Giải pháp nhằm gia tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Thực phẩm sạch Biggreen Việt Nam - Pdf 26


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
***************
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài :
“Giải pháp nhằm gia tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Thực phẩm sạch
Biggreen Việt Nam”
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tiến Hưng
Lớp : TCDN 20.17
MSV : BH202165
GVHD : TS. NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

Hà nội, 2012
i hc kinh t quc dõn Chuyờn thc tp tt nghip
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH Thực phẩm sạch Biggreen Việt nam, đã
tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện
chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Tài chính Kế toán công TNHH Thực phẩm sạch
Biggreen Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
tập và hoàn thiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS. Nguyễn Thị Thùy Dơng - Giáo viên
đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn
thiện chuyên đề tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Viện Tài chính - Ngân hàng và
các bạn sinh viên lớp TCND 20.17 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn
thiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Hà Nôi, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Tiến Hng

Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong nền kinh tế thị trường, đồng thời nêu ra một số biện pháp tăng lợi nhuận
để Công ty TNHH Thực phẩm sạch Biggreen Việt Nam có thể thực hiện.
Chuyên đề ngoài mở đầu và kết luận gồm 3 phần:
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN Ở CÔNG TY TNHH THỰC PHẨM
SẠCH BIGGREEN VIỆT NAM
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIA TĂNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH
THỰC PHẨM SẠCH BIGGREEN VIỆT NAM
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
2
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Lợi nhuận của doanh nghiệp
1. 1. 1. T ổ n g qu an v ề d oan h ng h i ệ p
Theo luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp đươc khái niệm như sau:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết
hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu,… và sức lao
động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá đó để thu lợi
nhuận.
Cũng theo Luật doanh nghiệp năm 2005, nếu xét về hình thức pháp lý
thì ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp, trong đó:

hành cổ phiếu.
- Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty.
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp có quy định của pháp luật.
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa.
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
4
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài các hình thức huy động vốn thông thường, Công ty cổ phần có
thể phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng để
huy động vốn nếu đủ tiêu chuẩn theo luật định. Đây là một ưu thế của loại
hình doanh nghiệp này.
Việc phân phối lợi nhuận sau thuế thuộc quyền quyết định của Đại hội
đồng cổ đông Công ty.
Thành viên của Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm (hữu hạn) đối với
các khoản nợ của Công ty trong phạm vi vốn đã góp.
Trong các loại hình Công ty, Công ty cổ phần đã và đang đóng vai trò
chủ yếu ở các nước phát triển và sẽ đóng vai trò chủ yếu ở Việt Nam trong
tương lai cùng với tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.
1. 1. 2. L ợi n hu ận c ủa d oa nh n g h iệ p
1.1.2.1. Nội dung, cách xác định lợi nhuận
- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận do tiêu thụ
sản phẩm lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi
giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy

Thời điểm xác định doanh thu là khi người mua đã chấp nhận thanh
toán, không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đã thu được tiền hay chưa.
Tiền thu về trong kỳ là tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được từ hoạt
động bán hàng trong kỳ bao gồm cả khoản tiền mà khách hàng còn nợ kỳ
trước, kỳ này trả hoặc tiền ứng trước của khách để mua hàng. Tiền thu về
trong kỳ có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp.
- Giảm giá hàng bán : Số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho
người mua vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp (hàng sai quy cách,
kém phẩm chất ) hoặc số tiền thưởng cho người mua do mua một lần với số
lượng lớn (bớt giá) hoặc số lượng hàng mua trong một khoảng thời gian là
đáng kể (hồi khấu).
- Hàng bán bị trả lại : Phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ bị khách
hàng trả lại, do lỗi thuộc về doanh nghiệp như vi phạm cam kết, vi phạm hợp
đồng, hàng sai quy cách
- Thuế tiêu thụ bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, là nghĩa
vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
cung cấp lao vụ, dịch vụ
* Tổng chi phí liên quan đến hàng hóa tiêu thụ trong kỳ bao gồm :
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
6
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tổng trị giá vốn của hàng hóa tiêu thụ trong kỳ là khái niệm dùng
chung cho tất cả các doanh nghiệp để chỉ giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ
trong các doanh nghiệp thương mại ; chỉ tiêu này có thể là giá thành sản xuất
thực tế của sản phẩm đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tiêu
thụ hàng hóa sản phẩm dịch vụ phân bổ cho sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã tiêu
thụ trong kỳ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí phục vụ cho việc điều hành và
quản lý chung trong toàn doanh nghiệp phân bổ cho sản phẩm hàng hóa dịch

