phương pháp dạy học văn, của dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể và thực tế dạy học kịch ở nhà trường THCS - Pdf 26

Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
MỤC LỤC
Trang
Mục lục..................................................................................................................1
Phần mở đầu..........................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề....................................................................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................6
3.1. Mục đích nghiên cứu......................................................................................6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................7
4.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................7
4.2. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................7
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................7
6. Cấu trúc của tiểu luận khoa học.........................................................................7
Chương I: Cơ sở lí thuyết......................................................................................9
1. Cơ sở lí thuyết thể
loại.......................................................................................9
2. Cơ sở lí thuyết phương
pháp............................................................................11
2.1. Phương pháp đọc sáng tạo............................................................................12
2.2. Phương pháp gợi tìm....................................................................................13
2.3. Phương pháp phân tích, cắt nghĩa, bình giảng.............................................14
2.4. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................15
2.5. Phương pháp tái tạo......................................................................................16
Chương II: Tác giả, thời đại, văn hóa, tác phẩm lớn...........................................18
1. Thời đại, văn hóa.............................................................................................18
2. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Môlie..........................................................22
2.1. Cuộc đời của Môlie......................................................................................22
2.2. Sự nghiệp sáng tác của Môlie.......................................................................25
1

trị phê phán tố cáo xã hội lớn lao, có giá trị giáo dục thẩm mĩ sâu sắc. Các sáng
tác của ông là phòng tranh giàu tính hiện thực và nhân đạo triển lãm xã hội Pháp
thế kỉ XVII. Đặc biệt là với hài kịch Trưởng giả học làm sang Môlie đã dẫn
người đọc đến một tiếng cười nhiều cung bậc, từ cái cười vui, nhẹ nhàng, dí
dỏm, vô thưởng vô phạt đến cái cười mỉa mai chua chát, dẫn đến cái cười thâm
trầm, sâu sắc, nặng tính chất châm biếm, đến cái cười đau đớn xót xa cười ra
nước mắt. Tiếng cười bao hàm một tư tưởng sâu sắc, một sự tìm tòi xem xét
nghiêm túc, một thái độ biểu hiện tích cực và có giá trị chiến đấu cao. Với tiếng
cười nhiều cung bậc Môlie đã đưa vở kịch “Trưởng giả học làm sang” đến đỉnh
cao của sự thành công.
Chính vì thế mà hài kịch Trưởng giả học làm sang được đưa vào chương
trình THCS qua đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục.
3
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
Bên cạnh đó, việc dạy học kịch bản văn học trong nhà trường THCS vẫn
đang là một vấn đề nan giải. Từ trước đến nay, hiếm có một giờ dạy học kịch
nào thành công. Cũng có lẽ bởi nguyên nhân chủ yếu là người giáo viên thường
dạy học kịch như dạy học các tác phẩm tự sự mà không nắm vững kiến thức về
đặc trưng thể loại kịch bản để dạy học. Giáo viên vẫn còn dạy học theo phương
pháp truyền thống. Cho nên, chất lượng hiệu quả giờ dạy học kịch chưa cao,
hứng thú, niềm say mê với kịch bản của học sinh dường như không có. Khi giáo
viên đưa ra câu hỏi cho học sinh làm sau giờ dạy, cụ thể tại lớp 8A Trường
THCS Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn, năm học 2009-2010 thì số học sinh đạt
yêu cầu chiếm 79%, chưa đạt yêu cầu chiếm 21%. Chính vì vậy, một yêu cầu
cấp bách được đặt ra là phải trang bị cho giáo viên và học sinh đặc trưng thể loại
của kịch và phải nâng cao chất lượng giờ dạy học kịch bằng những phương pháp
và biện pháp thích hợp.
Từ tầm quan trọng của môn phương pháp dạy học văn, của dạy học tác
phẩm văn chương theo loại thể và thực tế dạy học kịch ở nhà trường THCS đã
thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài này.

