Thực trạng phong cách quản lý của hiệu trưởng ảnh hưởng lên bầu không khí tâm lý trong các trường THPT tại TP Cần Thơ - Pdf 26


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Bạch Ngọc

THỰC TRẠNG PHONG CÁCH QUẢN LÝ CỦA
HIỆU TRƯỞNG ẢNH HƯỞNG LÊN BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÝ
TRONG CÁC TRƯỜNG THPT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU

- Học viên lớp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục khóa 18 đã động viên, giúp đỡ tôi
trong thời gian cùng nhau h
ọc tập tại trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh.
- PGS.TS. Đoàn Văn Điều đã hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận
văn này.

Tác giả

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

+ BCH : Ban chấp hành
+ CB - GV : Cán bộ - Giáo viên
+ CNV : Công nhân viên
+ CBQL : Cán bộ quản lý
+ CBQLGD : Cán bộ Quản lý giáo dục
+ ĐLTC : Độ lệch tiêu chuần
+ GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
+ HT : Hiệu rưởng
+ HS : Học sinh
+ PHHS : Phụ huynh học sinh
+ QL : Quản lý
+ QLGD : Quản lý giáo dục
+ TB : Trung bình
+ THPT : Trung học phổ thông
+ THCS : Trung học cơ sở MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

ểm công việc mà
hình thành nên các hình thức quan hệ và cách ứng xử trong nhà trường. Việc xử lý và giải quyết các
mối quan hệ luôn là công việc thường ngày và đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất
bại của người hiệu trưởng. Phong cách quản lý của hiệu trưởng có thể được xem như là một nghệ
thuật quan hệ không phải để “được lòng mọi người” mà là tạo niềm tin ổn định ở người khác.

Nói cách khác, chính phong cách quản lý của hiệu trưởng sẽ tạo ảnh hưởng đến bầu không khí
tâm lý của tập thể, quyết định đến chất lượng giảng dạy, giáo dục và công việc trong nhà trường. tạo nên
nét đặc trưng trong công tác quản lý.
Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng ảnh hưởng phong cách quản lý của hiệu trưởng lên bầu
không khí tâm lý trong các trường học là cần thiết, ngõ hầu đề xuất một số
giải pháp quản lý hiệu
quả, để từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hiệu trưởng nói riêng và đội ngũ cán bộ quản lý nói
chung một cách bài bản, giúp hiệu trưởng cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý thường xuyên, chứ
không phải chỉ quản lý bằng kinh nghiệm như một việc xưa nay vẫn làm.
Với những lý do trên, đề tài “Thực trạng phong cách quả
n lý của hiệu trưởng ảnh hưởng
lên bầu không khí tâm lý trong các trường THPT tại thành phố Cần Thơ” được nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng phong cách quản lý của hiệu trưởng tác động lên bầu không khí tâm lý
của tập thể; từ đó, đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng phong cách quản lý phù hợp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý nhà trường.
3. Đối tượng và khách th
ể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phong cách quản lý của hiệu trưởng ảnh hưởng đến
bầu không khí tâm lý của tập thể ở các trường THPT thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ
3.2. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý tại các trường THPT thuộc địa bàn thành
phố Cần Thơ
4. Giả thuyết nghiên cứu
Trong nhà trường, người hiệu trưởng đóng vai trò là “hạt nhân”, là “nhân vật trung tâm trong

tiễn về các phong cách quản lý của hiệu trưởng. Từ đó xử lý các thông tin thu thập được.
6.2.2. Ph
ương pháp điều tra
Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) và học
sinh (HS). Các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến đảm bảo chi tiết, tiết kiệm thời gian cho đối
tượng điều tra. Đây là phương pháp chính trong đề tài nghiên cứu vì nó phù hợp cả về mặt thời gian
nghiên cứu và tính thực tiễn của đề tài chúng tôi nghiên cứu.
Để có được số liệu cụ thể cho phiế
u trưng cầu ý kiến, chúng tôi đã tranh thủ ý kiến của một
số chuyên gia để xây dựng phiếu và thực hiện điều tra với giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý của
06 trường THPT, phân loại và xử lý số liệu trên địa bàn các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng,
huyện Thới Lai, Phong Điền thuộc thành phố Cần Thơ.
Phương pháp được thực hiện theo tiến trình sau:
Bước 1: Xây dựng phiếu trư
ng cầu ý kiến dựa trên các tiêu chí đã định
Bước 2:Tham khảo ý kiến các chuyên gia, hoàn chỉnh phiếu trưng cầu ý kiến
Bước 3: Điều tra đối với giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý các trường THPT trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài, kết hợp với quan sát và thu thập thông tin thực tiễn
Bước 4: Xử lý số liệu phiếu điều tra, trình bày kết quả

