PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG
TIỀN THƯỞNG TẠI CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM CỬU LONG
A. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM
CỬU LONG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN
LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG
I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty văn phòng phẩm Cửu
Long
1. Lịch sử phát triển của công ty văn phòng phẩm Cửu Long
+ Công ty văn phòng phẩm Cửu Long là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc
tổng công ty nhựa Việt Nam, Bộ Công Nghiệp.
+Tên giao dịch quốc tế là CLOSTACO (Cưu Long stationary company)
+ Trụ sở công ty: số 536A Minh Khai – Hai Bà Trưng – Hà Nội
Trước năm 1991, công ty văn phòng phẩm Cửu Long là một phân xưởng sản xuất
của nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà, có trụ sở giao dịch tại 27 – Lý Thường Kiệt –
Hà Nội. Là một phân xưởng của nhà máy, nhưng địa điểm của phân xưởng lại cách xa
nhà máy, những mặt hàng sản xuất chính của phân xưởng là giấy than, mực viết …Tuy
nhiển trong thời gian đó tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gặp nhiều khó
khăn,cho nên có nhiều gánh nặng dồn lên phân xưởng. Trước tình hình đó, với diện tích
mặt bằng rộng mà diện tích sử dụng sản xuất lại bó hẹp, quy mô sản xuất cũng bị giới
hạn. Do đó đã đến lúc phân xưỏng cần phải tiến hành hạch toán độc lập, tự lo đầu ra,
đầu vào, kinh doanh đa dạng các mặt hàng, nhằm phát huy nội lực cũng như thế mạnh
của phân xưởng để phát triển sản xuất kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trường hiện
nay
Ngày 1/7/1991 phân xưởng bắt đầu tách ra khỏi nhà máy văn phòng phẩm Hồng
Hà,theo nghị định số 384/TCLĐ- CNN ngày 29/4/91 của Bộ Công Nghiệp nhẹ (nay là
Bộ Công Nghiệp) lấy tên doanh nghiệp là nhà máy văn phòng phẩm Cửu Long thuộc
liên hiệp sản xuất, xuất nhập khẩu nhựa (nay là tổng công ty nhựa Việt Nam). Nhà máy
văn phòng phẩm Cửu long là một doanh nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch
toán độc lập và tự chủ về mặt tài chính. Chức năng chính của nhà máy là tổ chức sản
xuất kinh doanh hàng văn phòng phẩm và nhựa phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài
nước sau một thời gian hoạt động, để phát huy và tận dụng tối đa của nhà máy trong
đầu tư, sản xuất, cung ứng, đến tiêu thụ sản phẩm ;xuất nhập khẩu nguyên vật liệu,phụ
liệu, thiết bị phụ tùng sản phẩm nhựa và các hàng hoá khác do công ty sản xuất. Và
tiến hành sản xuất kinh doanh các nghành nghề khác theo quy định của pháp luật và
nhiệm vụ khác do tổng công ty giao
Bảng : Cơ cấu sản phẩm sản xuất- kinh doanh của công ty văn phòng phẩm Cửu
Long
TT Cơ cấu các sản phẩm sản xuất Cơ cấu các sản phẩm kinh
doanh
Xí nghiệp nhựa PP Phân xưởng nhựa
PET
Bộ phận văn phòng
phẩm
1 Các loại vỏ bao xi
măng
Các loại chai nhựa
nước giải khát
Mực viết xanh, đen Kinh doanh xuất -nhập
khẩu các loại sản phẩm về
hạt nhựa
2 Các loại bao nhựa
đựng hàng
Các loại chai, lọ dược
phẩm
Mực dấu
3 Lọ đựng mực các loại Giấy than xanh, đen
4 Các loại chai nhựa
gia dụng …
(Nguồn: Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty văn phòng phẩm Cửu Long - Phòng
TC-HC)
II. Một số đặc điểm cơ bản của công ty VPP Cửu Long có ảnh hưởng đến
+ Phó giám đốc:phụ trách nội chính và sản xuất kinh doanh, giúp việc cho giám
đốc thực hiện nhưng chức năng,nhiệm vu, đượec phân công điều hành một số công việc
cụ thể của công ty,thay mặt giám đốc công ty trong một số trường hợp khi được uỷ
quyền bằng văn bản và chịu trách nhiệm cá nhân trước giám đốc và pháp luật.
