MỤC LỤC
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP
HÀNG KHÔNG 3
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP HÀNG KHÔNG 3
1.2. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ HÃNG HÀNG KHÔNG TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 6
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG
TY HÀNG KHÔNG 13
VIỆT NAM 13
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 13
2.2. TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM 14
2.2.2.1. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC TỔNG QUÁT 16
MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC TỔNG QUÁT LÀ CĂN CỨ QUAN TRỌNG ĐỂ TCT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC. MỤC TIÊU
CHIẾN LƯỢC TỔNG QUÁT CỦA TCT LÀ: 16
2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY THÔNG QUA VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA 18
2.4. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 22
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM 25
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA 25
TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 25
3.1.THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 25
3.3.QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 28
3.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG
KHÔNG VIỆT NAM 30
3.5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG
CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 43
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. HK: Hàng không
cạnh tranh quyết liệt không chỉ tại thị trường vận tải HK quốc tế mà ngay cả tại
thị trường vận tải HK nội địa. Vì vậy, để phát triển TCTHK Việt Nam trong điều
kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế, yêu cầu cấp bách là phải xây dựng được một
chiến lược phát triển phù hợp.
Chiến lược phát triển của ngành HKDD Việt Nam nói chung và của
TCTHK Việt Nam nói riêng đã được đặt vấn đề và nghiên cứu từ những năm
1990 và đã một số lần trình Chính phủ như: Chiến lược phát triển của TCTHK
Việt Nam giai đoạn 1991-2000, tại Tờ trình 1266/TCT ngày 18/6/1991; Chiến
lược phát triển của TCTHK Việt Nam giai đoạn 2001-2010, tại Tờ trình
2208/TCT ngày 15/11/1999; Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 của TCTHK Việt
Nam, tại tờ trình 1656/TT-HĐQT-TCTHK ngày 07/9/2001; Kế hoạch 5 năm
2006 - 2010 của TCTHK Việt Nam, tại tờ trình 1925/TT-HĐQT-TCTHK ngày
1
30/12/2004. Tuy nhiên, thực trạng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chiến
lược của TCTHK Việt Nam trong những năm qua còn nhiều bất cập. Những bất
cập này phải sớm được xem xét, giải quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh của
TCT. Vì vậy, việc xây dựng Chiến lược phát triển được xác định là một nhiệm
vụ trọng tâm của TCT hiện nay và Ban Đầu tư (cơ quan Tác giả hiện đang công
tác) là một trong những cơ quan được giao nhiệm vụ chính trong việc xây dựng
Chiến lược này.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên đây, Tác giả lựa chọn đề tài của
Chuyên đề là “Định hướng Chiến lược phát triển của Tổng công ty Hàng
không Việt Nam đến năm 2020”
2. Kết cấu của Chuyên đề
Kết cấu của Chuyên đề gồm: Mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến lược phát triển của doanh
nghiệp Hàng không.
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển của
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của các DN trong lĩnh vực HKDD.
3
- Cạnh tranh trong vận tải HK mang tính chất toàn cầu, chất lượng sản
phẩm trong vận tải HK phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt và thống nhất
trên toàn thế giới.
- Chất lượng sản phẩm trong vận tải HK bị chi phối của rất nhiều yếu tố,
trong đó có những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của một hãng HK (những yếu
tố liên quan đến chính sách thuế quan, an ninh, xuất nhập cảnh,…), vì vậy năng
lực cạnh tranh của một hãng HK bị phụ thuộc không nhỏ vào các yếu tố này.
- HKDD Việt Nam góp phần tích cực trong việc thực hiện các chủ trương
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách mở cửa và hội
nhập quốc tế. Trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá về kinh tế, vận tải HK
là chiếc cầu nối giữa các quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chính trị,
ngoại giao, thương mại đầu tư, du lịch, an ninh, quốc phòng.
1.1.2. Đặc thù của chiến lược phát triển của doanh nghiệp hàng không
Xuất phát từ đặc điểm của cạnh tranh trong lĩnh vực HK, chiến lược phát
triển của DN hàng không có những đặc thù sau đây:
Thứ nhất là ngành HK có 3 bộ phận gắn kết chặt chẽ với nhau: cảng HK, quản
lý bay và hãng HK. Cảng HK và quản lý bay tồn tại, phát triển nhờ hãng HK và vì
hãng HK; hãng HK tồn tại và phát triển nhờ hành khách và vì hành khách.
