1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGÔ TRUNG NHẬT QUANG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DINH DƢỠNG,
SINH SẢN CỦA CÁ TRÁP VÂY VÀNG
Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782)
Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
Nha Trang, năm 2010
i
3
LỜI CAM ĐOAN Xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Võ Văn Phú. Việc sử
dụng các số liệu, tài liệu cho bản luận văn đều được dẫn
nguồn hoặc chú thích tài liệu tham khảo. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả Ngô Trung Nhật Quang
ii
4
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 3
1.1.1. Tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 3
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về cá Tráp vây vàng 8
1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 12
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 12
1.2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình vùng ven biển tỉnh Quảng Trị 12
1.2.1.2. Khí hậu 13
1.2.1.3. Điều kiện thủy văn và sinh học vùng ven biển 15
1.2.1.4. Nguồn lợi hải sản 15
1.2.2. Điều kiện xã hội 16
1.2.2.1. Dân cƣ, lao động 16
1.2.2.2. Điều kiện cơ sở hạ tầng 17
1.2.2.3. Y tế 17
1.2.2.4. Giáo dục 18
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
2.2.1. Thời gian 19
2.2.2. Địa điểm 19
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.3.1. Phƣơng pháp ngoài thực địa 21
2.3.1.1. Thu mẫu nghiên cứu sinh trƣởng 21
2.3.1.2. Thu mẫu nghiên cứu dinh dƣỡng 21
2.3.1.3. Thu mẫu nghiên cứu sinh sản 22
2.3.1.4. Thu mẫu sản lƣợng 22
2.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 22
2.3.2.1. Về chỉ tiêu hình thái phân loại 22
2.3.2.2. Về sinh trƣởng 22
3.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI 66
3.4.1. Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 66
3.4.2. Công tác quản lý Error! Bookmark not defined.
3.4.3. Giáo dục cộng đồng ý thức bảo vệ nguồn lợi 68
3.4.4. Khoa học công nghệ 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1. KẾT LUẬN 69
2. ĐỀ NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC
v
7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Các vùng nghiên cứu 20
Bảng 3.1. Tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng theo nhóm tuổi của cá Tráp
vây vàng 27
Bảng 3.2. Thành phần các đối tƣợng thức ăn của cá Tráp vây vàng 31
Bảng 3.3. Độ no của cá Tráp vây vàng qua các tháng trong năm 34
Bảng 3.4. Độ no của cá Tráp vây vàng chia theo nhóm tuổi 35
Bảng 3.5. Độ no của cá Tráp vây vàng theo sự phát triển của tuyến sinh dục 37
Bảng 3.6. Mức độ tích lũy mỡ của cá Tráp vây vàng qua các tháng 38
Bảng 3.7. Hệ số béo của cá Tráp vây vàng tính theo công thức Fulton và Clark 39
Bảng 3.8. Đƣờng kính tế bào trứng và nhân qua 4 thời kỳ phát triển 44
Bảng 3.9. Tỷ lệ đực, cái của cá Tráp vây vàng chia theo nhóm tuổi 61
Bảng 3.10. Sức sinh sản tuyệt đối và tƣơng đối của cá Tráp vây vàng 62
Bảng 3.11. Các giai đoạn CMSD của cá Tráp vây vàng theo nhóm tuổi 63
Bảng 3.12. Các giai đoạn chín muồi sinh dục chia theo tháng của cá Tráp vây vàng 65