+ Kế toán trưởng: là người giúp việc về mặt tài chính kế toán và chiu trách nhiệm
trước giám đốc và nhà nước về công tác tài chính kế toán của công ty, đồng thời là
người đứng đầu bộ máy kế toán công ty, hoạt động theo điều lệ kế toán trưởng.
Giúp việc cho giám đốc còn có các phòng ban chức năng và nghiệp vụ. Các bộ
phận này chịu sự lãnh đạo điều hành trực tiếp của giám đốc theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức.
1.2. Các phòng ban chức năng:
a. Phòng tổ chức- hành chính:
* Biên chế của phòng gồm có:10 người
* Chức năng của phòng tổ chức hành – hành chính là:
Là bộ phận tham mưu cho lãnh đạo công ty thực hiện quản lý các lĩnh vực công
tác như: Tổ chức cán bộ ; lao động- tiền lương; đào tạo; tuyển dụng; bảo vệ chính trị
nội bộ; công tác văn thư lưu trữ, hành chính tạp vụ, khánh tiết và chăm sóc sức khoẻ
cho người lao động trong công ty
Sơ đồ : Sơ đồ cơ cấu tổ chức của phòng Tổ chức- Hành chính của công ty văn
phòng phẩm Cửu Long hiện nay:
Trưởng phòng
tổ chức- h nh chínhà
Chủ trì
đánh giá
thực hiện
công việc
Bảo hộ lao
động,
BHXH,v cácà
chính sách xã
Hồng Hà, trước đây công ty có bộ phận chuyên trách về chức năng tổ chức lao động-
tiền lương riêng nhưng hiện nay bộ phận này đã tách ra và sát nhập vào phòng tài chính
– kế toán, bộ phận còn lại được tổ chức lại thành phòng tổ chức – hành chính chủ yếu
thực hiện các chức năng tổ chức hành chính . Ta có thể thấy cơ cấu tổ chức của bộ máy
làm công tác tiền lương được thể hiện ở sơ đồ vận động của dòng tiền lương trong công
ty như sau:
Tổ chức – h nh chínhà
Công nhân
Trưởng ca, tổ trưởng sx
Xí nghiệp – Phân xưởng xưởngxưởng
T i chính- kà ế toán
Sơ đồ 2: Sự vận động của dòng tiền lương trong công ty VPP Cửu Long
Theo đường nét liền: phản ánh sự quản lý trực tiếp
Theo đường nét đứt phản ánh thông tin phản hồi
Mũi tên hai chiều phản ánh quan hệ phối hợp
Trong đó, phòng tổ chức – hành chính ra các quyết định về lao động, tổ chức và
quản lý về mặt nhân sự- tổ chức, xếp lương cho người lao động, lập kế hoạch lao động,
quản lý hồ sơ nhân sự và thực hiện các chế độ chính sách với người lao động. Sau đó
chuyển sang cho phòng tài chính – kế toán. Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
dưới sự chỉ đạo của Giảm Đốc công ty và tham mưu của trưởng phòng Tổ chức- hành
chính, phòng Tài chính- kế toán sẽ tiến hành xây dựng định mức lao động,đơn giá tiền
lương, lập kế hoạch quỹ lương và xác định các hình thức tiền lương, tiền thưởng để
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt và sau đó tính trả lương cho người lao
động trong công ty .