xây dựng tính cách, nghệ thuật gây cười, nghệ thuật kịch”. Ông rất đề cao tài
năng Môlie và coi “đó là một tấm gương sáng của một nhà văn thiết tha và tận
tụy với nghề, trước sau cho đến lúc chết không xa rời cái lí tưởng cười cợt để
sửa chữa phong tục, cải tạo xã hội”. Trong lịch sử sân khấu thế giới, NXB Văn
hóa Hà Nội, các tác giả cũng đã trình bày khá đầy đủ về tình hình phát triển
chung của sân khấu Pháp trong thế kỉ XVII và cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của
Môlie.
Nguyễn Văn Chính trong văn học phương tây đã dành khá nhiều trang viết
để giới thiệu về Môlie và ông đã nhấn mạnh đến vai trò của Môlie trong lịch sử
phát triển của hài kịch và đã đề cập ít nhiều đến vấn đề tiếng cười trong hài kịch
Môlie. Điều này được thể hiện qua bài viết “Môlie-một tài năng nảy sinh trong
rèn luyện và đấu tranh gian khổ”.
5
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
Đặc biệt tiêu biểu là công trình của Lê Nguyên Cẩn. Ông đã nghiên cứu khá
kỹ về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Môlie. Theo tác giả: cuộc đời
của nhà hài kịch này gắn liền giữa vinh quang và sóng gió.
Khi nói về trích đoạn Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục,Vũ Dương Quỹ - Lê
Bảo trong cuốn “Bình giảng văn 8” đã viết “Con người sẽ không còn là con
người nếu bị nhiễm độc về tinh thần. Sự biến chất, sự thoái hóa sẽ diễn ra như
một thứ nguy cơ không thể nào tránh được” (13,140).
Sách giáo viên Ngữ văn 8-tập 2, khi nói về tính cách trưởng giả học làm
sang của ông Giuốc-đanh thì viết “Ông sẵn sàng cho hết cả tiền để được làm
sang”(6,154). Chính vì thế, Đỗ Ngọc Thống trong Tư liệu Ngữ văn 8 đã viết
“Không khí kịch càng về sau càng sôi động, cho đến cuối cảnh sau thì không khí
hài kịch thực sự náo nhiệt”(4,276).
Như vậy việc nghiên cứu về Môlie và tác phẩm “Trưởng giả học làm sang”
cũng như trích đoạn “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” được tiến hành dưới nhiều
dạng tổng quát chung. Những nhận xét đánh giá đều rút ra từ các mặt khác nhau.
Bên cạnh đó, trích đoạn “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” đã được đưa vào

sang”), (sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2, NXB giáo dục, 2004, từ trang 117 đến
trang 122).
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm hài kịch “Trưởng giả học làm
sang” của Môlie.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài này chúng tôi chỉ đi nghiên cứu về tác phẩm “Trưởng giả học làm
sang” từ góc độ là một tác phẩm kịch được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn
8 - tập 2 để đưa ra những phương pháp, biện pháp dạy học nó một cách có hiệu
quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương hướng tiếp cận vấn đề của chúng tôi chủ yếu là tiếp cận hệ thống
phát huy sự chủ động tích cực của người học và tích hợp Ngữ văn.
Trong quá trình thực hiện Tiểu luận khoa học này, chúng tôi còn sử dụng
những phương pháp cụ thể như:
7
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
- Phương pháp đọc – hiểu.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp khảo sát - thống kê.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp.
6. Cấu trúc của Tiểu luận khoa học.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Tiểu luận khoa học này chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết.
Chương II: Tác giả, thời đại, văn hoá, tác phẩm lớn.
Chương III: Định hướng dạy học.
8
Tiu lun tt nghip Nguyn Vn Trng
CHNG I: C S Lí THUYT
1. C s lý thuyt th loi.
Cho đến nay, việc dạy học tác phẩm văn chơng trong nhà trờng cha ra khỏi

mã hoá qua hình ảnh,ngôn ngữ, nhạc điệu, tiết tấu đ ợc tác động đến qua kênh
nghe, kênh nhìn khi trực tiếp, khi gián tiếp có khi là sự hội tụ gây ra những độ
xung nghệ thuậtkích thích một cách tổng hợp vào các giác quan theo trờng liên t-
ởng ở mỗi ngời đọc, tạo ra sự lây lan cảm xúc.
loại hình đặc biệt nh hài kịch có sự tập trung cao độ của tình huống gay go
nhất, kịch liệt nhất, ở đó tính cách của nhân vật và t tởng của tác phẩm đợc bộc lộ
một cách rõ ràng, sâu sắc nhất. Và trong loại hình này ngôn ngữ trực tiếp của nhân
vật là chính, còn ngôn ngữ gián tiếp của tác giả gần nh bị triệt tiêu. Vì vậy, ngôn
ngữ trực tiếp trong kch vừa tất yếu lại vừa t nhiên, vừa điển hình lại vừa cá biệt.