Hình 3.21. Mô phỏng các thời kỳ phát triển tế bào sinh dục đực qua các thời kỳ 47
Hình 3.22. Ảnh lát cắt tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ sinh sản
(Độ phóng đại 1000 lần - x100) 48
Hình 3.23. Ảnh lát cắt tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ sinh trƣởng
(Độ phóng đại 1000 lần - x100) 48
Hình 3.24. Ảnh lát cắt tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ hình thành
(Độ phóng đại 1000 lần - x100) 49
vii
9
Hình 3.25. Ảnh lát cắt tinh sào ở thời kỳ tế bào sinh dục đực chín (Độ phóng đại
1000 lần - x100) 49
Hình 3.26. Ảnh buồng trứng giai đoạn I CMSD 50
Hình 3.30. Ảnh buồng trứng giai đoạn III CMSD 51
Hình 3.31. Ảnh lát cắt buồng trứng giai đoạn III CMSD (Độ phóng đại 400 lần) 52
Hình 3.32. Ảnh buồng trứng giai đoạn IV CMSD 52
Hình 3.33. Ảnh lát cắt buồng trứng giai đoạn IV CMSD (Độ phóng đại 400 lần) 53
Hình 3.34. Ảnh buồng trứng giai đoạn V CMSD 53
Hình 3.35. Ảnh lát cắt buồng trứng giai đoạn V CMSD (Độ phóng đại 400 lần) 54
Hình 3.36. Ảnh lát cắt buồng trứng giai đoạn VI - III CMSD (Độ phóng đại
400 lần - x40) 54
Hình 3.37. Ảnh tinh sào giai đoạn I CMSD 55
Hình 3.38. Ảnh lát cắt tinh sào giai đoạn I CMSD (Độ phóng đại 1000 lần) 55
Hình 3.39. Ảnh tinh sào giai đoạn II CMSD 56
Hình 3.40. Ảnh lát cắt tinh sào giai đoạn II CMSD (Độ phóng đại 1000 lần) 56
Hình 3.41. Ảnh tinh sào giai đoạn III CMSD 56
Hình 3.42. Ảnh lát cắt tinh sào giai đoạn III CMSD (Độ phóng đại 1000 lần) 56
Hình 3.43. Ảnh tinh sào giai đoạn IV CMSD 57
Hình 3.44. Ảnh lát cắt tinh sào giai đoạn IV CMSD (Độ phóng đại 1000 lần) 57
Hình 3.45. Ảnh tinh sào giai đoạn V CMSD 58
L
tb
Chiều dài trung bình
nnk Những ngƣời khác
PL Phụ lục
QĐ-UB Quyết định - Uỷ ban
SE Sai số
TB Trung bình
UBND Uỷ ban Nhân dân
W Khối lƣợng toàn thân
W
0
Khối lƣợng của cá bỏ nội quan
W
dđ
Khối lƣợng dao động
W
tb
Khối lƣợng trung bình
W
tbTSD
Khối lƣợng trung bình tuyến sinh dục
ix
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên biển khá phong phú
và đa dạng, với diện tích vùng đặc quyền kinh tế trên biển hơn 1 triệu km
tỉnh Quảng Trị” với mục đích:
- Hiểu rõ đặc điểm dinh dƣỡng và sinh sản của cá Tráp vây vàng - Acanthopagrus
latus (Houttuyn, 1782) ở vùng ven biển tỉnh Quảng Trị.
2
- Có đƣợc dẫn liệu cơ bản về sinh học sinh sản là cơ sở khoa học phục vụ sản
xuất giống nhân tạo cá Tráp vây vàng.
Đề tài luận văn luôn đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều thầy cô giáo, sự tạo
điều kiện cả về tinh thần lẫn vật chất của Dự án Hợp phần Nuôi trồng Thủy sản bền
vững SUDA (FSPS II), sự động viên khích lệ của các nhà nghiên cứu, các bạn đồng
nghiệp. Tuy vậy, với thời gian, kinh phí có hạn, trang thiết bị và kinh nghiệm bản thân
còn hạn chế, việc thu mẫu gặp nhiều khó khăn, nên luận văn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Chúng tôi mong nhận đƣợc sự góp ý của quí Thầy, Cô giáo và bạn
bè đồng nghiệp.
gia tăng quá nhanh về dân số vùng ven biển gây sức ép về đời sống và việc làm, trong
khi một bộ phận ngƣ dân chƣa ý thức đƣợc ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ và phát
triển bền vững nguồn lợi thủy sản [8, 9, 10].