Hàng tháng các xí nghiệp, phân xưởng sản xuất chuyển cho phòng tài chính – kế
toán các hợp đồng hoàn thành trong tháng để phong tài chính tính lương cho người lao
động sau đó trình giám đốc phê duyệt, sau đó sẽ chuyển đến các xí nghiệp để phân phối
cho người lao động
Theo đường nét đứt phản ánh là phòng tổ chức – hành chính quản lý về số lượng
đứng đầu là giám đốc và phó giám đốc, bên dưới là bộ máy giúp việc như: Đốc công,
thống kê- kế toán, thủ kho …
2. Đặc điểm về các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của công ty
VPP Cửu Long:
a. Yếu tố về lao động:
Để sản xuất ra sản phảm thì quá trình sản xuất luôn cần thiết có đủ 3 yếu tố là: tư
liệu sản xuất, lao động và đối tượng lao động. Trong đó yếu tố lao động đóng vai trò
đặc biệt quan trọng, vì yếu tố lao động của con người luôn có tính quyết định đối với
thành công hay thất bại trong qúa trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đối
với công ty văn phòng phẩm Cửu Long thì vấn đề lao động luôn được công ty coi trọng
và coi là yếu tố đặc biệt đóng vai trò quan trọng, quyết định năng xuất, chất lượng sản
phẩm của công ty. Trong hơn 10 năm thành lập và phát triển, hiện nay số lao động của
công ty là 190 người, trong đó có nhiều lao động có tuổi nghề cao do đã là lao động của
công ty từ trước khi công ty đựơc tách ra từ công ty vă phòng phẩm Hồng Hà. Sự biến
động về cơ cấu lao động của công ty qua một số năm gần đây được thể hiện qua bảng
thống kê sau:
Bảng 1:Cơ cấu lao động theo tính chất lao động và theo giới tính
TT Chỉ Tiêu
Năm 2000 Năm 2001 Năm20002
Số
lượng
(Người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(Người)
Tỷ
trọng
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(Người)
Tỷ
trọng
(%)
1 Cao đẳng và đại học 14 70 18 72 20 71,44
2 Trung cấp 2 10 3 12 4 14,28
3 Còn lại 4 20 4 16 4 14,28
Tổng số 20 100 25 100 28 100
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo chất lượng lao động của công ty. TC – HC)
Bảng 3: Chất lượng lao động công nhân kỹ thuật
T
T
Cấp bậc công nhân
Năm 2000 Năm 2001 Năm20002
Số
lượng
(Người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(Người)
Tỷ
trọng
Về cơ cấu theo trình dộ lành nghề của công nhân, theo bảng số liệu 3 ta thấy: Mặc
dù số lượng công nhân giảm dần qua 3 năm do công ty đang chuẩn bị cổ phần hoá,
nhưng số công nhân bậc 4 trở lên chiếm tới 43% trong tổng số công nhân và chiếm
36,8% tổng số lao đông trong công ty và số lao động này không ngừng tăng lên sau mỗi
năm
Như vậy với nguồn nhân lực có trình độ như vậy đã đảm bảo cho công ty luôn
hoàn thành được các nhiệm vụ sx- kd trong những năm qua. Tuy nhiên công ty cần xắp
xếp, bố trí lao động có hiệu quả cà hợp lý hơn để góp phần khai thác có hiệu quả hơn
nguồn nhân lực hiện có để hoàn thành tốt những nhiệm vụ sx-kd của công ty trong thời
gian tới…
b. Đặc điểm về yếu tố nguyên vật liệu:
Ngày nay yếu tố chất lượng sản phẩm trở thành một yếu tố sống còn đối với mọi
công ty, bởi vì chất lượng sản phẩm quyết định khả năng cạnh tranh, đến sự thành bại
của mỗi doanh nghiệp. Trong đó, nguyên vật liệu là một yếu tố đầu vào quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm. Vì vậy yếu tố nguyên vật liệu sẽ
ảnh hưởng và có ý nghĩa to lớn trong tổ chức các hoạt động sx- kd khác, trong đó có
công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng
Đối với công ty VPP Cửu Long, thì nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm hiện nay
chủ yếu là hạt nhựa PET và nhựa PP, Chiếm tỷ trọng lớn nhất 70-80% nguyên vật liệu
dùng trong công ty, mà nguyên vật liệu này được chế biến từ dầu mỏ nên chủ yếu là
phải nhập khẩu, do phòng kinh doanh của công ty đảm nhận. Còn lại khoảng 20%
nguyên vật liệu là các loại hoá chất để sản xuất các mặt hàng VPP như: cồn 90
o
,
fomanline, glucerin, giấy krapt…
Những nguyên vật liệu này được bộ phận kinh doanh của công ty đảm nhận nên
luôn được ổn định và đảm bảo chất lượng. Khi sử dụng nguyên vật liệu này vào sản
xuất thì các đơn vị sản xuất sẽ phối hợp với phòng TC-KT và tổ cơ điện để định mức
nguyên vật liệu cho sản xuất cho mỗi loại sản phẩm đảm bảo chất lượng và tiết kiệm.