6.3. Phương pháp toán thống kê
Nhằm xử lý, phân tích các số li
ệu thu thập được.
7. Giới hạn đề tài

- Về nội dung: Đề tài giới hạn nghiên cứu các phong cách quản lý của hiệu trưởng có ảnh
hưởng lên bầu không khí tâm lý của tập thể.
- Về khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh các trường
THPT ở các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, huyện Phong Điền, Thới Lai thuộc thành phố
Cần Thơ.

ười tiêu biểu cho sức mạnh, ý chí
khát vọng…của các thành viên trong bộ tộc; đã biết sử dụng những tri thức về con người được đúc
kết thành kinh nghiệm để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo bộ lạc của mình và truyền lại cho con cháu
đời sau.
Thời đại phong kiến, người ta đã đề cao cái tài của người làm quan, là người biết sâu, hiểu
rộng, biết cách dùng người, thanh liêm, chính trực. Người ta đ
ã nói đến các khái niệm: “Pháp trị”,
“Nhân trị”, “Đức trị”…
Thời hiện đại, khái niệm “Phong cách lãnh đạo”, “Phong cách quản lý” đã xuất hiện rõ nét,
mang nhiều yếu tố mới và phức tạp hơn. Với sự phát triển của xã hội, quản lý là một yếu tố không
thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý càng lớn,
phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú, phức tạp.
Tài li
ệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo “Một số vấn đề về nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng phổ
thông cấp I, II – Hà Nội 1975” đã đề ra những yêu cầu chung về nhân cách hiệu trưởng. Người cán bộ
cách mạng trung thành, nhà giáo dục có tâm hồn, người cán bộ có năng lực tổ chức và quản lý giỏi.
Nguyễn Văn Lê - Nguyễn Thanh Phong với chuyên đề Quản lý trường học cho rằng “Phong
cách quản lý của một cán bộ lãnh đạo là tập hợp những đặc điểm của người cán bộ đó trong công tác
quản lý, là nét tập trung trong những phương pháp mà người cán bộ sử dụng trong công tác quản lý”
[20, tr.22]
Tác giả Bùi Ngọc Oánh đề cập: “Quản lý, lãnh đạo một tập thể là công tác rất phức tạp và
khó khăn, không phải ai cũng có thể làm được, dù đó là người rất giỏi về chuyên môn hay trình độ
cao về
tri thức. Muốn quản lý tập thể có hiệu quả cao, người cán bộ lãnh đạo phải có những phẩm
chất đặc biệt, phải có phong cách quản lý phù hợp”.[25, tr 254]
Bầu không khí của tập thể quan trọng. Nó chính là tâm trạng chung của các thành viên trong
tập thể được hình thành thông qua mối quan hệ công tác (do công việc) và mối quan hệ tâm lý (sở
thích, cá tính…) do vậy, người quản lý phải tạo nên mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau để họ có

điều kiện gây ảnh hưởng qua lại cho nhau, đồng thời tự mỗi thành viên trong tập thể xác định cho

- Trong thực tiễn phức tạp, phong phú, đa dạng của công tác quản lý, người hiệu trưởng
thường phải đương đầu và giải quyết nhiều tình huống cụ thể của công tác quản lý. Thông qua việc
phát hiện và giải quyết các tình huống này chứng minh bản lĩnh và năng lực của người quản lý, góp
phần
đem lại những hiệu quả thành công trong công tác lãnh đạo quản lý nhà trường.
- Đề cao vai trò của hiệu trưởng trong việc xây dựng tập thể sư phạm, nhằm đạt được mục tiêu
giáo dục đề ra. Trong hoạt động quản lý, phong cách quản lý của nhà lãnh đạo tập thể là một trong
những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác quản lý, lãnh đạo.