Công tác điều tra, nghiên cứu đánh giá nguồn lợi hải sản và môi trƣờng biển ở
Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn chính sau:
* Trƣớc năm 1954: Nghiên cứu nguồn lợi biển nƣớc ta đã đƣợc tiến hành rất
sớm cùng với sự ra đời của Viện Hải dƣơng học (HDH) Nha Trang (1923). Sau đó,
các nƣớc có kinh nghiệm nghiên cứu đã tiến hành nhiều hoạt động nhƣ: Pháp tiến
hành khảo sát nguồn lợi cá bằng lƣới kéo đáy trên tàu De Lanessan trong những năm
4
1925 - 1935 tại vùng biển Việt Nam bao gồm cả khu vực quần đảo Trƣờng Sa. Các
kết quả nghiên cứu đƣợc công bố trong các công trình của Krempf A. (1926 - 1927)
và Chevey P. (1935); Nhật Bản đƣa tàu thăm dò và khai thác hải sản trong những năm
1927 - 1935; Đài Loan sử dụng tàu Sonan Maru thăm dò khai thác hải sản trong 2 năm
1935 - 1936, chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ và khu vực bắc miền Trung.
* Từ năm 1954 đến năm 1976: Việt Nam - Trung Quốc hợp tác điều tra tổng
hợp vịnh Bắc Bộ trên tàu Tuệ Ngƣ 219 và Tuệ Ngƣ 306 trong 2 năm 1959- 1960 và
trên các tàu Tiền Phong, Việt Trung năm 1961 - 1962. Từ năm 1960 - 1962, Việt Nam
hợp tác với Liên Xô điều tra nguồn lợi, môi trƣờng biển ở vịnh Bắc Bộ và vùng biển
lân cận (bao gồm cả khu vực Hoàng Sa, Trƣờng Sa và kéo dài xuống phía Nam đƣờng
xích đạo) bằng lƣới kéo đáy trên tàu PELAMIDA (1.000cv), câu vàng trên tàu ORLIK
(800cv), đánh lƣới vây trên tàu ONDA và NORA.
Năm 1962 - 1964, trạm Nghiên cứu Cá biển (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản) sử
dụng tàu Việt Đức 11 và Việt Đức 12 điều tra tổng hợp cá đáy vùng gần bờ tây vịnh
Bắc Bộ. Trạm Nghiên cứu Cá biển dùng tàu Việt Xô 14 và tàu Việt Trung 108 tiến
hành 4 chuyến khảo sát điều tra cá đáy ở vịnh Bắc Bộ vào năm 1963 và 1964. Trạm
Nghiên cứu Cá biển dùng tàu VT 108 điều tra trọng điểm ngƣ trƣờng Bạch Long Vĩ
và Mê Mát năm 1972 - 1973. Trạm Nghiên cứu Cá biển triển khai một số nội dung
nghiên cứu cá nổi ở một số tỉnh trọng điểm nhƣ: Quảng Ninh, Thanh Hoá, Hà Tĩnh và
Năm 1997 - 1998, dự án Hợp tác Việt Nam - Thái Lan về đánh giá và quản lý
nguồn lợi biển ở vịnh Thái Lan đã sử dụng 2 tàu: Biển Đông (1.500cv) của Việt Nam
và Chulabhorn (3.800cv) của Thái Lan nghiên cứu điều kiện môi trƣờng và hiện trạng
nguồn lợi vùng biển giữa vịnh Thái Lan. Năm 1998 - 1999, dự án “Thăm dò khai thác
nguồn lợi hải sản phục vụ phát triển nghề cá xa bờ” của Viện Nghiên cứu Hải sản đã
sử dụng đôi tàu HP 9016 TS và HP 9017 TS điều tra nguồn lợi cá xa bờ ở vịnh Bắc Bộ
và sử dụng 01 đôi tàu lƣới kéo đáy và 2 tàu lƣới rê của Vũng Tàu điều tra nguồn lợi cá
xa bờ vùng biển Đông Nam Bộ và giữa Biển Đông. Năm 2000 - 2002, đề tài cá xa bờ
tiếp tục kết hợp với dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV - II)”
điều tra, đánh giá tổng thể nguồn lợi hải sản ở vùng nƣớc xa bờ biển Việt Nam. Năm
2001 - 2002, Phòng Nguồn Lợi kết hợp với dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển
Việt Nam (ALMRV - II)” tổ chức điều tra hiện trạng nguồn lợi tôm vùng biển ven bờ
Đông Tây Nam Bộ và Tây vịnh Bắc Bộ (tháng IV/2002). Năm 2000, đề tài cá xa bờ
tiến hành chuyến biển kiểm tra các ngƣ trƣờng trọng điểm vùng biển Đông Tây Nam
Bộ và năm 2002 ở vịnh Bắc Bộ (tháng IV - V/2002) phục vụ công tác dự báo cá.