Tuy nhiên thực tế do mặt bằng sản xuất còn hẹp, quy trình sản xuất chưa hoàn chỉnh và
Bao gói
Xuống mực v o là ọ
Bể lọc mực
Pha chế mực
Bể chứa mực
Vặn lắp lọ
Kiểm tra
Quy trình sản xuất giấy than
Bao gói
Phết nguyên liệu lên giấy
Pha chế nguyên liệu
Khuấy nguyên liệu
Dọc giấy than
Xén giấy than
Kiểmtra sản phẩm
B. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TIỀN
THƯỞNG TẠI CÔNG TY VPP CỬU LONG:
1. Phân tích hệ thống chỉ tiêu dùng làm căn cứ trả lương, trả thưởng tại
Công ty VPP Cửu Long:
Để có cơ sở trả lương cho người lao động một cách chính xác, công bằng và khoa học
thì các doanh nghiệp có thể
1.1. Hệ thống phân tích công việc:
Qua phân tích thực trạng về công tác phân tích công việc của Công ty hiện nay
thấy rằng, hiện nay công tác này chưa được thực hiện kỹ và sâu, do đó người lao động
trong Công ty mới biết được một cách rất chung chung, khái quát về yêu cầu, nhiệm vụ
và trách nhiệm của công việc mà họ thực hiện. Qua số liệu khảo sát điều tra thực tế em
thấy rằng chỉ có 52% số lao động trong Công ty được hỏi trả lời là họ có công việc phù
hợp với trình độ chuyên môn và ngành nghề được đào tạo. Đó là chưa kể đến vấn đề là
người lao động kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ công việc khác nhau nên nhiều khi công
việc chồng chéo, gây khó khăn cho hoàn thành tốt mọi công việc được giao.
hành chính cần đảm nhiệm, nhưng do phòng tổ chức - hành chính không có đủ người có
nghiệp vụ về công tác lao động tiền lương để đảm nhận.
Hiện nay phòng tổ chức - hành chính chủ yếu làm công tác quản lý về lao động
và làm các chức năng tổ chức hành chính trong Công ty. Từ thực tế trên đã ảnh hưởng
rất lớn đến công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng trong Công ty.
Ta biết rằng, công tác định mức giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động của
doanh nghiệp, nó không chỉ là cơ sở của tổ chức lao động khoa học mà còn là cơ sở để
trả lương chính xác, thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động. Do đó muốn
tăng cường được công tác quản lý tiền lương tiền thưởng đòi hỏi công tác quản lý định
mức lao động cần được Công ty chú ý và hoàn thiện trong thời gian tới.
Ở Công ty VPP Cửu Long hiện nay, đa số lao động trong Công ty là được trả
lương theo sản phẩm. Do đó việc xác định định mức lao động tổng hợp để xây dựng
đơn giá tiền lương và định mức lao động hao phí để tính đơn giá sản phẩm cho công
nhân trực tiếp sản xuất có ảnh hưởng rất lớn quỹ tiền lương của Công ty và tiền lương
của người lao động ở các đơn vị trực thuộc. Cụ thể công tác này được thực hiện ở Công
ty hiện nay như sau:
1.2.1. Việc xác định mức lao động tổng hợp cho đơn vị sản phẩm để xây dựng đơn
giá tiền lương và quỹ tiền lương được xác định như sau;
T
SP
= T
CN
+ T
PV
+ T
QL
(đơn vị: giờ người/đơn vị sản phẩm)
+ T
SX
= T
+ Sản phẩm chai PET : 15 triệu chai
+ Sản phẩm mực viết : 200 nghìn lọ
+ Sản phẩm mực dấu : 120 nghìn lọ
+ Sản phẩm giấy than : 120 nghìn hộp
Ta chỉ tính ví dụ cho sản phẩm chai PET như sau:
Xác định T
CN
của sản phẩm chai PET qua 3 công đoạn sau:
a. Ép phôi:
- Định biên lao động cho 1 ca máy sản xuất: 1 lao động/1 máy/1 ca
- Bấm giờ thấy năng suất 1 ca: 6000 sản phẩm, mà 1 ca làm việc 7,5 giờ (do nửa
tiếng nghỉ trưa).
- Khi đó hao phí thời gian để sản xuất ra 1000 sản phẩm là:
T
CN1
= = 1,25 (giờ người / 1000 sản phẩm)
b. Công đoạn thời gian:
- Định biên lao động bình quân cho 1 ca máy sản xuất: 1 người/1máy/1ca.