-
Chi phí
hoạt động
tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến
hoạt động về vốn.
Chi hoạt động tài chính là những khoản chi phí và các hoạt động lỗ liên
quan đến hoạt động về vốn.
- Lợ i nh uậ n th u đư ợ c t ừ ho ạt đ ộn g bấ t th ườ ng
Lợi nhuận bất thường là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không
dự tính trước hay có dự tính đến nhưng ít có khả năng xảy ra như : tài sản dôi
thừa tự nhiên, nợ khó đòi đã xử lý nay đòi được, nợ vắng chủ hoặc không tìm
ra chủ được cơ quan có thẩm quyền cho ghi vào lãi, thanh lý nhượng bán tài
sản cố định, phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho Những khoản
lợi nhuận bất thường có thể do chủ quan đơn vị hay do khách quan đưa tới.
Lợi nhuận
bất thường
=
Thu nhập
bất thường
-
Chi phí bất
thường
Thu nhập bất thường của doanh nghiệp bao gồm :
- Thu nhập về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
- Thu tiền được phạt vi phạm hợp đồng.
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
8
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xóa sổ.

khoản chi phí đó bao gồm :
- Chi phí về vật chất tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá như : chi phí về nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, khấu
hao máy móc thiết bị.
- Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đứp chi phí lao động
sống cần thiết họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất đó để tạo ra sản phẩm, hàng
hoá.
- Các khoản tiền thực hiện nghĩa vụ đối Nhà nước. Đó là các khoản thuế
gián thu phải nộp cho Nhà nước theo luật định : Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc
biệt
Quản lý những khoản chi phí này là một vấn đề cấp thiết được đặt ra
cho các doanh nghiệp bởi nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh
những khoản chi phí không hợp lý, không đúng với thực chất của nó đều gây
ra những khó khăn trong quản lý, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì
vậy để kiểm soát tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, các doanh
nghiệp đã sử dụng một công cụ quan trọng là giá thành sản phẩm (biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành sản xuất và tiêu
thụ một loại sản phẩm nhất định). Nội dung giá thành của sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ tiêu thụ bao gồm :
- Giá thành sản xuất của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ : là toàn
bộ các khoản chi phí bỏ ra để có được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang đi
tiêu thụ (chỉ tính cho các hàng hoá dịch vụ được tiêu thụ trong kỳ hạch toán).
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
10
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sản xuất chung.
1.1.2.2. Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanh
nghiệp có tồn tại và phát triển hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có

mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như chỉ tiêu
về đầu tư, sử dụng các yếu tố đầu vào, chi phí và giá thành sản xuất, các chỉ
tiêu đầu ra và các chính sách tài chính nhà nước.
Tóm lại, phấn đấu tăng lợi nhuận là một đòi hỏi tất yếu của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, là mục tiêu của các doanh nghiệp.
1. 1. 3. T ỷ su ất l ợi n h u ậ n
1.1.3.1. Sự cần thiết phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính quan trọng biểu hiện kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không thể coi lợi
nhuận là chỉ tiêu duy nhất đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp khác nhau, bởi vì chỉ tiêu lợi nhuận có những hạn chế
sau:
Một là, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi
nhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố khách
quan và có sự bù trừ lẫn nhau.
Hai là, do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị
trường tiêu thụ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng không giống nhau.
Ba là, các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì
lợi nhuận thu được sẽ khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác
quản lý kém, nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh
nghiệp quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý tốt hơn.
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
12
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vì vậy, để đánh giá đúng đắn chất lượng hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, người ta còn dùng đến chỉ
tiêu lợi nhuận tương đối là tỷ suất lợi nhuận.
1.1.3.2. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận của vốn
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao

để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
* Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu bán hàng
Là một chỉ số phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, biểu hiện quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận tiêu thụ và doanh thu bán
hàng.
Công thức:
Tỷ suất doanh lợi =
Tổng số lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Qua Công thức:cho thấy hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
* Tỷ suất lợi nhuận theo vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận
của vốn chủ sở
hữu
=
Tổng số lợi nhuận
Bình quân VCSH
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
14
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
1. 2. 1. Sự cầ n th iế t gi a tăn g lợ i nh uậ n củ a doa nh
ng hi ệp
Trong giai đoạn hiện nay, bao quanh doanh nghiệp là một môi trường
kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động, các hoạt động của doanh nghiệp
chịu tác động của nhiều yếu tố như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu,
quy luật giá cả… Do vậy, để một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
được thì việc hoạt động tạo ra lợi nhuận là điều rất cần thiết. Gia tăng lợi
nhuận từ đó trở thành yêu cầu thiết yếu đối với doanh nghiệp.

đó góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Đối với nhà đầu tư:
Một nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp luôn quan tâm
đến triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó. Tình hình tài chính là vấn đề
được xem xét đầu tiên. Để đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp người ta thường sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Từ đó,
có thể thấy tầm quan trọng của lợi nhuận đối với doanh nghiệp khi tìm kiếm
nguồn vốn từ các nhà đầu tư. Một doanh nghiệp hấp dẫn và thu hút luôn là
một doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận.
Xuất phát từ yêu cầu của việc phát huy quyền tự chủ tài chính và tự chủ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế quản lý kinh tế mới.
Trong giai đoạn nền kinh tế còn nằm trong cơ chế tập trung quan liệu
bao cấp, các doanh nghiệp đều hoạt động ỷ lại vào sự bảo trợ của Nhà nước.
Do đó, hầu hết các doanh nghiệp không chủ động khai thác các tiềm năng sẵn
có của mình nên kết quả kinh doanh kém hiệu quả, từ đó đã kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế trong thời gian dài. Sau khi chuyển sang kinh tế thị
trường, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển. Sự phát triển của nền
kinh tế đã tạo ra một môi trường cạnh tranh cho tất cả các doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
16
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Không còn như trước đây, nhà nước hiện tại chỉ đóng vai trò định hướng vĩ
mô cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi chị sự tác động
của các quy luật trong nền kinh tế thị trường phải chủ động trong việc ra quyết
định trong kinh doanh, huy động và sử dụng vốn cho hiệu quả trong khuôn
khổ của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
Bên cạnh những cơ hội trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cũng
phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc tự chịu trách nhiệm với các hoạt động
sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải tự mình giải quyết các rủi ro.
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh đó là doanh nghiệp