Ngoài những chƣơng trình, đề tài và dự án chính đã nêu ở trên, còn một số các
đề tài, dự án khác cũng nghiên cứu về tình hình nguồn lợi, môi trƣờng biển Việt Nam,
tuy nhiên những đề tài này không sử dụng tàu thuyền điều tra thu thập số liệu trực tiếp
trên biển mà chủ yếu tập hợp các nguồn tài liệu sẵn có, qua các công đoạn xử lý, tổng
6
hợp rồi viết báo cáo nhƣ đề tài KT- 03, dự án ICLARM, dự án Ngăn chặn xu hƣớng
suy thoái môi trƣờng ở Biển Đông và vịnh Thái Lan [7, 18, 25, 55, 56]…
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
Ở nƣớc ta, nghiên cứu về cá chỉ mới chú trọng từ những năm 1945 trở lại đây.
Trƣớc đó, việc nghiên cứu cá chủ yếu gồm những công trình của những ngƣời Pháp,
với mục đích khai thác thuộc địa. Theo các nguồn tài liệu hiện có, công trình đầu tiên
nghiên cứu về cá ở nƣớc ta là của H. E. Sauvage (1881) trong tác phẩm “Nghiên cứu
về khu hệ cá Á châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dƣơng”. Tác giả đã thống kê
139 loài chung cho toàn Đông Dƣơng và mô tả một số loài mới ở miền Bắc nƣớc ta
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, các công trình nghiên cứu đƣợc tiến
hành và phát triển trên cả nƣớc. Nổi bật trong thời kỳ này là công trình nghiên cứu của
Mai Đình Yên (1978, 1979, 1985, 1988, 1992), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực
(1991, 1995) [64]. Từ Xuân Dục và Lê Văn Dũng (1982), nghiên cứu thành thức ăn
của các loài cá nục: Decapterus kurroides, Decapterus maruadsi; cá tráp -
Priacanthus macracanthus và cá mối vạch - Saurida undosquamis ở vùng biển miền
Nam Việt Nam [13]. Lê Trọng Phấn (1986), đặc điểm sinh vật học và khai thác cá
kinh tế ở vùng biển Việt Nam.
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của một số loài cá do Võ Văn Phú và nnk
thực hiện, nhƣ: cá Mòi cờ chấm (Clupanodon punctatus) [34]; cá Căng bốn sọc
(Pelates quadrilineatus) [35]; cá Hồng (Lutjanus erythroptorus) ở đầm phá tỉnh Thừa
Thiên Huế [36]; Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế ở hệ đầm phá
Thừa Thiên Huế [33, 37]; Đặc điểm sinh học cá Móm gai dài (Gerres filamentosus
Cuvier) [39]; Dìa (Siganus guttatus) ở đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [14, 40]; Đặc
tính sinh sản của cá Dầy (Cyprinus centralus Nguyen et Mai, 1994) ở phá Tam Giang
Cầu Hai (2001) [41, 43]; Cá Đối mục (Mugil cephalus) ở đầm phá nƣớc lợ phía Nam
tỉnh Bình Trị Thiên [31]; Đặc tính dinh dƣỡng của cá Thát lát Notopterus notopterus
(Pallas, 1796) ở hồ Ayun Hạ, tỉnh Gia Lai [44]
Bên cạnh đó có các nghiên cứu của các tác giả khác, nhƣ: Lê Thị Nam Thuận,
Trần Duy Nga (1996): Dẫn liệu về đặc tính sinh sản của cá Dìa (Siganus guttatus) ở hệ
đầm phá Thừa Thiên Huế [53]; Nguyễn Trƣờng Khoa, Võ Văn Phú (2000): Dẫn liệu
bƣớc đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị (83 loài) [22]; Hà
Lê Thị Lộc (2002): Một số đặc điểm dinh dƣỡng của cá Khoang Cổ đỏ ở vùng biển
Nha Trang - Khánh Hòa [27]; Nguyễn Dƣơng Thạo (2002): Nghiên cứu cơ sở thức ăn
tự nhiên của cá và ƣớc tính khả năng trữ lƣợng cá nổi biển miền Nam Việt Nam,
Năm 2002, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) phối hợp
với các nƣớc trong khu vực tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, tập tính di cƣ,
8
đánh giá nguồn lợi của cá nổi nhỏ. Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Thƣ
Cá tráp vây vàng đã đƣợc Houttuyn mô tả đầu tiên và đặt tên là Acanthopagrus
9
latus vào năm 1782, ngoài ra nó cũng còn có tên khác nữa là Mylio latus, Sparus latus.