Đặc thù này chi phối các hoạt động của TCT với tư cách là một hãng HK
trong xây dựng chiến lược và kế hoạch SXKD. TCT sẽ không phát triển được nếu
hạ tầng cảng HK và quản lý bay không phát triển một cách đồng bộ. Mặt khác
TCT không phát triển được nếu không có cơ chế nhất quán hướng về phục vụ
hành khách.
Thứ hai là hoạt động của ngành HK trong đó có vận tải HK mang tính toàn
cầu phải tuân thủ các quy định quốc tế như quy định của các tổ chức: Tổ chức
HKDD quốc tế (ICAO), Hiệp hội vận tải HK quốc tế (IATA), Hiệp hội các hãng
HK khu vực châu á Thái bình dương (AAPA),
Đặc thù này chi phối các hoạt động kinh doanh của TCT về mặt thị trường,
suy giảm GDP.
5
Đặc thù này đòi hỏi chiến lược phải xác định mục tiêu, phương hướng phát
triển trong một thời kỳ dài, nhằm đảm bảo cho DN phát triển bền vững, đồng
thời phải có một hệ số co giãn so với GDP ( các chuyên gia kinh tế đưa ra hệ số
co giãn giữa sản lượng vận tải HK với tốc độ tăng GDP từ 1,2-1,7 trong điều
kiện kinh doanh bình thường).
1.2. Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển của một số hãng hàng không
trên thế giới và bài học đối với Tổng công ty Hàng không Việt Nam
1.2.1. Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển của một số hãng hàng
không trên thế giới
Trong xu thế tự do hóa và mở cửa bầu trời đối với vận tải HK toàn cầu,
tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực vận tải HK trên thế giới ngày càng gay gắt,
không ít hãng HK đã phá sản hoặc phải sát nhập với các hãng HK lớn hơn để
tồn tại. Bên cạnh đó, một số hãng HK lại tận dụng được cơ hội này để phát triển
và nâng cao vị thế của mình trên thị trường hàng không thế giới. Có được điều
này bởi vì các hãng HK này đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển
đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thị trường HK thế giới. Điển hình về
kinh doanh thành công trong các hãng HK này là Singapore Airlines, Cathay
Pacific Airway và ngược lại, điển hình về thất bại trong kinh doanh là Hãng HK
Philippin Airlines.
1.2.1.1. Hãng hàng không Singapore Airlines
Singapore Airlines là một trong những hãng HK hùng mạnh nhất không chỉ
trong khu vực và cả trên thế giới. Trong nhiều thập kỷ qua, Hãng HK này đã xây
dựng cho mình một chiến lược phát triển đúng đắn, tận dụng tối đa các cơ hội và
sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của mình.
Về tổ chức, từ năm 1972 trở về trước, Singapore Airlines là DN 100% vốn
Nhà nước. Tuy nhên từ sau năm 1972, Singapore Airlines đã thực hiện cổ phần
hóa và cho tới nay phần vốn Nhà nước chiếm 54% vốn điều lệ, phần còn lại
thuộc sở hữu của các nhân viên Singapore Airlines, khu vực kinh tế tư nhân và
Air Transport bình chọn là Hãng HK của năm. CX hiện khai thác trên 120 máy
bay các loại của cả Boeing và Airbus, trong đó chủ yếu là các máy bay chở
khách, chở hàng thuộc loại lớn và hiện đại nhất hiện nay. Mạng đường bay
7
của CX hiện bay tới 130 điểm đến thuộc 36 quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế
giới.
Trong chiến lược phát triển của mình, CX coi thị trường hàng hóa là thị
trường tiềm năng và cũng tập trung đầu tư vào lĩnh vực này thông qua việc
tham gia cổ phần vào các hãng HK chuyên kinh doanh vận tải hàng hóa lớn
giữa Hong Kong với Châu Âu, Nhật Bản và Trung Đông. Hiện doanh thu vận
chuyển hàng hóa chiếm khá lớn trong tổng doanh thu hàng năm của CX. CX
đã đề ra phương hướng cho tương lai là tiếp tục coi yếu tố hàng hóa là sản
phẩm chính để từ đó gánh bớt các chi phí cho vận tải hành khách.
CX luôn tập trung duy trì hình ảnh của một Hãng HK có chất lượng dịch
vụ hoàn hảo, đội bay hiện đại, có uy tín hàng đầu thế giới và kinh doanh có
hiệu quả. Trong chiến lược kinh doanh của CX, bên cạnh ngành kinh doanh
chính là vận tải HK, CX còn chú trọng đầu tư vào các ngành có liên quan đến
vận tải HK và mang lại lợi nhuận cao.
