhau). Về phân loại, đến nay dường như đã được các nhà khoa
học phân tích và phân loại chi tiết, rõ ràng như sau: giới: Animalia, phân giới:
Metazoa, siêu ngành: Lophotrochozoa, ngành: Sipuncula, trong đó, từng lớp phân ra
nhiều bộ và họ khác nhau:
· Lớp Sipunculidea
o Bộ Sipunculiformes
- Họ Sipunculidae
o Bộ Golfingiiformes
- Họ Golfingiidae
- Họ Phascolionidae
- Họ Themistidae
· Lớp Phascolosomatidea
o Bộ Phascolosomatiformes
- Họ Phascolosomatidae

Theo hệ thống phân loại của Gibbs, Cutler và Rice, ngành Sâu đất
(Sipuncula) được chia thành 2 lớp Sipunculidea và Phascolosomatidea dựa trên trật
tự sắp xếp của các xúc tu bao quanh miệng tại đầu vòi [25,32,38]. Các xúc tu của
lớp Sipunculidea bao quanh trung tâm miệng thành vành biên (đại diện là sá sùng -
Sipunculus nudus), trong khi đó các xúc tu của lớp Phascolosomatidea hình thành
lên hình cung ở phía sau miệng, không bao quanh miệng (đại diện là sâm đất –
Phascolosoma arcuatum).

5 1.1.2. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố
Theo Culter, khu vực phân bố của lớp sá sùng (Sipunculidea) nói chung là rất
rộng, từ vùng biển nhiệt đới cho đến nam cực, từ vùng triều cho đến vùng biển sâu
tập trung nhiều nhất ở khu vực Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Biển Đông, các
nước có loài này phân bố là Andaman, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia,
Malaysia, Philippine và Việt Nam [23, 26, 29, 30].
Đa số các loài trong giống Phascolosoma phân bố rộng từ vùng ôn đới, cận
nhiệt đới và nhiệt đới ở vùng triều, dưới triều trong nền đáy trong rừng ngập mặn.
Loài Phascolosoma arcuatum sống ở vùng triều, nền đáy sét bùn và bùn bùn sét,
trong rừng ngập mặn [11, 24]. Chúng sống tập trung ở vùng triều giữa và triều cao,
vùng cửa sông, rừng ngập mặn ven biển. Sá sùng chỉ tập trung ở vùng triều có nền
đáy cát hoặc cát bùn [26]. Theo Cutler thì khu vực phân bố của giống sá sùng rất
rộng, tập trung nhiều ở khu vực Madagascar, Senegal, Châu đại dương, Indonesia,
Ấn Độ, Philipin, Thái Lan, Trung và Nam Mỹ. Tuy nhiên sự phân bố theo đới triều
chưa được các tác giả đề cập tới [8, 24, 32].

1.1.3. Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng.
Những nghiên cứu về tập tính dinh dưỡng của loài Sá sùng còn rất hạn chế.
Theo Edmonds, chúng ăn lọc và hút vào bụng mùn bã hữu cơ cùng một lượng cát ở

dạng bánh xe) trong khoang 72h, sau đó đến giai đoạn ấu trùng biến thái (ấu trùng
pelagospheric), chúng có khả năng dinh dưỡng ngoài [36, 43, 44, 49, 50].

1.2. Tình hình nghiên cứu sá sùng trong nước
Ở vùng biển Việt Nam hiện đã biết 21 loài của ngành sá sùng [45]. Thường
gặp là các giống Phascolosoma, Sipunculus và Siphonosoma ở vùng thủy triều và
dưới triều. Trong vùng đá san hô thường gặp các loài trong chi Aspidosophon,
Cloeosophon và Lithacrosiphon, trong đó loài Aspidosiphon steenstrupii là loài phá
hoại rạn san hô. Một số loài được dùng làm thực phẩm như sâu đất Phascolosoma
arcuatum có mật độ cao trong bùn ở vùng ngập mặn và sá sùng Sipunculus nudus
sống ở vùng triều, dưới triều trong nền đáy [11, 4].
Năm 1961, song song với việc nghiên cứu tính chất đặc thù của vùng triều vịnh
Bắc Bộ, đoàn khảo sát liên hợp Việt Xô do Gurjanova đứng đầu đã nghiên cứu về
sinh vật vùng triều miền bắc Việt Nam [8]. Trong báo cáo khoa học của đoàn, loài
7 sá sùng được ghi nhận là phân bố ở khu trung triều và hạ triều trên các bãi cát Cồn
Bé và Chương Cả (thuộc Quảng Ninh).
Vào thời gian từ 1970-1990, nhiều cuộc khảo sát về động vật đáy được tiến
hành trong khuôn khổ các đề tài điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học, các hệ sinh
thái vùng triều, rừng ngập mặn, nhờ vậy mà ngành sá sùng cũng đã được tìm hiểu
thêm. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả
sự phân bố chung của ngành sá sùng (Sipuncula) mà chưa có nghiên cứu sâu nào về
phân loại học cho riêng loài sá sùng (Sipunculus nudus).
Theo Đỗ Văn Nhượng, ở nước ta đã phát hiện thấy sá sùng phân bố rải rác ở
vùng triều ven biển, ven đảo thuộc các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh và thành
phố Hồ Chí Minh, nhưng tập trung chủ yếu ở một số huyện đảo như Tiên Yên, Ba
Chẽ, Vân Đồn (Quảng Ninh) và Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) [10].
Một số nghiên cứu khác tập trung nghiên cứu về danh pháp và vị trí phân loại