Thuật ngữ kch đợc dùng theo hai cấp độ:
cấp loại hình, kịch là một trong ba phơng thức cơ bản của văn học
(kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để
diễn là chủ yếu lại vừa để đọc. Vì vậy kịch bản chính là phơng diện văn học của
kịch. Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn
viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ, bằng cả lời nói.
Trên cấp độ loại hỡnh, kịch bao gồm nhiều thể loại bi kịch, hài kịch, chính
kịch cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau
cấp độ loại thể, thuật ngữ kịch đợc dùng để chỉ một thể loại văn học sân
khấu có vị trí tơng đơng với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch cũng gọi là
chính kịch (hoc kch ram)(23,142-143).
Hài kịch (kịch vui, kịch cời) là một thể loại kịch, trong đó tính cách và tình
huống, hành động đợc thể hiện dới dạng buồn cời hoặc ẩn chứa cỏi hài, nhằm giễu
cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ ra
10
Tiu lun tt nghip Nguyn Vn Trng
khỏi đời sống xã hội. Nó là thể loại đối lập với bi kịch. Hài kịch kết thúc nhất thiết
phải có hậu, vui vẻ.
Hài kịch của Môlie nói chung, vở hài kịch Trởng giả học làm sang nói riêng,
đợc coi là mẫu mực của thể loại hài kịch cổ điển. Nói cụ thể hơn về thể loại: Đây
là vũ khúc hài kịch vì trong vở có xen những màn ca múa.

thể giáo viên có thể chọn lựa phương pháp nào đó trong hệ thống các phương
pháp làm phương pháp chủ đạo.
Với việc vận dụng dạy học hài kịch “Trưởng giả học làm sang”, chúng tôi dựa
trên cơ sở xác định giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, những thuận lợi
khó khăn khi dạy học hài kịch “Trưởng giả học làm sang”, cùng với những
nguyên tắc riêng đối với vở kịch khi dạy học để lựa chọn những phương pháp
chủ yếu sau trong dạy học hài kịch “Trưởng giả học làm sang”, mà tiêu biểu là
dạy học trích đoạn “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” trong vở hài kịch này:
Phương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm, nghiên cứu, tái tạo, phân tích, cắt nghĩa,
bình giá, đàm thoại.
2.1. Phương pháp đọc sáng tạo
Đây là phương pháp đặc biệt được sinh ra do chính dặc trưng bộ môn. Nó là
hệ thống của những biện pháp khác nhau hỗ trợ, nhưng trung tâm vẫn là đọc. Nó
không chỉ quy về có việc “tập đọc” hiểu theo nghĩa đơn giản, mà nó thể hiện ở
nhiều biện pháp có tính phương pháp khác nhau của tác giả và hoạt động khác
nhau của học sinh.
Mục đích của phương pháp này là phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và
thêm được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật.
Phương pháp này thông qua việc đọc hoặc các hoạt động hỗ trợ cho đọc
hình thành được ở các em những sự thể nghiệm nghệ thuật khuynh hướng và
năng khiếu nghệ thuật. Phương pháp đọc sáng tạo tác động đến người đọc,
người nghe cả âm thanh và tư tưởng cùng một lúc, được sử dụng hầu như
thường trực trong tiết học. Trung tâm của phương pháp đọc sáng tạo là đọc diễn
cảm. Đỉnh cao của đọc diễn cảm là đọc nghệ thuật của giáo viên, đọc có kèm
theo phân tích, bình luận...
12
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
Đọc sáng tạo có nhiều biện pháp: đọc hướng dẫn, đọc có phân tích, kể
chuyện hoặc đọc thuộc lòng, phát biểu cảm nghĩ...