- Nhà trường là đơn vị, cơ sở trực tiếp giáo dục - đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành
giáo dục - đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý,
lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh
đồng bộ nhằm thực hiện có ch
ất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
- Xác định các yếu tố quyết định chất lượng bầu không khí tâm lý tập thể, chủ thể quản lý
trường học, các nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến bầu không khí tâm lý của tập thể.
- Việc tạo ra một bầu không khí làm việc ấm áp thật đơn giản song cũng rất cần thiết. Không
khí làm việc là do người lãnh đạo quyết định. Công việ
c và trách nhiệm của hiệu trưởng là phải luôn
vui vẻ, quan tâm, lịch sự và thường xuyên giúp đỡ người khác để tạo nên bầu không khí tâm lý thoải
mái, tích cực.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu:
1.2.1.1. Quản lý và lãnh đạo:
+ Quản lý:
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận
quản lý, khái niệm
quản lý được nhiều nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực hành quản lý đưa ra:
* Harold-Koontz - Cyryl Odonnel - Heinz Weihrich trong “Những vấn đề cốt yếu của quản
lý” đã đưa ra định nghĩa:

quyền lực. Nhưng dù những khác biệt đó có đa dạng đến mấy thì bất cứ người lãnh đạo quản lý nào
cũng đều là người chỉ huy, điều khiển một tổ chức. Chỉ huy, điều khiển là chức năng đặc trưng và
chủ yếu nhất của người lãnh đạo. Đó là người đứng đầu một tổ chức, có nhi
ệm vụ xác định và chỉ ra
mục tiêu cho tổ chức, vạch ra con đường để đi đến mục tiêu, hướng dẫn và thúc đẩy tổ chức hướng
tới mục tiêu đã định bằng cách phối hợp, điều hòa hoạt động của các thành viên nằm trong tổ chức
ấy.
1.2.1.2 Phong cách quản lý
+ Phong cách
Theo đề cương bài giảng Khoa học quản lý: “Phong cách là tổng thể các phương pháp, tác
phong và cách thức tiêu biểu,
đặc trưng mà người lãnh đạo sử dụng trong hoạt động hàng ngày để
giải quyết công việc”.[16. Tr.126]
+ Phong cách quản lý
Theo Võ Thành Khối - Nguyễn Xuân Tảo: “Kiểu hoạt động lãnh đạo hay phong cách lãnh
đạo quản lý là toàn bộ những định hướng, lề lối, cách thức đặc thù của một nhà lãnh đạo quản lý
trong hoạt động của mình tác động vào các đối tượng quản lý khác nhau.” [18, Tr.40].
Trong chuyên đề Quản lý trường học, tác giả Nguyễn Vă
n Lê - Nguyễn Thanh Phong định
nghĩa: Phong cách quản lý của một cán bộ lãnh đạo là tập hợp những đặc điểm của người cán bộ đó
trong công tác quản lý, là nét tập trung trong những phương pháp mà người cán bộ sử dụng trong
công tác quản lý [20,Tr.22]
Tác giả Bùi Ngọc Oánh: “Phong cách nhà quản lý là một hệ thống các hành vi, các biện pháp
tác động có tính điển hình, ổn định của người lãnh đạo trong việc giải quyết các vấn đề nả
y sinh
trong công tác hàng ngày của tập thể” [24, Tr.270].
Từ những khái niệm nêu trên có thể hiểu: Phong cách quản lý là hệ thống các phương pháp
được nhà quản lý sử dụng để tác động đến những người dưới quyền. Phong cách quản lý được coi

như một nhân tố quan trọng của quản lý, trong đó thể hiện không chỉ mặt khoa học và tổ chức quản