Có thể nói, chiến lược phát triển của CX rất rõ ràng và cụ thể, chỉ tập
trung vào các lĩnh vực có liên quan đến HK, không đầu tư dàn trải vào những
ngành nghề được xác định là không trọng tâm.
1.2.1.3. Thất bại của Hãng hàng không Philippines trong việc phát triển
Hãng hàng không quốc gia
Philippines Airlines là một trong những hãng HK đầu tiên của Châu Á. Giai
đoạn từ 1965-1977 có thể coi là giai đoạn phát triển cực thịnh của Philippines
Airlines. Trong giai đoạn này, Philippines Airlines tập trung khai thác các mạng
đường bay quốc tế khu vực và xuyên Thái bình dương là những đường bay sinh
lợi, nhờ đó Philippines Airlines đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 24%
về khối lượng vận chuyển hành khác và 26% về thu suất (RPK). Thấy được vai trò
quan trọng của Philippines Airlines đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
mình trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
1.2.2. Bài học đối với Tổng công ty Hàng không Việt Nam
9
Từ thực tiễn nghiên cứu chiến lược phát triển của một số hãng HK điển
hình trên thế giới có xuất phát điểm ban đầu và môi trường kinh doanh tương tự
như TCTHK Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau
Thứ nhất, bài học kinh nghiệm về tổ chức của một Hãng HK quốc gia
Trong điều kiện mở cửa bầu trời, cạnh tranh trong lĩnh vực HK ngày càng
quyết liệt và mang tính toàn cầu hóa thì mô hình tổ chức của một hãng HK nói
chung và hãng HK quốc gia nói riêng phải thích hợp với phạm vi kinh doanh
toàn cầu, có quy mô vốn lớn.
Mô hình tổ chức kinh doanh của TCTHK Việt nam hiện nay chưa phù hợp
với yêu cầu trên và làm giảm năng lực cạnh tranh của Hãng HK Quốc gia Việt
Nam. Để thích nghi với môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu hóa trong
lĩnh vực HK, TCTHK VIệt Nam phải nhanh chóng thay đổi mô hình tổ chức của
mình theo hướng thành lập tập đoàn kinh tế và thực hiện cổ phần hóa Hãng HK
Quốc gia Việt Nam, trong đó Nhà nước năm cổ phần chi phối.
Thứ hai, bài học kinh nghiệm về chiến lược phát triển đội tàu bay
Đội tàu bay đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với một hãng HK, không
chỉ vì nó là phương tiện sản xuất thiết yếu nhất mà còn vì nó chiếm tỷ trọng vốn
và tài sản lớn nhất của một hãng HK. Vì vậy chiến lược phát triển đội tàu bay là
nội dung quan trọng hàng đầu của chiến lược đầu tư phát triển cơ sở vật chất –
kỹ thuật của TCTHK Việt Nam.
Trong xây dựng chiến lược của TCT, phải xác định rõ, điều kiện tiên quyết
để phát triển là phải thực hiện một cách hiệu quả đổi mới và phát triển đội tàu
bay theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, hiện đại; đi đôi với phát triển
hạ tầng kỹ thuật và lực lượng lao động để khai thác có hiệu quả đội tàu bay.
Để bảo đảm phát triển bền vững, trong điều kiện nguồn lực tài chính hiện
nay của TCTHK Việt Nam còn hạn hẹp; năng lực cạnh tranh của TCTHK Việt
Nam còn nhiều mặt hạn chế thì trong chiến lược phát triển đội tàu bay phải xác
tiêu cơ bản đề ra.
Đây là bài học thực tiễn, có ý nghĩa to lớn đối với TCTHK Việt Nam.
11
Trong những năm qua, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều hãng
HK đã chịu thua lỗ, phải điều chỉnh thị trường kinh doanh. Tuy nhiên, trong
điều kiện như vậy, vẫn có một số ít hãng HK duy trì được sự ổn định và phát
triển (trong đó có Hãng HK Quốc gia Việt Nam). Điều này có nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là các hãng HK này đã xây dựng
được các chiến lược phát triển dự phòng để luôn chủ động ứng phó với mọi diễn
biến phức tạp của môi trường kinh doanh.