Trong phương pháp đọc sáng tạo cả thầy và trò cùng tham gia đọc diễn

đọc, tự khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Câu hỏi phải đảm bảo
tính khoa học, tính hệ thống, tính nghệ thuật, tính sư phạm và phải phù hợp với
quy luật tiếp nhận tác phẩm văn chương.
Xây dựng hệ thống bài tập vê văn bản cho công việc của người học ở dạng
lớp, nhóm, tổ, cá nhân, bài tập khác nhau để nói hoặc viết.
Trên cơ sở những kiến thức của các em đã thu được ở phần đọc hiểu trích
đoạn “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi của
giờ dạy bám sát theo nội dung văn bản trong sách giáo khoa.
2.3. Phương pháp phân tích, cắt nghĩa, bình giá
Quy luật của sự tiếp nhận nói chung và trong tiếp nhận tác phẩm văn
chương nói riêng là đi từ nông đến sâu, từ cụ thể đến khái quát, từ cảm tính đến
lí tính.
Do vậy, người giáo viên phải lựa chọn những phương pháp, biện pháp nào
phù hợp với sự tiếp nhận này của học sinh. Xét về một khía cạnh nào đó, các
thao tác phân tích, cắt nghĩa, bình giá nằm trong một hệ thống được sắp xếp theo
một cấp độ tuyến tính nhất định theo chiều tăng tiến dần mức độ sâu sắc và toàn
diện của quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học. Hoạt động phân tích, cắt nghĩa,
bình giá là những thao tác không thể thiếu trong bất kì một giờ dạy học văn
chương nào. “Phân tích” là hoạt động chia nhỏ đối tượng, là đi từ các hoạt động
riêng lẻ của tác phẩm văn học để phát hiện, khám phá mối tương quan giữa
chúng, để từ nhận thức, từ những hiểu biết cụ thể riêng lẻ đi tới nhận thức
chung, sâu sắc hơn. Phân tích đi khai mở các tầng giá trị ý nghĩa của tác phẩm,
tiếp nhận thông tin nghệ thuật ẩn tàng, tức là tìm ra “cái được biểu đạt” trong
chiều sâu tác phẩm. Việc chia cắt tác phẩm thành nhiều yếu tố để xem xét là một
hoạt động rất cần thiết để giúp người học không bỏ qua mọi sự sáng tạo nào của
tác giả. Vì công việc phân tích giống như việc tháo gỡ một cấu trúc để lần ra
mối dây liên kết giữa các thành phần, rồi từ nguyên liệu, bộ phận đã tách rời ấy,
14
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
người đọc bằng cảm nhận và sáng tạo riêng của mình sẽ tạo ra một cấu trúc mới

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp giúp học sinh tìm ra đối tượng
khảo sát ít nhiều mới mẻ mà trước đó chưa biết. Nó phát triển kĩ năng tự phân
tích tác phẩm, tự đánh giá những thành tựu về nội dung và nghệ thuật ở người
học sinh. Câu hỏi, bài tập của phương pháp này phải mang tính chất nghiên cứu.
Nếu phương pháp gợi tìm đi vào từng mặt, từng bộ phận của tác phẩm thì
phương pháp nghiên cứu lại theo hướng khác: sau khi học sinh nắm được các
biện pháp làm việc rồi tự giải quyết các nhiệm vụ phức tạp hơn biết vận dụng
các tri thức đã có vào xử lí những tư liệu mới mẻ, phát biểu được ý kiến có lập
luận, có căn cứ của mình.
Các biện pháp cụ thể là: thầy nêu vấn đề cho cả lớp, từng nhóm, từng cá
nhân nhận vấn đề mình thích để giải quyết. Trong phương pháp này, thày có thể
hướng dẫn các em phương pháp khảo cứu để học sinh tự phân tích những tác
phẩm hướng các em đi theo một chiều đúng đắn. Học sinh vận dụng phương
pháp nghiên cứu như tự lực phân tích một số phần, một số tình tiết đối chiếu hai
hay nhiều quan điểm xung quanh một hiện tượng văn học hay một hình tượng
văn học...
Khi học sinh đã hiểu kĩ hiểu sâu về tác phẩm, sẽ là cơ sở để giáo viên tiến
hành phương pháp tái tạo trong giờ học để thể nghiệm sự hiểu biết của học sinh
về tác phẩm và khắc sâu kiến thức của bài học.