Năm 1822 Lacepede đặt tên là Coius datnia. Năm 1822 Hamilton đặt tên là Chrysophrys
datnia. Vẫn còn nhiều cách phân loại và đặt tên cho loài cá này, sau này cũng có một
số tác giả khác nhƣ Raynonds (1982); De Bruin G.H.P., B.C. Russell và A. Bogusch
(1995); Kittaka.,J (1977); Anon (2002)… họ đã đặt nhiều tên khác nhau [82, 72, 77,
67]. Tuy nhiên cách phân loại Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) đã đƣợc ghi
trong Appendix I, FAO (1974) là đƣợc nhiều nhà phân loại chấp nhận nhất [73].
Vị trí phân loại của cá tráp vây vàng - Acanthopagrus latus đã đƣợc Nguyễn
Nhật Thi (1971) xác nhận ở Việt Nam có một loài duy nhất, giống với cách phân loại
của Houttuyn (1782) [52]. Vƣơng Dĩ Khang (1958), cũng đã xác định vị trí phân loại
cá Tráp vây vàng ở Trung Quốc mô tả, đặt tên của Houttuyn (1782) [21].
Cơ thể hình bầu dục thân hơi tròn, lƣng có gồ cao lên, vẩy lƣợc lớn vừa và nhỏ.
Khoảng cách giữa mắt và đầu không có vẩy, bộ phận đầu trừ mõm, xƣơng trƣớc mắt và
xƣơng dƣới mắt ra đều có vẩy [87]. Vây lẻ không có vẩy hoặc vẩy bẹ thấp, đƣờng bên
hoàn toàn, đi ra sau theo vành ngoài của bộ phận lƣng. Vây lƣng liên tục, không có khía
lõm, bộ phận gai và tia vây cũng rất nở nang, gai vây lƣng to khỏe, có khoảng 10 - 13 tia
gai cứng, từ 9 - 17 tia vây mềm. Vây hậu môn có 3 gai, một số loài gai thứ 2 đặc biệt to
khỏe (Mylio latus, Mylio berda), tiếp đó là 7 - 15 tia vây mềm. Chúng có màu sắc cũng
rất khác nhau, nhƣ màu đỏ ở cá Nhỡ (Pagrus major), màu xám trắng nhƣ M. berda, màu
đen (M. sarba, M. macrocephlus), hoặc màu vàng nhƣ cá Tráp vàng (Taius tumifron),
hoặc màu ánh vàng nhƣ cá Tráp Địa Trung Hải (Sparus aurata) [21, 89, 92].
Nhiều nghiên cứu về vùng phân bố của cá tráp vây vàng đã khẳng định loài cá
này có vùng phân bố tƣơng đối rộng, trên tất cả các mặt nƣớc (mặn, lợ, ngọt) [69]. Đặc
biệt là ven bờ biển của các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Thái Bình Dƣơng và
Ấn Độ Dƣơng bao gồm cả India, Srilanca, Bangladesh, Philippine, Taiwan và Việt Nam
[67]. Theo Nguyễn Nhật thi (1971) thì ở Việt Nam cá Tráp vây vàng có mặt khắp nơi
trong tất cả các thủy vực nƣớc mặn, lợ, đặc biệt là các tỉnh ven biển Vịnh Bắc Bộ [52].
- 60 con/m
3
, tốc độ tăng trƣởng trung bình là 800g/con trong vòng 6 - 7 tháng nuôi ở
Israel. Với mật độ nuôi 140 con/m
3
, cá có thể đạt 700g/con khi nuôi trong thời gian 10
- 14 tháng và cho ăn bằng thức ăn đạm cao [81].