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM
2.1. Giới thiệu chung về Tổng công ty Hàng không Việt Nam
TCTHK Việt Nam hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động được phê
duyệt tại Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 20/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Mô hình tổ chức của TCT theo mô hình công ty mẹ-công ty con, bao
gồm:
- TCTHK Việt Nam-Công ty mẹ, gồm Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc, các cơ quan tham mưu giúp việc, 14 đơn vị phụ thuộc và 01 đơn
vị sự nghiệp;
- Các công ty con, bao gồm 02 công ty TNHH một thành viên, 04 công ty
TNHH hai thành viên trở lên có vốn đầu tư nước ngoài, 07 công ty cổ phần do
TCT sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên,
- Các công ty liên kết gồm 16 công ty, có vốn góp của TCT ở dưới mức chi
phối (dưới 50% vốn điều lệ).
Theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của TCTHK Việt Nam, Hội đồng thành viên
là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại TCT, có quyền nhân danh TCT
tình hình chung của các Liên hiệp xí nghiệp quốc doanh lúc bấy giờ, đó là hoạt
động theo kế hoạch tập trung do Nhà nước giao về các chỉ tiêu sản lượng, giá cả,
đầu tư tập trung, tổ chức hạch toán chung toàn ngành với hầu hết các yếu tố của
sự bao cấp nhà nước.
Với cơ chế hoạt động như trên, có thể nói từ năm 1993 trở về trước, các kế
hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn
đều dựa trên các chỉ tiêu kinh tế do Nhà nước giao và gần như phụ thuộc hoàn
toàn vào Nhà nước. Những căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh, xây dựng chiến lược như môi trường kinh doanh, khách hàng, đối
thủ cạnh tranh, đều không được nghiên cứu, phân tích và đánh giá một cách
14
khách quan, khoa học; các mục tiêu, các định hướng lớn, các cân đối lớn và các
nguồn lực chủ yếu đều được Nhà nước giao, TCT chỉ xây dựng các kế hoạch để
tổ chức thực hiện.
Giai đoạn từ 1993 trở lại đây
Giai đoạn từ 1993 và chủ yếu là từ 1995 trở lại đây, cơ chế tổ chức và hoạt
động của TCTHK Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn, có bước chuyển biến vượt
bậc về chất so với giai đoạn trước, từng bước tiếp cận với mô hình phổ biến của
một hãng HK hoạt động theo cơ chế thị trường.
TCTHK Việt Nam được thành lập theo mô hình “Tổng công ty 91” tại
Quyết định số 328/TTg ngày 27/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động
theo Điều lệ Tổ chức và hoạt động của TCT do Chính phủ phê chuẩn tại Nghị
định số 04/CP ngày 27/01/1996. Việc thành lập TCT nhằm mục đích tạo ra một
tập đoàn kinh tế hàng không mạnh trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước,
ưư tiên tập trung các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, tăng
hiệu quả và tăng năng lực cạnh tranh quốc tế.
Với cơ chế tổ chức và hoạt động từng bước tiếp cận với cơ chế thị trường,
mô hình tổ chức của TCTHK Việt Nam cũng từng bước được hoàn thiện theo
mô hình của một hãng HK tiêu chuẩn; các kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn
hạn, trung hạn, dài hạn, chiến lược phát triển đội tàu bay, đã được xây dựng
- Đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa, đặc biệt là hiện đại
hóa đội máy bay, đầu tư phát triển đội máy bay đồng bộ với cơ sở hạ tầng khai
thác, kỹ thuật, thương mại, nguồn nhân lực, dịch vụ.
- Bảo đảm an toàn HK là nhiệm vụ hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất cho
sự phát triển bền vững và kinh doanh hiệu quả vận tải HK của TCT.
2.2.2.2. Môi trường kinh doanh
Thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh (bao gồm cả
môi trường vĩ mô và môi trường vi mô) của TCT để xác định thời cơ và thách
thức đối với hoạt động vận tải HK của TCT.
- Môi trường vĩ mô: Môi trường vĩ mô được đánh giá thông qua việc phân
tích các yếu tố về văn hóa-xã hội; về chính trị-pháp luật; về kinh tế; về công
nghệ; về điều kiện tự nhiên.
- Môi trường vi mô (môi trường ngành): Môi trường vi mô được đánh giá
thông qua việc phân tích các yếu tố về chính sách vận tải HK; thị trường vận tải
16
HK; các đối thủ cạnh tranh; các nhà cung ứng.
Đánh giá tổng hợp môi trường kinh doanh của TCTHK Việt Nam - Những
thời cơ và thách thức cho thấy, TCT có thời cơ lớn hơn thách thức. Tuy nhiên
chênh lệch giữa thời cơ và thách thức không nhiều. Những thời cơ lớn là: thị
trường vận tải tăng, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, mở rộng ngành nghề kinh
doanh.