để mang lại lợi ích
cho tập thể (dĩ nhiên, họ sẽ nhận ra vấn đề sau khi công việc đã hoàn thành). Tuy nhiên, trong thời
đại ngày nay nó không còn thích hợp
● Phong cách dân chủ
Người quản lý luôn luôn có sự bình tĩnh trong hoạt động, phân công công tác cho những
người dưới quyền một cách hợp lý, có tính đến yêu cầu của đồng nghiệp. Những chỉ thị, mệnh lệnh
đề ra cũng mang tính dân chủ nên dễ gây không khí đoàn kết trong tập thể. Trong giao ti
ếp luôn tỏ

ra ôn tồn, tế nhị, có giọng nói ấm áp thể hiện tính thân thiện, tỏ rõ sự tôn trọng nhân cách con người,
nên tập thể vui vẻ tiếp nhận và chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh, luôn lắng nghe ý kiến phê bình, góp ý
của mọi người để tự điều chỉnh chương trình, kế hoạch và mọi hành vi của mình.
Phong cách dân chủ cần thiết đối với mọi người quản lý. Nó có ưu điểm là tạ
o được những
điều kiện thuận lợi để phát huy tính chủ động, sáng tạo của những người dưới quyền và làm cho họ
hài lòng với công việc được giao. Song, không nên sử dụng phong cách dân chủ trong điều kiện
không có thời gian để tranh luận và bàn bạc, yêu cầu phải đưa ra một quyết định gấp có tính chất chỉ
thị và quyết đoán.
Khi sử dụng phong cách dân chủ, các thành viên làm việc với nhau một cách c
ởi mở, thân
thiện. Mối quan hệ giữa tập thể và người quản lý được tự do hơn, tự nhiên hơn. Công việc vẫn được
tiến hành một cách đều đặn và liên tục khi người quản lý đi vắng.
Trong nhà trường, nếu thực hiện phong cách này, hiệu trưởng sẽ tập trung được trí lực của
tập thể, dễ có sức thuyết phục quần chúng. Nhưng lúc nào cũng dân chủ thì vài trườ
ng hợp không
thể hoàn thành nhiệm vụ vì có những việc cần phải giải quyết theo chế độ thủ trưởng (xây dựng nội
quy, kế hoạch kiểm tra, chọn tổ, khối trưởng…) không phải lúc nào cũng để tập thể góp ý, bình
chọn. Trong những trường hợp bình chọn, xét duyệt để hưởng chế độ trợ cấp thì việc tập thể lựa
chọn sẽ sáng suốt hơn.
● Phong cách tự do

a
người lãnh đạo.
Ngoài ra còn có phong cách quản lý tình huống (Joseph Praveen Kumar, Hersey, Blanchard
& Johnson, 2008): người quản lý sử dụng các phong cách quản lý khác nhau tùy thuộc vào tình hình
và kiểu của các nhân viên đang được giám sát.
Bùi Ngọc Oánh lưu ý: Một số loại phong cách lãnh đạo chưa tốt:
- Phong cách hành chính, quan liêu giấy tờ
- Phong cách thụ động
- Phong cách chung, hời hợt
- Phong cách chậm chạp, lề mề
- Phong cách tư duy nông cạn , vội vã, thiếu chín chắn, ít suy nghĩ
- Phong cách mệnh lệnh, độc đoán
Một số
phong cách lãnh đạo tốt:
- Phong cách sâu sát, mạnh dạn
- Phong cách phát hiện vấn đề và tổ chức
- Phong cách linh hoạt, phối hợp nhiều kiểu quản lý.
Nhìn chung, các nhà chuyên môn nhất trí rằng phong cách dân chủ là tốt nhất. Tuy nhiên,
thực tế chứng tỏ rằng trong một số trường hợp đặc biệt, phong cách độc đoán là cần thiết và trong
những điều kiện phù hợp, phong cách tự do mang lại kết quả khả quan hơn hai kiểu còn l
ại. Một
người quản lý có thể sử dụng bất cứ phong cách nào để đem lại hiệu quả trong công tác quản lý.
Nghệ thuật quản lý là uyển chuyển, biết sử dụng phong cách nào đúng lúc. Vì vậy, người quản lý
phải học hỏi các phong cách quản lý khác nhau để có thể linh hoạt khi sử dụng chúng với những
điều kiện và con người khác nhau trong công tác quản lý, là nghệ thuật cao nhất của một ngườ
i quản
lý giỏi.