2.5. Phương pháp tái tạo
Thực chất đây là phương pháp nhớ một cách sáng tạo. Phương pháp này
hướng hoạt động của học sinh vào những tri thức có sẵn trong ngôn ngữ hoặc
bài giảng của giáo viên, sách giáo khoa đã được chọn lọc. Học sinh không hoàn
toàn ghi nhớ máy móc mà chiếm lĩnh tri thức một cách có ý thức. Tức là tăng
cường hoạt động của tư duy để thuộc, nhớ bài đạt kết quả tối đa.
Biện pháp có thể là giáo viên kể về cuộc đời và tác phẩm của nhà văn, đọc
bài giảng về con đường sáng tạo và tác phẩm của nhà văn hoặc giáo viên có thể
ra bài tập theo sách và tài liệu giáo khoa yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi dựa vào
tư liệu tự chọn, chuẩn bị tư liệu minh họa.
16

nguồn lợi to lớn. Giai cấp tư sản thế kỉ XVII đã cung cấp cho chính quyền
phong kiến một hệ thống nhân viên trong đó một số giữ chức những chức vụ
trọng yếu trong bộ máy nhà nước phong kiến tập trung. Các nhà văn lớn của thế
kỉ cũng xuất hiện từ tầng lớp viên chức có văn hóa này như P.Cornay, J.Raxin,
J.B.molie, N.D.Boalo, J.Đờ Laphongten....
Song song với sức mạnh của giai cấp tư sản là quá trình suy thoái của tầng
lớp quý tộc. Tư tưởng phong kiến cát cứ bị đánh bại, bọn quý tộc bị lãnh chúa
phong kiến từng một thời xưng hùng, xưng bá ở các địa phương nay thất thế bị
dồn vào cung đình sống bằng lộc bố thí và ân huệ ban phát của nhà vua. Tuy
nhiên tầng lớp quý tộc vẫn giữ nhiệm vụ bảo vệ chế độ phong kiến và duy trì sự
thống trị của giai cấp này. Nhưng hình thức nhà nước thì đã thay đổi: Nhà nước
18
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
quân chủ chuyên chế - còn gọi là Nhà nước quân chủ tuyệt đối ra đời. Sự xác lập
chế độ quân chủ chuyên chế là biểu hiện về chính trị của quá trình phong kiến
tan rã và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Do đó nhà nước quân chủ
chuyên chế là hình thức nhà nước của một thời kì quá độ trong đó lực lượng so
sánh giữa phong kiến và tư sản đang ở thế cân bằng. Đó cũng là một sự thỏa
hiệp về mặt nhà nước giữa hai thế lực phong kiến và tư sản. F.Ăngghen đã xác
định nhà nước quân chủ chuyên chế “thế quân bình đối lập giữa phong kiến và
tư sản ”. C.Mác cũng viết “nền quân chủ tuyệt đối ra đời trong những thời kì quá
độ, khi các đẳng cấp phong kiến cũ phân hóa, còn đẳng cấp thị dân Trung cổ thì
biến thành giai cấp tư sản hiện đại, nhưng chưa bên nào của các phái đối lập
mạnh hơn bên nào...”. Như vậy trong điều kiện lịch sử đó đã xuất hiện và tồn tại
một thế cân bằng lịch sử. Sự xuất hiện thế cân bằng trong chính trị giữa hai lực
lượng quý tộc và tư sản là một yếu tố lịch sử - xã hội quan trọng nhất có ảnh
hưởng quyết định đến sự phát triển của xã hội, đến sự hình thành và phát triển
dòng văn học cổ điển chủ nghĩa, dòng văn học chính thống của thế kỉ XVII.
Cùng với thế cân bằng lịch sử là tư tưởng trung dung, khoan hòa – tư tưởng lớn
của thời đại và cảm hứng về quốc gia, về tuân thủ nghĩa vụ công dân, sẽ là

khách quan có tác dụng phát triển kinh tế, thúc đẩy văn hóa, củng cố quốc
phòng, nâng cao được địa vị, uy tín quốc tế của nước Pháp. Đó là lí do khiến thế
kỉ XVII ở Pháp được gọi là “Thế kỉ của Lu-i XIV”, là “thế kỉ vĩ đại”.