Thách thức chính gồm: cạnh tranh khốc liệt, chi phí đầu tư/đầu vào tăng,
hiệu quả giảm do quy luật bình quân hoá lợi nhuận trong ngành HK thế giới và
do chi phí đầu vào tăng, an toàn an ninh HK bị uy hiếp do chiến tranh, khủng
bố.
2.2.2.3. Năng lực cạnh tranh của TCTHK Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của TCT được xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá
các nội dung chủ yếu về: Cơ cấu kinh doanh; mạng đường bay, thị trường, thị
phần và năng lực bán; đội tàu bay; hệ thống khai thác, kỹ thuật, công nghệ thông
tin; nguồn nhân lực; an toàn, an ninh HK và chất lượng sản phẩm dịch vụ; vốn
lược phát triển, vốn đầu tư rất lớn từ nhiều nguồn, Tổng công ty đã lập riêng để trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2.3. Đánh giá về năng lực cạnh tranh của Tổng công ty thông qua việc
thực hiện chiến lược phát triển của Tổng công ty trong thời gian qua
Về cơ cấu kinh doanh: Các lĩnh vực SXKD sản phẩm, dịch vụ vận tải HK
của TCT là vận chuyển hành khách, hành lý hàng hoá, bưu kiện bằng máy bay
trên các đường bay quốc tế và nội địa do Vietnam Airlines đảm nhiệm là chính.
Cùng kinh doanh các dịch vụ vận tải HK bổ trợ với Hãng HK quốc gia Việt
Nam còn có Công ty Bay dịch vụ HK (VASCO).
Các dịch vụ đồng bộ trong dây chuyền vận tải HK bao gồm phục vụ kỹ
thuật - thương mại mặt đất, các dịch vụ hàng hoá, sản xuất chế biến và cung ứng
suất ăn trên máy bay, bảo dưỡng sửa chữa máy bay, tin học HK, trong đó dịch
vụ kỹ thuật, thương mại mặt đất chiếm 75% giá trị. Các dịch vụ này ngoài cung
cấp cho Hãng HK quốc gia Việt Nam, còn cung cấp cho máy bay của hơn 20
18
hãng HK quốc tế có bay thường xuyên đến Việt Nam.
Về mạng đường bay, thị trường, thị phần và năng lực bán: Mạng đường
bay của Vietnam Airlines đang được củng cố và phát triển, cả các đường bay
trong nước và quốc tế.
Đến hết năm 2010 mạng đường bay quốc tế của Vietnam Airlines gồm 44
đường bay quốc tế trực tiếp từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến 26 điểm
thuộc 15 quốc gia.
Mạng đường bay nội địa của Vietnam Airlines được tổ chức theo mô hình
trục - nan theo suốt chiều dài đất nước, gồm 35 đường bay đến 20 điểm với các trục
chính là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. TCT đã không ngừng tăng
tần suất khai thác và tải cung ứng trên hầu hết các đường bay, đáp ứng nhu cầu đi
lại của nhân dân và phục vụ sự phát triển KTXH đất nước. Đặc biệt đã chú trọng
phát triển hệ thống đường bay đến các địa phương vùng sâu, vùng xa phục vụ đắc
lực chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTXH vùng núi, hải đảo.
Thị trường vận tải hành khách của TCTHK Việt Nam bao gồm thị trường
hình an ninh thế giới có nhiều bất ổn, TCTHK Việt Nam đã có các biện pháp đảm
bảo an toàn, an ninh HK cho các chuyến bay. TCTHK Việt Nam đã bảo đảm an
toàn an ninh tuyệt đối, góp phần xây dựng Việt Nam là điểm đến an toàn.
Các lĩnh vực dịch vụ vận tải HK đã từng bước được nâng lên về chất lượng
và hiệu quả. Hầu hết các khâu dịch vụ mặt đất, trên không đều đạt mức trung
bình khá, một số khâu được đánh giá ở mức khá trong khu vực.