Trong thực tế, một phong cách quản lý nào đó được tạo ra và trở nên cố định ở những nhà
quản lý là do nhiều nhân tố ảnh hưởng và tác động đến. Những nhân tố này có thể là sự chi phối của

- Nhóm, tập thể trong trường học
Trong trường học, những giáo viên - cán bộ - nhân viên - học sinh sẽ được tập hợp lại để thực
hiện các hoạt động - quan hệ trong những điều kiện cụ thể c
ủa một nhóm xác định. Nhìn chung, tính
chất hoạt động, độ lớn và cấu trúc - thành phần của nhóm cũng sẽ rất khác nhau. Có thể có những
hình thức nhóm lớn, nhóm nhỏ, nhóm ước lệ, nhóm thực, nhóm không chính thức, nhóm chính thức,
nhóm được phát triển ở trình độ thấp và ở trình độ cao. Trong trường học, những nhóm được phát

triển ở trình độ cao được gọi là tập thể. Có thể coi tập thể là tập hợp của những cá nhân, những
nhóm người được tổ chức lại, có mục tiêu hoạt động rõ ràng, để đem lại lợi ích cho các thành viên
và cho xã hội. Trong điều kiện hiện nay của trường học, một tập thể nào đó được coi là vững mạnh
phải thỏa mãn được đồng thời các yêu cầu sau đ
ây:
+ Có được mục tiêu hành động rõ ràng - chuẩn xác, được tổ chức một cách chặt chẽ, có nội
dung hoạt động linh hoạt, đạt hiệu quả và được xã hội ủng hộ.
+ Có được phạm vi ảnh hưởng riêng đủ lớn, có quan hệ tích cực với môi trường mà trong đó
hiện tồn tại các mối quan hệ tốt đẹp với các tổ chức, tập thể cấp trên, với tập thể b
ạn và với tổ chức
cấp dưới.
+ Có được người lãnh đạo tài giỏi, mà ở họ có được những phẩm chất tâm lý cần thiết của
năng lực tổ chức, có đạo đức tốt, thực sự năng động, sáng tạo và có uy tín cao. Nếu là người hiệu
trưởng đang thực thi các hoạt động quản lý trường học, thì cần thường xuyên biết cách rèn luyện
năng lực, ph
ẩm chất của mình để có thể đáp ứng được các yêu cầu trên và biết chăm chú, dày công
xây dựng nên các tập thể học sinh vững mạnh.
- Các giai đoạn phát triển của các tập thể
Các giai đoạn phát triển của các tập thể sẽ được xác định theo hướng sau:
+ Giáo viên hay học sinh mới được nhóm họp, được biên chế vào một đơn vị, một tổ chức
nào đó mà mọi người ch
ưa biết rõ về nhau. Vào lúc này, ở mỗi một cá nhân đều có lòng tự trọng, có