- Năng suất lao động 1 ca là: 5000 sản phẩm
- Thời gian để sản xuất 1000 đơn vị sản phẩm là:
T
CN2
= = 1,5 (giờ- người/1000 sản phẩm)
6
5,71x
5
5,71x
c. Công đoạn kiểm tra, đóng gói, nhập kho sản phẩm:
- Định biên lao động bình quân cho 1 ca sản xuất là:
2 người/1máy/1ca
CN
mực viết = 17,78 x 200 = 3.556h/1000SP
ΣT
CN
giấy than = 95,71 x 120 = 11.485h/1000SP
ΣT
CN
mực dấu = 25,53 x 120 = 3.663h/1000SP
Vậy: ΣT
CN chung
= 313.454h/1000SP
cho 5 loại sản phẩm
- Tỷ lệ thời gian hao phí công nhân phục vụ, phù trợ được xác định:
20
5,72x
T
Pv
= T
CN
PET
⇒ T
PVPET
= . T
CNTET
= 26,12% x 3,5 = 0,91giờ/1000SP
*. T
ql:
Thời gian hao phí lao động quản lý định mức
Tính theo tỷ lệ % so với T
CN
PV
Σ
Σ
454.313
862.81
chungT
chungT
CN
PV
Σ
Σ
454.313
737.59
2955,7
08,5000.15
x
x
T
T
Tên sản
phẩm
KL sản phẩm Định mức lao động tổng hợp
TSP
giờ
người/
1000SP
LĐB
(người)
ĐVT Số lượng
kết hợp với khảo sát, phân tích nên mức xác định được chưa phải là mức trung bình tiên
tiến. Cụ thể là: Việc định mức sản lượng để tính đơn giá sản phẩm chủ yếu chỉ dựa vào
việc bấm giờ mà các thao tác và kỹ thuật bấm giờ cũng chưa khoa học. Một đặc điểm
trong quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty hiện nay là bằng máy móc tự động dưới
sự điều chỉnh của người lao động nên việc định mức sản lượng được tiên hành theo tiến
trình của máy móc. Tuỳ theo từng máy móc và loại sản phẩm, cán bộ định mức tiến
hành bấm giờ để biết trong 1 ca máy chạy và thao tác điều chỉnh của người lao động có
trình độ khác nhau, là bao nhiêu sản phẩm, sau đó nhân với tỷ lệ sản phẩm phải đạt tiêu
chuẩn quy định trong 1 ca, từ đó ta sẽ được mức sản lượng 1 ca, tiếp đó là so sánh giữa
mức sản lượng 1 ca của các máy móc khác nhau, từ đó chọn ra 1 mức sản lượng làm
sản lượng định mức 1 ca.
Đồ thị 3: Đánh giá của người lao động về công tác định mức lao động
Như vậy: Việc tiến hành định mức này rất đơn giản và có thể xây dựng hàng loạt
cho các bộ phận khác một cách nhanh chóng, nhưng đây chưa phải là mới trung bình
tiên tiến, chưa phát huy được năng lực sản xuất của người lao động và điều kiện sản
xuất của máy móc. Do đó việc xác định đơn giá tiền lương theo sản phẩm sẽ không
chính xác, nên chưa thực sự động viên, khuyến khích được người lao động nỗ lực phấn
đấu, phát huy sáng kiến trong sản xuất do mức lương trả cho người lao động chưa thoả
đáng. Đây là tồn tại mà Công ty cần chú ý đến và hoàn thiện trong thời gian tới.
1.3. Hệ thống đánh giá công việc:
Hệ thống đánh giá công việc khoa học, hợp lý đòi hỏi phải đưa ra được 1 hệ thống
thứ bậc về giá trị công việc, để từ đó xây dựng được 1 hệ thống trả công riêng của
doanh nghiệp cho người lao động. Mà trong đó, một điều kiện quan trọng được công
tác đánh giá công việc trong doanh nghiệp là phải tồn tại một hệ thống các bản mô tả
công việc, các bản yêu cầu của công việc với người thực hiện đã được thiết kế 1 cách
chính xác và chi tiết. Tuy nhiên, với Công ty VPP Cửu Long do hệ thống phân tích lao
động đã lạc hậu, chưa chính xác và chi tiết lại chưa được phổ biến để người lao động
biết nên bản mô tả công việc và bản yêu cầu của công việc với người thực hiện đã thiếu
chính xác, và dường như người lao động chưa quan tâm, biết đến và chưa được áp dụng
trong thực tế, mà chỉ có một số ít các cấp quản lý trong Công ty biết đến. Điều đó dẫn
+ Hàng tuần đều phải báo cáo hoạt động thi đua của từng bộ phận, đơn vị tập thể
về hội đồng thi đua khen thưởng: 10đ.