hiện diện bằng những chuỗi dài phân tử. Các đại phân tử protid sẽ biến thành acid
amin được hấp thu vào cơ thể dưới tác dụng của dịch tiêu hóa. Người ta đã phân loại
được nhiều acid amin khác nhau, những acid amin này sau khi được hấp thu sẽ giúp
cơ thể khỏe mạnh. Trong số này, có 18 loại cần thiết, trong đó có 8 loại được xem là
tối cần thiết: Aspartic acid, Threonine, Serine, Glutamic acid, Proline, Glycine,
Alanine, Valine, Methionine, Isoleucine Leucine, Phenyl alanine, Histidine Lysine,
Tyrosine, Arginine, Tryptophan, Cystine.[14]
Chúng tham dự vào nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể như tổng hợp các
chất dẫn truyền thần kinh, đổi mới các sợi cơ bắp và chỉ nên sử dụng với lượng vừa
phải, nhiều quá hoặc ít quá sẽ làm xáo trộn cơ thể, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
Glutamic acid giữ vai trò quan trọng trong chuyển hóa tế bào thần kinh và não.
Thường được dùng trong các trường hợp suy nhược chức năng thần kinh, trẻ em
chậm phát triển cơ thể hoặc trí óc, rối loạn chức năng gan.
Kết hợp Arginine, Aspartate, Ornithine: Giúp giải độc gan, trung hòa lượng
ammoniac thừa trong cơ thể và góp phần hỗ trợ điều trị viêm gan, xơ gan, giải độc
gan, làm giảm cholesterol giúp ăn ngon, chống béo phì, không bị sạm da. Kết hợp L.
Cystine với dầu đậu nành cùng Lecithin: Sẽ tạo được tác dụng cộng hưởng vì
Lecithin vừa đồng thời giúp giải độc gan, vừa giúp tạo lập acetylcholine là chất dẫn
truyền thần kinh quan trọng, ngoài ra còn phụ trị tai biến mạch máu não. Việc giúp
dẫn truyền luồng thần kinh đóng một vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh ngoài
da vì ở da chứa đến 200.000 sợi thần kinh từ da đi đến não, tức mật độ dây thần kinh
9 vào khoảng 12 sợi/cm², chỉ sau mắt (1.000.000 sợi). Vì thế các hoạt động cũng như
bệnh lý của làn da luôn đặt dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh. Việc dẫn truyền thần
kinh tốt sẽ tăng cường tác động trị bệnh[14].

1.3.1. Giá trị dinh dưỡng của một số loài sá sùng
Món ăn chế biến từ các loài sâu đất - sá sùng, người Trung Quốc hay gọi là

13’31 kinh Đông.
10 1.4.2. Khí hậu và thuỷ văn
Thị xã Cam Ranh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng
của đại dương và tiếp cận với vùng khô hạn ở tỉnh Ninh Thuận. Lượng mưa trung bình
nhiều năm ở Cam Ranh khoảng 900 ÷ 1100 mm, phân bố không đều, vùng núi phía
Tây Bắc có lượng mưa lớn hơn. Mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 9 – 12, chiếm 78%
lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 1 – 8 với lượng mưa chiếm khoảng 22%. Số
ngày mưa trong năm dao động từ 100 – 115 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất có khi lên
đến 471 mm (tháng 12/1986) ở vùng núi và 130 ÷ 150 mm ở vùng biển [5].
Nhiệt độ không khí trung bình là 27
0
C ( cao nhất là 38
0
C, thấp nhất là 19
0
C).
Nhiệt độ nước biến động vào 2 mùa xuân hè. Gió Tây Bắc thường bắt đầu từ tháng 10
đến tháng 4 và gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10. Khi có gió mùa Tây Nam dao
động từ 29 – 32
0
C, vào mùa thu đông có gió mùa Đông Bắc dao động từ 23 – 25
0
C.
Tuy nhiên vào mùa này, có một số ngày có nhiệt độ dưới 23
0
C nhưng không nhiều.
Chế độ thuỷ triều tại Cam Ranh là nhật triều không đều, hàng tháng có


Nghiên Cứu Đặc Điểm Dinh Dưỡng, Sinh Sản Sá Sùng
(Sipunculus robustus Keferstein, 1865)Tại Vùng Triều Ven
Biển Cam Ranh - Khánh Hòa
Đặc điểm sinh dưỡng
Thức ăn

sản
Thu thập và xử lý số liệu
Kết luận và đề xuất
13 2.3. Phương pháp thu và phân tích mẫu
2.3.1. Phương pháp thu mẫu