ng thành những tập thể học sinh, giáo viên vững mạnh.
- Bầu không khí tâm lý của tập thể
Vấn đề bầu không khí tâm lý mới xuất hiện trong tâm lý học xã hội và chưa có định nghĩa được
thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên, thuật ngữ “bầu không khí tâm lý” được nhiều người sử dụng trong sách,
báo và cuộc sống thường nhật.
Ta thường nói: Bầu không khí vui vẻ, bầu không khí căng thẳng, bầu không khí nặng nề hoặc
lục đục v.v… Bầu không khí thể hiện trạng thái tinh thần của một tập thể.
“Bầu không khí tâm lý tập thể” là trạng thái tâm lý xã hội phản ảnh tính chất, nội dung, xu
hướng tâm lý của các thành viên trong tập thể đó. Nó có tác dụng nhất định đến các quan hệ tâm lý
và hiệu quả hoạt động của tập thể đó.
Các dấu hiệu quan trọng nhất của bầu không khí tâm lý xã hội là:
+ Sự tin tưởng và yêu cầ
u cao của các thành viên với nhau.
+ Thiện chí và giúp đỡ nhau trong công việc.
+ Mức độ hòa nhập tâm lý giữa các cá nhân, tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc
chung và đối với mỗi cá nhân.
Khi gặp những vấn đề này, chúng ta phải nhận thức được rằng: Thiện cảm, ác cảm cho đến
trung tính đều có thể đúng hoặc sai lệch vì nó phụ thuộc vào sự nhìn nhận của mỗi người, vào
những chuẩn mực
đạo đức của họ đúng hay không đúng.
Bầu không khí tâm lý đóng vai trò to lớn đối với hoạt động chung của tổ chức. Một bầu
không khí tâm lý lành mạnh, thân ái trong tổ chức sẽ tạo ra tâm trạng phấn khởi, vui vẻ ở mỗi thành
viên, làm tăng thêm tính tích cực của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, tạo ra sự
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân. Ở một tổ
chức như vậy ít xuất hiện những xung đột
gay gắt, những nhóm không chính thức đối lập và các thủ lĩnh tiêu cực. Ở đó các thành viên luôn
gắn bó với tổ chức, có ý thức xây dựng tập thể của mình.

Trái lại, ở một tổ chức mà bầu không khí tâm lý tẻ nhạt, căng thẳng sẽ tạo ra các cảm xúc,
tâm trạng tiêu cực cho các thành viên, dễ dàng hình thành nên các nhóm không chính thức đối lập,

ế ổn định dẫn đến tâm trạng dễ chịu, bớt
lo âu. Điều kiện làm việc của nhà trường thuận lợi, hoạt động sư phạm trong nhà trường được tổ
chức khoa học, nhịp điệu ổn định sẽ tạo nên tâm trạng vui vẻ, thư thái, cởi mở và ngược lại, điều
kiện làm việc không thuận lợi sẽ tạo nên tâm trạng b
ất an, chán nản.
b. Yếu tố chủ quan: Mối quan hệ giữa người và người trong tập thể

Tuỳ vào tính chất tích cực hay tiêu cực của các mối quan hệ giữa những người trong tập thể
mà hình thành nên tâm trạng tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân và tập thể. Tâm trạng của mỗi người
phụ thuộc rất nhiều vào cách xử sự của những người mà ta giao tiếp với họ. Sức khỏe của con người
phụ thuộc vào cảm xúc và tâm trạng, còn cảm xúc và tâm trạng phụ thuộc vào mối quan hệ
lẫn nhau
đã được hình thành giữa người và người. Đặc biệt, trong môi trường sư phạm, mọi người đều thuộc
tầng lớp trí thức và đang tham gia một loại hình lao động đặc biệt thì cơ chế lây lan tâm lý rất dễ
thực hiện và gây ảnh hưởng rất lớn.
Qua đó ta thấy, dù là yếu tố chủ quan hay khách quan cũng đều trực tiếp ảnh hưởng đến bầu
không khí tâm lý nơi con ng
ười đang sống và hoạt động.
1.2.4. Vai trò và nhiệm vụ của người hiệu trưởng
1.2.4.1. Vai trò của hiệu trưởng
Căn cứ vào điều lệ trường phổ thông và các văn bản pháp quy của Nhà nước về việc quản lý
nhà trường phổ thông, hiệu trưởng là người lãnh đạo cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường,
thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh theo chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo d
ục và Đào tạo.
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về việc đảm bảo chất lượng
giáo dục ở trường mình. Tuy có các phó hiệu trưởng giúp việc và liên đới chịu trách nhiệm, nhưng
hiệu trưởng phải giữ vai trò thủ trưởng, thường xuyên nắm thông tin và có những quyết định kịp
thời không để những hiện tượng thiếu trách nhiệm, phản sư phạ
m xảy ra hoặc tiếp diễn làm tổn hại
đến chất lượng giáo dục thế hệ trẻ.