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với phạm vi giới tính của quần đàn, từ tuyến
sinh dục qua các hiện tƣợng lƣỡng tính sơ khai cho tới khi thành thục sinh dục, giới
tính của nó đã có biểu hiện thiên về tính đực hay cái [68, 90]; hiện tƣợng lƣỡng tính
này cũng thấy xuất hiện ở các họ cá Tráp (Sparidae, Teleostei) đã đƣợc đề cập lần đầu
tiên bởi Syrski (1876), A’ancona (1949), đã có những dự đoán về sự chuyển đổi giới
tính trong loài cá này mặc dù hiện tƣợng lƣỡng tính của tuyến sinh dục vẫn tiếp tục
xảy ra [68]. Theo Buxton, C.D. and P.A. Garrantt (1990) hiện tƣợng tính đực chính
11
hoặc cái có thể tìm thấy ở ngay cạnh hiện tƣợng lƣỡng tính thô sơ (ngay cả khi không
phải giai đoạn đầu của con đực hoặc cái) [70].
Một số tác giả khác cũng đã xác nhận cá Tráp vây vàng ở giai đoạn đầu là
lƣỡng tính. Kết quả nghiên cứu của Boxton C.D và Garrantt P.A., (1990) cho thấy tuổi
và kích thƣớc cá đực bắt đầu đổi giới tính thành cá cái ở các vùng địa lý khác nhau
cũng có sự khác nhau. Sự chuyển đổi giới tính thông thƣờng xảy ra khi cá đực khoảng
trên 1 tuổi. Sự chuyển đổi giới tính cũng có thể xảy ra sớm hơn ở những quần đàn sớm
bị già cỗi [70].
Mùa vụ sinh sản của cá Tráp vây vàng diễn ra từ tháng XII năm trƣớc kéo dài tới
tận tháng IV năm sau [87]. Mùa vụ sinh sản của cá Tráp vây vàng cũng khác nhau với
những họ khác nhau. Dựa trên cơ sở cá giống và số lƣợng khai thác đƣợc cá giống của
ngƣ dân ngoài tự nhiên, Morgan (1995) cũng đã xác định đƣợc mùa sinh sản diễn ra từ
tháng I đến tháng IV hàng năm và đặc biệt cao điểm vào tháng II và tháng III [80].
Sức sinh sản tuyệt đối của cá Tráp biến động nhƣ đa số loài cá khác, khi tuổi cá
1.2.1.1.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ vùng nghiên cứu
Bờ biển Quảng Trị có chiều dài khoảng 75 km thuộc địa phận của 4 huyện Vĩnh
Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng. Có 2 cửa biển lớn là Cửa Tùng, Cửa Việt;
bãi biển Mỹ Thủy và nhiều cửa, lạch nhỏ đổ ra biển. Vùng cát ven biển Quảng Trị có
diện tích 43.675ha trong đó diện tích đất cát là 30.000ha tập trung ở 25 xã và thị tứ,
chiếm khoảng 7,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.[11]
Lãnh thổ nghiên cứu đƣợc giới hạn trong phạm vi toạ độ địa lý từ 16
0
38’38” -
17
0
10’23” độ vĩ Bắc; 106
0
52’08” - 107
0
23’06” độ kinh Đông. Vùng ven biển tỉnh
Quảng Trị tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Phía Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phía Đông giáp biển Đông.
- Phía Tây giáp vùng đồng bằng của tỉnh Quảng Trị.
Do kiến tạo địa chất, vùng đồi thấp Đông Trƣờng Sơn ăn ra tận biển. Bờ biển từ
Cửa Tùng mở ra phía Bắc (khoảng 12 km) dƣới chân đồi đất đỏ bazan thuộc các xã
Vĩnh Quang, Vĩnh Thạch (huyện Vĩnh Linh). Dãy đồi đất đỏ bazan này phân chia
vùng cát ven biển tỉnh Quảng Trị ra 02 khu vực:
- Khu vực phía Bắc của tỉnh, theo đƣờng bờ biển dài 18 km, chiều rộng trung
bình từ bờ vào đất liền khoảng 3 km.