Văn hóa Pháp là một trong những cái nôi văn hóa của Châu Âu, nền văn
hóa Pháp được xây dựng và phát triển qua hàng ngàn năm cùng với dòng phát
triển lịch sử đất nước từ hàng trăm năm trước công nguyên. Văn hóa Pháp đã
tồn tại song song với các thời kì phát triển rực rỡ nhất, mang tính cột mốc của
nền văn hóa nhân loại: Thời kì la mã cổ đại, thời kì phong kiến trung đại và thời
kì phục hưng, cho đến cuộc cách mạng tư sản vào thời kì hiện đại. Nền văn hóa
đồ sộ độc đáo này vẫn tiếp tục được người Pháp bảo tồn và gìn giữ cẩn thận.
Đến Pháp để thưởng thức nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật, văn học cổ đại
tồn tại ngay trong lòng đất nước hiện đại bậc nhất của Châu Âu.
20
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
Nước Pháp trở thành trung tâm chính trị, trung tâm của các hoạt động xã
hội của các thế lực phong kiến Châu Âu. Nhờ có địa vị độc tôn về quân sự và
chính trị, nhờ sự phát triển mạnh về kinh tế, nước Pháp vươn lên chiếm địa vị
hàng đầu trong lĩnh cực tư tưởng văn hóa. Nền văn hóa Pháp ở thế kỉ này đã đạt
được những thành tựu lớn lao, ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ các nền văn hóa
Tây Âu khác. Do đó khi nói tới thế kỉ XVII trong văn học Tây Âu người ta chỉ
cần nói đến nền văn học Pháp với đỉnh cao là chủ nghĩa cổ điển. Vào thời đại ấy,
các buổi biểu diễn nghệ thuật thực sự đã trở thành những ngày hội lớn được
trang hoàng lộng lẫy, được tổ chức quy mô, đời sống xa hoa khiến các nước
khác phải thèm khát. Các nhà thơ, nhà văn đông đảo, ra sức đem tài năng và trí
tuệ ra để thi thố, phục vụ và kiếm sống. Các tác phẩm lớn bất hủ cũng ra đời. Vì
thế nền văn hóa Pháp thế kỉ này còn măng đặc điểm một nền văn hóa cung đình.
Năm 1683, Cônbe chết, tạo nên sự chuyễn hướng mới của đời sống vất chất
và tinh thần Pháp cuối thế kỉ XVII. Chính sách kinh tế Cônbe bị vứt bỏ, gánh
nặng về chi phí quân sự do chiến tranh Hà Lan, Anh dẫn đến sự suy sụp về kinh
tế. Còn vua Mặt trời Lu-i XIV ngày càng trở nên độc tài. Với bộ quần áo đi săn

A.Jang Baptixto Pocolanh (Môlie) sinh tại Pari, trong một gia đình tư sản
hầu cận nhà vua. Khoảng 1636 – 1639, ông được dạy dỗ chu đáo ở trường trung
học Clecmong nổi tiếng. Trong thời gian này, ông tỏ ra đặc biệt yêu thích văn
chương, nhiệt thành với triết học và chịu ảnh hưởng của Gaxangdi. Cha ông
định cho ông học luật và thừa kế chức vụ hầu cận nhà vua trong cung đình,
nhưng Pocolanh lại chọn sân khấu, gắn bó với một thứ nghề nghiệp thấp hèn vào
thời đó. Năm 1643 Pocolanh làm quen với nữ diễn viên Madolen Beja và cùng
với anh em nhà Beja xây dựng nên “Đoàn kịch Trứ danh”. Thiếu kịch bản, thiếu
diễn viên tốt, nên mặc dù đã hết sứs cố gắng nhóm thanh niên mê say sân khấu
này vẫn không thu được kết quả gì đáng kể. “Đoàn kịch Trứ danh” tan dã vào
năm 1645. Cuối năm đó, Pocolanh – lúc này đã lấy tên là Môlie quyết định cùng
anh em nhà Beja rời Pari về các tỉnh nhỏ.