- Quản lý chuyên môn của giáo viên, nhân viên
- Kiểm tra, nhận xét đánh giá giáo viên, nhân viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của giáo
viên, nhân viên.
● Quản lý và tổ chức giáo dục học sinh
- Quản lý việc học tập của học sinh
- Xây dựng nội quy, nề nếp, kỉ cương học tập cho học sinh. Kiểm tra, nhận xét đánh giá học
sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ của học sinh.
- Góp ý về công tác cán bộ của Đảng, Đoàn, Đội, Công đoàn, giúp đỡ và cộng tác với công
tác Đoàn Đội trong nhà trường, tổ chức giáo d
ục tư tưởng chính trị, động cơ học tập cho học sinh.
- Xây dựng tổ chức hội phụ huynh học sinh (PHHS) trong nhà trường, góp ý hướng dẫn hoạt
động của hội PHHS để cùng nhà trường giáo dục học sinh.
● Quản lý hành chính, tài chính, tài sản trong nhà trường.
- Quản lý công tác hành chính theo nguyên tắc và chế độ của Nhà nước.
- Tổ chức công tác văn thư lưu trữ, công tác hồ sơ, thống kê báo cáo theo quy định của Nhà
nước và yêu c
ầu của cấp trên.
- Quản lý việc thu chi của trường đúng quy định.
- Quản lý thiết bị, tài sản của trường, có kế hoạch bổ sung, tu sửa hàng năm để đảm bảo
nhiệm vụ giáo dục của trường.
● Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh
- Thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách sinh hoạt giảng dạy, học tậ
p của giáo viên, nhân
viên và học sinh.
- Quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên, nhân viên.

- Quyết định khen thưởng, phê bình, kỷ luật đối với GV, nhân viên, học sinh.
- Tiếp nhận thuyên chuyển, cho nghỉ phép đối với GV, nhân viên, học sinh.
1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA PHONG CÁCH QUẢN LÝ ĐẾN BẦU KHÔNG KHÍ CỦA TẬP
THỂ

được chỉ huy, điều khiển, điều chỉnh tức là đòi hỏi sự lãnh đạo, quản lý.
Nói cách khác, phân công lao động xã hội phát tri
ển đến một mức độ phát triển nhất định sẽ
làm xuất hiện những cá nhân đóng vai trò chỉ huy, điều hành các hoạt động lao động khác của xã
hội. Hoạt động có tính chất chuyên biệt của những cá nhân đóng vai trò điều hành ấy chính là hoạt

động quản lý. Như vậy, hoạt động quản lý là một dạng hoạt động lao động đặc thù của một nhóm
người đóng vai trò chỉ huy, điều hành các hoạt động khác của xã hội.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lý của tập thể như:
+ Phong cách quản lý
+ Tin tưởng
+ Giao lưu hai chiều
+ Cảm thấy công việc có ích
+ Muốn được gánh vác trách nhiệm
+ Khen thưở
ng công bằng
+ Sức ép công việc hợp lý
+ Có cơ hội thành công
+ Kiểm tra, tổ chức hợp lý
+ Được tham gia vào công việc chung…
Trong đó, phong cách quản lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lý tập
thể
Bầu không khí tâm lý gồm ba yếu tố tạo thành
- Tinh thần, thái độ của con người
- Sự gắn bó với tập thể
- Mối quan hệ giữa người với người.
Phong cách quản lý ả
nh hưởng trực tiếp đến ba yếu tố này.
1.3.1. Phong cách quản lý ảnh hưởng đến tinh thần, thái độ của cấp dưới
Theo kết quả qua nhiều năm nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Đại học Michigan (Hoa