- Thời gian thu mẫu từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 6 năm 2010. Mỗi tháng
thu mẫu 1 lần (số mẫu >30 mẫu), tại 1 khu vực thuộc vùng triều ven biển Cam Ranh
– Khánh Hòa (hình 2.1).
- Tại các điểm thu mẫu, dùng khung 0,5 m
2
để xác định diện tích thu mẫu.
Dùng cuốc, xẻng để đào bới đến độ sâu 50 – 60 cm hoặc đến độ sâu không còn bắt
gặp sá sùng. Sử dụng phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên.
- Thu chất đáy: dùng 02 ống sắt tròn ( một ống dài 80cm, một ống dài 70cm,
vát nhọn , đường kính 10cm), ấn sâu xuống cát từ 40 – 50cm để lấy chất đáy.
- Thu mẫu tảo: dùng bình nhựa có dung tích 1L, thu mẫu nước ở vị trí thu mẫu.
- Đo pH cát bùn bằng máy đo (Soil pH Tester)
- Đo pH nước bằng phương pháp so màu của Thái Lan.
- Đo độ mặn: bằng khúc xạ kế (Refractometer) có độ chính xác 1‰.
- Đo nhiệt độ: bằng nhiệt kế thủy ngân có độ chính xác 1
0
C.

2.3.2. Phương pháp phân tích mẫu môi trường
- Phân tích mẫu chất đáy bằng phương pháp sa lắng cơ học tại phòng thí
nghiệm của trường Đại học Nha Trang. Chất đáy thu về được trộn đều, lấy 100g và

tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân của Sá sùng bằng phương pháp hồi
quy lặp, theo phương trình quan hệ của Michael King [41].
Tương quan chiều dài (L) – khối lượng (W):
b
LaW ´=

Trong đó: W: khối lượng(g)
L: Chiều dài của cá thể (cm)
b: Tham số sinh trưởng
a: Tham số quan hệ
15 2.3.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng
2.3.4.1. Phương pháp nghiên cứu hoạt động bắt mồi
- Tìm hiểu hoạt động bắt mồi theo phương pháp quan sát mô tả. Trong trường
hợp có thể, quan sát tại điểm thu mẫu, mô tả lại hoặc sau khi thu mẫu, sá sùng được
giữ sống, tạo môi trường tương tự như môi trường tự nhiên trong một bể thủy tinh
có dung tích 50 lít, sau đó quan sát hoạt động bắt mồi của sá sùng và mô tả lại.

2.3.4.2. Phương pháp nghiên cứu thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa
- Thu mẫu sá sùng ngoài thực địa, mổ ra ngay, lấy phần ruột và dạ dày sá sùng
ngâm trong formaline nồng độ 5 %. Mẫu nghiên cứu thành phần thức ăn phải được
cố định bằng formaline ngay sau khi thu mẫu để thành phần thức ăn trong ruột chưa
kịp bị tiêu hóa hết. Mẫu được đưa về phòng thí nghiệm, lọc bỏ các thành phần của
hệ tiêu hóa, chỉ giữ lại các thành phần thức ăn của sá sùng. Sau đó sử dụng phương
pháp sa lắng để xác định tỉ lệ % của các thành phần có trong thức ăn của sá sùng.
- Sử dụng kính hiển vi quang học với độ phóng đại 10 x 10; 40 x 10 để quan
sát và phân tích thành phần thức ăn trong ruột sá sùng. Khi phân tích có sử dụng tài
liệu: “ Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” của Trương Ngọc An.

thành thục sinh dục) đạt từ 50% trở lên [41].

2.3.5.4. Sức sinh sản
Sức sinh sản tuyệt đối (Fa)(số trứng/cá thể) được xác định bằng cách đếm số
lượng trứng ở giai đoạn thành thục.
Phương pháp đếm: sá sùng sau khi thu, được ngâm trong formol 5%, chuyển
về phòng thí nghiệm. Mổ một mẫu sá sùng, thu toàn bộ tuyến sinh dục có trong
xoang cơ thể, rửa sạch, và lọc bằng vợt lưới có kích thước mắt lưới nhỏ 20µm, để
cho nước ráo hết và đem cân khối lượng tuyến sinh dục. Sau đó, xác định đực cái
bằng kính hiển vi quang học. Trong trường hợp là cá thể cái, lấy 1g trứng đem pha
loãng với nước cất, tạo dung dịch huyền phù. Sử dụng buồng đếm động vật để đếm
số lượng trứng. Thao tác đếm trứng lặp lại ba lần, tính số lượng trứng trung bình/1g
mẫu. Tổng số trứng của cá thể được tính bằng tích của số lượng trứng có trong 1g
trứng nhân với khối lượng buồng trứng của cá thể đó.
a
Fa
= x
W
t

n

Trích đoạn Kích thước và khối lượng của sá sùng trong thời gian nghiên cứu Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status