+ Thực hiện tốt công tác cờ đỏ, giờ giấc kỷ luật của Công ty: 5đ
+ Thực hiện tốt công tác tuyên truyền như:
Biểu dương lao động có thành tích trong công tác, có khẩu hiệu phát động cổ vũ
thi đua: 10đ.
* Tiêu chuẩn đánh giá thi đua với cá nhân (thang điểm 100)
+ Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất được giao: 45đ
+ Chấp hành nghiêm chỉnh sự chỉ đạo phân công của cấp trên: 5đ
+ Chấp hành nghiêm nội quy, quy chế của Công ty: 10đ
+ Thực hiện tốt công tác VSCN - ATLĐ - PCCC: 10đ
+ Tham gia các phong trào văn hoá, văn nghệ và sinh hoạt tập thể: 5đ
+ Sản xuất đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm vật tư nguyên liệu, điện
năng theo định mức về số liệu và chất lượng sản phẩm, vật tư nguyên vật liệu năng
lượng của từng đơn vị sản xuất: 15đ.
* Phân loại, đánh giá lao động:
+ Tập thể lao động:
→ Đạt loại I: Nếu đạt tổng số điểm từ 95 điểm trở lên và trong đó có 80% cá
nhân đạt loại I trở lên, các chỉ tiêu khác phải đạt điểm tối đa.
→ Đạt loại II: Đạt tổng số điểm: 90 - 94 điểm
Trong đó có 65% cá nhân đạt loại I trở lên
Các chỉ tiêu khác phải đạt điểm tối đa
• Giá trị SXCN = 90% KH
• Doanh thu = 90% KH
+ Cá nhân: - Loại I : Đạt 95 điểm trở lên
- Loại II : Đạt 90 - 94đ
- Loại III : 85 - 89 điểm
Không xếp loại, đánh giá lao động đối với những cá nhân nào vi phạm 1 trong các
lỗi sau:
- Nghỉ ốm từ 4 ngày trở lên
chưa hiểu hết được bản chất của công tác đánh giá thực hiện công việc, học chỉ biết
rằng đánh giá THCV của nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và
liên quan đến vấn đề tiền lương, tiền thưởng họ muốn nhận được mà chưa hiểu hết là
đánh giá thực hiện việc còn nhằm hoàn thiện nâng cao năng lực và trình độ lao động
cho họ, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả năng suất lao động và đề bạt, thăng tiến
phát triển toàn diện của người lao động. Mặt khác việc đánh giá công việc của Công ty
được tiến hành mà không có quá trình trước khi đánh giá, đó là quá trình thảo luận với
người lao động về nội dung và phạm vi đánh giá mà chủ yếu việc đánh giá do chủ quan
của người lãnh đạo bộ phận. Do đó kết quả đánh giá chưa đạt được mục đích của cả
doanh nghiệp và người lao động. Qua số liệu điều tra thực tế em thấy, đa số người lao
động cho rằng có quá nhiều chỉ tiêu đánh giá, khó theo dõi và phấn đấu. Cụ thể qua sơ
đồ và số liệu sau:
Đồ thị 4: Đánh giá của người lao động về mức độ chính xác
của đánh giá thực hiện công việc:
1.5. Hệ thống công tác tổ chức, phục vụ nơi làm việc:
Ta biết rằng công tác tổ chức và phục vụ nơi làm việc là điều kiện rất quan trọng
để đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục. Nhờ đó mà giảm được hao phí
thời gian lao động không cần thiết, tránh được thời gian hao phí, do đó tiết kiệm được
chi phí tiền lương cho doanh nghiệp.
Ở Công ty VPP Cửu Long thì công tác này đã được thực hiện tốt tuy nhiên cũng
còn những tồn tại do những nguyên nhân khách quan và chủ quan:
- Về nơi làm việc của bộ phận gián tiếp đã được bố trí tương đối sạch sẽ và thoáng
mát, trong phòng làm việc đã được trang bị đầy đủ các điều kiện tốt để làm việc. Đối
với lao động trực tiếp cũng đã được trang bị đầy đủ dụng cụ, quần áo mũ bảo hộ lao
động đầy đủ. Tuy nhiên đối với công nhân làm việc trong các phân xưởng đã có đủ hệ
thống chiếu sáng đầy đủ, với cửa sổ được bố trí hợp lý nhưng do điều kiện nhà xưởng