đòi hỏi, tình hình ký kết hợp đồng tiêu thụ với khách hàng. Vì vậy, việc tổ
chức ký kết hợp đồng với đơn vị mua hàng, tổ chức đóng gói vận chuyển
nhanh đến nơi tiêu thụ, sử dụng các hình thức thanh toán thích hợp, tôn trọng
kỷ luật thanh toán đều có ý nghĩa quan trọng để nâng cao doanh thu bán hàng.
Kết cấu mặt hàng tiêu thụ cũng có ảnh hưởng tới khối lượng hàng hóa
bán ra và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Kết cấu mặt hàng là tỷ trọng về giá trị
của mặt hàng đó so với giá trị của tổng các mặt hàng tiêu thụ trong kỳ của
doanh nghiệp. Mỗi mặt hàng có chi phí khác nhau, giá bán sản phẩm khác
nhau nên lợi nhuận đem lại cũng khác nhau. Nếu tăng tỷ trọng mặt hàng có lợi
nhuận gộp đơn vị cao và giảm tỷ trọng mặt hàng có lợi nhuận gộp đơn vị thấp
sẽ làm tổng lợi nhuận tiêu thụ tăng. Tuy nhiên, mỗi loại sản phẩm đều có tác
dụng nhất định trong việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nên doanh nghiệp cũng
cần lưu ý đến việc đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất những mặt hàng mà
doanh nghiệp đã ký hợp đồng, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ có ảnh hưởng thuận chiều với
doanh thu. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cao và được người tiêu
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
18
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dùng chấp nhận thì đó sẽ là cơ hội tăng khối lượng hàng hóa tiêu thụ và tăng
doanh thu. Ngược lại, nếu chất lượng sản phẩm kém thì đơn vị mua hàng hoặc
người tiêu dùng có thể từ chối thanh toán hoặc không mua hàng. Điều đó sẽ
dẫn tới phải hạ giá bán sản phẩm làm giảm bớt doanh thu. Do đó, chất lượng
sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của các nhân tố như:
trình độ kỹ thuật và công nghệ, trình độ quản lý tổ chức sản xuất, trình độ của
người lao động
Giá bán sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ
Giá bán sản phẩm phần lớn là do doanh nghiệp tự xây dựng. Khi các

thác, mở rộng thị trường tiêu thụ là một nhân tố quan trọng để tăng doanh thu
của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán tiền hàng cũng có ảnh hưởng tới
doanh thu bán hàng. Thông thường bán sản phẩm sẽ thu được tiền về, song
trong điều kiện cạnh tranh, các doanh nghiệp bán hàng thường dành sự ưu đãi
nhất định đối với người mua, như cho thanh toán theo kỳ hạn hoặc bán với
phương thức trả chậm, trả góp, thực hiện chiết khấu thương mại…Sự đa dạng
trong phương thức bán hàng cùng với việc áp dụng các biện pháp tài chính
nhằm khuyến khích khách hàng mua với số lượng lớn sẽ có tác dụng cao trong
việc tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, từ đó góp phần tăng doanh thu.
Uy tín doanh nghiệp và thương hiệu của sản phẩm
Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường cũng như thương hiệu sản phẩm
là một tài sản quý giá làm cho khách hàng, người tiêu dùng tin tưởng và sẵn
sàng ký kết hợp đồng hay tìm chọn mua trên thị trường, có tác động tích cực
đến tình hình doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản xuất và
tiêu thụ
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
20
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm
hay một loại sản phẩm nhất định. Giá thành là một nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến việc tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá cả sản phẩm hàng
hóa được hình thành bởi quan hệ cung cầu trên thị trường, nếu giá thành hạ so
với giá bán trên thị trường thì lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ tăng
thêm. Việc hạ giá thành sản phẩm cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng thêm sản xuất sản phẩm. Do tiết kiệm các chi phí đầu vào, nên với khối
lượng sản xuất như cũ, nhu cầu vốn lưu động sẽ được giảm bớt. Như vậy,
doanh nghiệp có thể rút bớt được lượng vốn lưu động trong sản xuất hoặc có

nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh hiệu quả. Việc phân phối, sử
dụng vốn hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện
sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển
được vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có tác động tiết kiệm chi phí
sản xuất, góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm và nâng cao lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh
Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh
của từng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Chẳng hạn, đối với các doanh
nghiệp khai thác, với doanh nghiệp có nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện
khai thác như giao thông, chính sách điều tiết của Nhà nước…thuận lợi thì chi
phí khai thác sẽ thấp và ngược lại.
Môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng đang kể tới giá thành của
doanh nghiệp. Một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao sẽ thúc đẩy
doanh nghiệp chú trọng đầu tư nhiều hơn cho đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
22
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xuất đào tạo lao động, quảng cáo tiếp thị…Vì vậy cũng có thể làm tăng chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Tiến Hưng Lớp: TCDN20.17
23

Trích đoạn Tỡnh hỡnh chi phớ của Cụng ty TNHH Thực phẩm sạch Tỡnh hỡnh lợi nhuận của Cụng ty TNHH Thực phẩm sạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status