Suốt 15 năm trời (1643 – 1658) khó khăn, thiếu thốn, Môlie và các bạn của
ông đi lang thang khắp nước Pháp. Dọc đường, sáp nhập với một đoàn khác,
22
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
đoàn kịch của Môlie đã đi qua và biểu diễn ở nhiều nơi. Mười lăm năm lưu lạc
giang hồ chính là thời gian chuẩn bị cho Môlie một sự nghiệp sáng tác lớn. Nó
giúp Môlie hiểu biết và tích lũy thêm nhiều thực tế cuộc sống và kinh nghiệm
sống trong xã hội Pháp vào lúc đang có vụ nổi loạn La Frongdo. Nó giúp Môlie
tiếp xúc rộng rãi với các gánh hát rong ở các địa phương, học tập ở họ, cạnh
tranh với họ. Nó giúp Môlie kiểm tra lại mình, nhận thức rõ về mình với tất cả
chỗ mạnh, chỗ yếu và hướng đi lâu dài. Môlie – người diễn viên, người đạo
diễn, người sáng tác kịch bản, người lãnh đạo đoàn kịch – đã trưởng thành lên từ
15 năm gian khổ không thể thiếu được đó.
Từ 1650, Môlie đã trở thành người đứng đầu đoàn kịch và đã có điều kiện
để xây dựng dần một số tiết mục sân khấu đặc sắc. Ông bắt đầu viết những kịch
hề và hài kịch trong đó vận dụng những kinh nghiệm của kịch mặt nạ Italia về kĩ
thuật, về hành động, về tính cách...Những vở kịch đầu tay của Môlie – Chàng
ngốc (1655), Ghen (1656) báo hiệu một tài năng xuất sắc.

xã hội Pháp cuối thế kỉ XVII. Những thế lực phản động được triều đình che chở
lập tức la ó om xòm, hùa nhau tìm cách đe dọa, hành hung Môlie. Đây là giai
đoạn đấu tranh căng thẳng nhất của Môlie.
Sau đó cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Môlie bớt sôi động hơn với
những vở Lão hà tiện (1668), Trưởng giả học làm sang (1670), Những bà thông
thái (1672), Người bệnh tưởng (1673)... Nhiều lần tính mạng bị đe dọa và xúc
phạm nhưng may mắn thay Môlie luôn được vua Lui-XIV ưu ái và che trở cho
ông.
Ngày 17/11/1673, trong đêm diễn thứ tư vở Người bệnh tưởng, đóng vai
nhân vật chính, Môlie đã kiệt sức trên sân khấu. Ông được đưa ngay về nhà và
chỉ hơn một giờ sau thì chết. Nhà thờ vốn thù ghét Môlie, nay ngăn cản việc mai
táng ông theo nghi thức của tôn giáo. Vợ ông phải phục xuống chân vua Lui
XIV hết lời cầu khẩn nhờ nhà vua giúp đỡ mới được phép chôn ông vào lúc đêm
khuya, ở nghĩa địa của nhà thờ.
24
Tiểu luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Trường
Môlie và vua Lui XIV
Đời hoạt động của Môlie là cuộc đời, một mặt thì kiên trì rèn luyện trong
thực tế vĩ đại của nhân dân, một mặt thì đấu tranh không khoan nhượng với
những lực lượng xã hội đen tối, cống hiến trọn vẹn cho nghệ thuật chân chính.
Chỉ riêng cuộc đời ấy cũng khiến Môlie trở nên bất hủ.
2.2. Sự nghiệp sáng tác của Môlie
Trong 30 năm hoạt động sân khấu, quá trình sáng tác của Môlie đã hình
thành qua bốn giai đoạn chính:
* Giai đoạn thứ nhất: 1645 – 1658
Đây là giai đoạn lang thang, phiêu bạt của Môlie. Sáng tác chủ yếu là kịch
hề. Phần lớn kịch bản đã thất lạc cả. Một vở còn giữ lại được: Thằng ngốc
(1655). Đây là vở kịch 5 màn, sáng tác theo nguyên tắc kịch hề, cốt chuyện
mượn được của văn học Italia. Kịch đã chắp vá vụn vặt các sự kiện. Tính cách
nhân vật chưa hình thành rõ. Nhiều trò hề được đưa lên sân khấu. Đáng chú ý là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status