- Khu vực phía Nam chạy dài từ Nam Cửa Tùng đến giáp tỉnh Thừa Thiên Huế
dài khoảng 45km qua địa phận 3 huyện: Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng, chiều
rộng trung bình từ bờ vào khoảng 5 km, chỗ rộng nhất tính từ bờ vào hết vùng cát nội
2
(2007). Các
tháng giữa mùa mƣa có lƣợng bức xạ thấp nhất khoảng 6,5-8,5 kcal/cm
2
.tháng. Chênh
lệch giữa hai tháng cực đại và cực tiểu khoảng 6-7kcal/cm
2
/tháng.
Tổng lƣợng bức xạ năm lớn, chênh lệch bức xạ giữa các tháng không lớn, cán
cân bức xạ luôn dƣơng và lớn là cơ sở của nền nhiệt độ tƣơng đối cao và ít bị biến đổi
trong năm.
1.2.1.2.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm tại khu vực từ 24
0
C - 26
0
C, cao nhất là tháng VII và
thấp nhất là tháng I - II. Mùa nóng bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX, với
nhiệt độ trung bình khoảng 25
0
C. Vào những ngày có gió Tây Nam khô nóng (V đến
tháng VIII), nhiều nơi nhiệt độ không khí lên trên 40
0
C, tại các khu vực không có thảm
thực vật lên đến 57 - 58
0
C. Số ngày có nhiệt độ > 35
0
C và độ ẩm < 45% trên vùng cát
khoảng 35 - 36 ngày. Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng XII năm trƣớc đến tháng III năm
170-236 mm. Vào các tháng mùa hè (tháng V đến tháng VII) lƣợng bốc hơi chiếm tới
70-75% lƣợng bốc hơi cả năm. Đây là nguyên nhân làm thiếu nƣớc vào mùa khô, ảnh
hƣởng đến hoạt động sản xuất của ngƣời dân, đồng thời khiến lớp phủ thực vật nghèo
nàn, đất thiếu nƣớc nghiêm trọng đã làm gia tăng quá trình cát bay.
1.2.1.2.6. Bão lụt
Bão lụt uy hiếp trực tiếp đến vùng cát ven biển, bão thƣờng xuất hiện trong mùa
mƣa và tập trung nhất là các tháng VIII, IX, X. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất vào
tháng IX là 37 %. Bão thƣờng kèm theo mƣa to và gió lớn làm cho quá trình cát bay
diễn ra mạnh mẽ hơn.
Vào mùa mƣa nƣớc trên các hệ thống sông dồn về vùng đồng bằng và vùng cát
ven biển. Mặt khác trong các cơn bão mực nƣớc biển dâng cao cuốn trôi nhà cửa của
15
ngƣời dân và các công trình xây dựng ven bờ và vùng cửa sông vào theo đó là một
lƣợng lớn cát bị cuốn trôi đi nơi khác
1.2.1.3. Điều kiện thủy văn và sinh học vùng ven biển
1.2.1.3.1. Chế độ thủy triều
Vùng biển Quang Trị chịu ảnh hƣởng của chế độ bán nhật triều không đều. Hầu
hết các ngày trong tháng đều có 2 lần triều lên và 1 lần triều xuống. Biên độ thủy triều
tƣơng đối thấp, khoảng 0,6-1,2m. Trong kỳ nƣớc cƣờng độ lớn triều Cửa Tùng khoảng
trên dƣới 0,5m; tại Cửa Việt 0,4m. Riêng vùng Cửa Tùng đã có tính chất bán nhật triều
đều, chênh lệch về thời gian triều lên và triều xuống hầu nhƣ không có, chỉ có chênh
lệch độ cao của hai lần nƣớc ròng thể hiên tƣơng đối rõ.
1.2.1.3.2. Dòng Chảy
Hoạt động dòng hải lƣu tồn tại quanh năm theo chế độ gió mùa:Thời kỳ gió
mùa đông bắt dòng chảy theo hƣớng từ Bắc vào Nam, thời kỳ gió mùa tây nam thì
dòng chảy theo hƣớng ngƣợc lại
1.2.1.3.3. Nhiệt độ nước
Nhiệt độ nƣớc biển tầng mặt vào mùa đông trung bình 21-24
0