Mọi người lẳng lặng làm việc, ít quan tâm đến nhau. Giữa người quản lý và quần chúng có khoảng
cách xa. Tập thể sẽ có người không thích nhà quản lý mà không nói ra, nhưng có người muốn lấy
lòng cấp trên, sinh ra tập thể chia bè, rẻ nhóm.
Người quản lý theo phong cách dân chủ, cùng sống và làm việc với các thành viên, cùng quyết
mọi vấn đề và cùng chịu trách nhiệm. Chính sự đồng cam cộng khổ đó sẽ g
ắn bó tập thể. Trong tập thể
ít có cãi vã, mọi người hợp tác rất tốt, tinh thần tập thể lên cao. Người quản lý tin tưởng, giao quyền cho
cấp dưới, cấp dưới không phụ lòng tin ở cấp trên, họ cùng gắn bó với nhau vì tập thể.
Phong cách quản lý dân chủ sẽ tạo sự gắn bó với nhau của các thành viên trong tập thể ở mức
độ cao nhất.
1.3.3. Phong cách quản lý ảnh hưởng đến mối quan h
ệ giữa người với người trong tập
thể
Trong xã hội, con người không ai sống một mình. Mỗi người là một phần của xã hội và
người ta cần nhau. Con người tạo nên xã hội, đồng thời xã hội tạo nên con người. Tập thể nhà
trường là xã hội thu nhỏ.
Không ai không cần sự giúp đỡ theo cách này hay cách khác và không ai vô dụng đến mức
không giúp được gì cho người khác. Tất cả phụ thuộc vào nhau và cần giúp nhau. Đó chính là tầm quan
trọng của mối quan hệ giữa người với người .
Để có mối quan hệ tốt, mọi người cần phải cảm thông hoàn cảnh, hiểu vị trí, tình huống
người khác, tin lẫn nhau.

Qua phân tích, chúng tôi thấy quản lý theo phong cách dân chủ sẽ tạo niềm tin nơi quần
chúng, mối quan hệ giữa người với người tốt đẹp hơn.
Theo HeathDay, “sếp” khó chịu. nhân viên dễ bệnh tim. Báo cáo từ các nhà nghiên cứu Thụy
Điển cho thấy những công nhân thường xuyên làm việc với những người quản lý khó chịu thì nguy
cơ bị bệnh tim sẽ tăng.
Nhà nghiên cứu Anna Nyberg thuộc Trung tâm y khoa Karolinska (Thụy Điển), đã có một
cu
ộc khảo sát trên nhiều nhóm công nhân ở nước này. Trong vòng 10 năm theo dõi, Nyberg nhận

LÊN BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÝ TRONG CÁC TRƯỜNG THPT THUỘC ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

2.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai mở và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với
tên gọi Trấn Giang. Cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, Trấn Giang - Cần Thơ đã trải
qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Mỗi giai đoạn lịch sử đều ghi dấu nhữ
ng bước
phát triển mới của vùng đất này. Với những lợi thế nổi trội so với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long, Cần Thơ từ lâu đã được coi là thủ phủ của miền Tây Nam bộ, và vị thế của Cần
Thơ một lần nữa được nâng lên tầm cao mới khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ngày 1-
1-2004.
Theo số liệu năm học 2008 - 2009 toàn ngành hiệ
n có 12.363 cán bộ giáo viên, nhân viên.
Trong đó, mầm non: 1.788 người; tiểu học: 5.449 người; trung học cơ sở: 3.528 người; trung học
phổ thông và các trung tâm: 1.608 người; cán bộ quản lý trường học và cơ quan quản lý giáo dục:
820 người.
Trong ngành có 3.550 đảng viên, tỷ lệ 28,71%; nữ đảng viên: 1.521 người, tỷ lệ 42.84%.
* Về trình độ chính trị, chuyên môn của đội ngũ
- Trình độ chính trị:
Cử nhân: 34 người, cao cấp: 13 người; trung cấp: 312 người; sơ cấp: 2.331 ngườ
i.
- Về chuyên môn, đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn:
Mầm non: 96% (trên chuẩn 15%)
Tiểu học: 99% (trên chuẩn 30%)
Trung học cơ sở: 99% (trên chuẩn 25%)
Trung học phổ thông: 99,85% (trên chuẩn 5%)
Đã tốt nghiệp thạc sỹ 49 người, tiến sỹ 1 người và đang đào tạo 2 tiến sỹ, 86 thạc sỹ.
Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ đã thành lập mới Trường Trung học phổ thông diện Chính
sách (THP Trần Đại Nghĩa), chuyển đổi loại hình 6 trường trung học phổ thông và 3 trường mầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status