Về đội máy bay khai thác: Đội máy bay của Vietnam Airlines đến năm
2010 có 68 chiếc, với các loại máy bay tiên tiến, hiện đại nhất của thế giới, cơ
bản đảm bảo lực lượng khai thác, bao gồm 32 chiếc Airbus A320/A321, 10
chiếc A330, 10 chiếc Boeing 777, 14 chiếc ATR72, 02 chiếc Fokker 70. Tuy
nhiên, tỷ lệ máy bay sở hữu thấp, nhất là đối với các loại máy bay chủ lực 150
ghế trở lên là một hạn chế lớn về năng lực sản xuất của TCT. So với khu vực,
đội máy bay của TCT thua kém về số lượng, ghế/tải cung ứng, tầm bay. Do
đang ở trong giai đoạn đổi mới công nghệ, so với các đối thủ cạnh tranh, ưu
điểm nổi bật của TCT là có đội máy bay trẻ và hiện đại.
20
Về hệ thống khai thác, kỹ thuật, công nghệ thông tin: Hệ thống khai thác và hệ
thống kỹ thuật là hai khối quan trọng đặc biệt trong dây chuyền SXKD của TCT.
Hiện tại hệ thống khai thác của TCT đã được Cục HK Việt Nam và nhà
chức trách HK có liên quan đến máy bay thuê cấp chứng chỉ khai thác.
Hệ thống kỹ thuật của TCT đã được Cục HK Việt Nam và nhà chức trách
HK có liên quan đến máy bay thuê cấp chứng chỉ bảo dưỡng theo tiêu chuẩn
VAR 145. Tính đến nay hệ thống kỹ thuật đã bảo đảm gần 30% khối lượng dịch
vụ sửa chữa máy bay khai thác, hiện tại đã được các nhà chức trách HK Việt
nam cấp chứng chỉ phê chuẩn cho phép thực hiện các công việc bảo dưỡng tàu
bay A320/321 đến dạng 4C/6Y, A330 đến dạng 2C, Boeing đến dạng 4C và
8SC, F70 đến dạng T12 và Y12 và ATR đến dạng C
Hệ thống CNTT của TCT thực hiện hai chức năng là tham gia trực tiếp quá
trình SXKD và phục vụ quá trình điều hành quản lý của TCT. Trong chức năng
tham gia trực tiếp qua trình SXKD, TCT đã đầu tư đồng bộ trang thiết bị, phần
Về mô hình tổ chức và cơ chế quản lý: mô hình tổ chức và cơ chế quản lý
của TCT chưa thật thích hợp với phạm vi và quy mô lớn về vốn, thị trường;
chưa theo kịp đòi hỏi ngày một cao về xã hội hóa, quốc tế hóa hiện nay trong
kinh doanh vận tải hàng không. Mô hình hiện nay chưa tương xứng với các tập
đoàn HK trong khu vực và trên thế giới, trong khi đó yêu cầu về hội nhập, áp
dụng khoa học quản lý và kinh nghiệm của thế giới ngày càng trở lên cấp bách.
Đối thủ cạnh tranh của TCT hiện nay và trong tương lai chủ yếu là các tập đoàn
HK rất lớn mạnh của nước ngoài; các đối tác hợp tác trong nước của TCT đã trở
thành các tập đoàn kinh tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố nội bộ TCT, ta có thể
đánh giá điểm mạnh của TCT trội hơn so với điểm yếu. Các điểm mạnh chính
là: nhiều ngành nghề kinh doanh có lãi và có tiềm năng lợi nhuận cao; cơ cấu
mạng đường bay hợp lý, thị phần quốc tế, nội địa cao, ổn định; an toàn an ninh
HK bảo đảm tốt, chất lượng dịch vụ đạt trung bình khá của khu vực; đội máy
bay trẻ và hiện đại; lao động đặc thù theo tiêu chuẩn quốc tế, thu hút được lao
động giỏi; tốc độ tăng trưởng vốn cao, có khả năng huy động các nguồn vốn.
Các điểm yếu chính là: chưa chuyển được một số đơn vị hạch toán phụ
thuộc thành DN; chậm tham gia liên minh toàn cầu; phải đầu tư lớn.
2.4. Đánh giá tổng quan về thực trạng công tác xây dựng và thực hiện
22
chiến lược phát triển của Tổng công ty Hàng không Việt Nam thời gian
qua
2.4.1. Những thành công trong xây dựng chiến lược phát triển
Trong công tác xây dựng chiến lược, TCT đã đạt được những thành công
chủ yếu sau đây:
- Mục tiêu chiến lược được xác định rõ ràng và phù hợp với những định
hướng lớn về phát triển giao thông vận tải của Quốc gia nói chung và ngành
Hàng không dân dụng nói riêng.
- Chiến lược được xây dựng theo các phương pháp hợp lý và dựa trên
các luận cứ khoa học.