Đề cương đường lối cách mạng đảng cộng sản Việt Nam phần xã hội - Pdf 26

LƯU Ý: Câu 1 có 2 phương án tiếp cận trả lời. Mọi người nghiên cứu tham khảo.
Câu 1: Trình bày quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm
nghèo. Từ góc độ Xã hội học hãy phân tích và đề xuất giải pháp để giải quyết những
vấn đề đó.
Ở nước ta, chính sách xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ
phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói
giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng KT bền vững và thực hiện
công bằng XH, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Xóa đói giảm nghèo là chủ trương
nhất quán của Đảng ta trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội:
- Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo trong
chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như trong chiến lược phát
triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục
được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng.
- Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của công
tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải nhanh chóng đưa các hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn
cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề ra Chương
trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo trong 5 năm 1996 – 2000 cùng với 10 Chương trình
kinh tế - xã hội khác.
- Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn
1998-2000. Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình 135
-Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng là: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo.
- Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ
bản của nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính
sách
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu

4- Hỗ trợ y tế, giáo dục cho người nghèo, hộ nghèo; cấp thẻ BHYT và cải thiện chất lượng
dịch vụ y tế tuyến cơ sở; cấp học bổng, giảm học phí cho học sinh nghèo; cho các hộ
nghèo vay tiền để đưa con em đến trường; dành chế độ đãi ngộ đặc biệt ch ogiáo viên
vùng cao, xa, sâu và trợ cấp cho học sinh nghèo các dụng cụ, đồ dùng cần thiết trong học
tập…
5- Giải quyết lao động, đào tạo nghề, tìm việc làm cho người nghèo, hộ nghèo (nhất là
trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp).
6- Chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình và dân số phát triển giúp người nghèo, hộ
nghèo tiếp cận với các dịch vụ kế hoạch hoá giai đình, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nâng
cao chất lượng dân số.
7- Khuyến khích làm giàu, hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo làm giàu chính đáng. Động viên,
thu hút các DN, các hộ giàu cùng với Nhà nước tham gia vào các chương trình xoá đói
giảm nghèo thông qua chính sách về đất đai, tài chính, thuế, lao động… nhằm từng bước
điều chỉnh thu nhập và tạo công bằng XH.
Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo 4 quan điểm của Đảng và và 7 chính sách của Nhà nước
nêu trên tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững 2012-2020. Mục tiêu chung của giảm nghèo bền vững trong thời
gian tới được xác định là: Cải thiện và từng bước nâng cao đời sống của người nghèo, ưu
tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên
giới, xã ATK, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vừng bãi ngang ven biển và hải đảo. Tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng nghèo; góp phần thu
hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các
dân tộc và các nhóm dân cư.
* Những vấn đề đặt ra cần quan tâm trong công tác xoá đói giảm nghèo:
1- Xác định tiêu chí nghèo và đo lường thu nhập của hộ nghèo, người nghèo.
2- Làm thế nào để đào tạo nghề ở huyện nghèo, vùng nghèo nhằm đáp ứng và phù hợp với
2
như cầu thị trường lao động.
3- Xoá đói giảm nghèo và xoá đói giảm nghèo bền vững cho hộ gia đình dân tộc thiểu số ở
vùng cao, sâu, xa.

trong diện đói nghèo. Nên dựa vào các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính
phủ (NGO) nước ngoài thực hiện các dự án về giáo dục, y tế, xã hội. Hướng hoạt động là
nâng cao năng lực, ý thức chủ động vượt đói nghèo của người dân nông thôn, miền núi.
Cách làm này hoàn toàn khác với cách làm phong trào để ban ơn, lấy thành tích.
- Về mặt quản lý nhà nước, cần có quy định về tư vấn, phản biện và giám định xã hội của
các dự án sản xuất, xây dựng các dự án xóa đói, giảm nghèo trước khi thực hiện, nhằm thể
hiện được định hướng phát triển bền vững.
- Nhà nước chỉ phê duyệt các dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài bảo đảm thực hiện
mô hình phát triển bền vững. Đồng thời phải rà soát, thanh tra các khu công nghiệp, các
dự án đã và đang sản xuất và xây dựng, quy định thời gian chuyển đổi sang mô hình mới.
Bởi vì, càng kéo dài kiểu sản xuất kinh doanh cũ thì càng tạo ra nguy cơ về đói nghèo.
3
- Đổi mới tổ chức và thể chế quản lý của Nhà nước theo yêu cầu đổi mới mô hình kinh
tế.
Mô hình tổ chức nhà nước và thể chế quản lý hiện nay, xét cho cùng cũng là sản phẩm của
mô hình tăng trưởng cũ. Khi mô hình tăng trưởng kinh tế đã lỗi thời mà kéo dài kiểu tổ
chức, quản lý cũ thì càng làm cho tình hình kinh tế và xã hội phát sinh nhiều vấn đề
nghiêm trọng.
Về khách quan, mô hình phát triển bền vững đòi hỏi và quy định mô hình tổ chức, thể chế
quản lý là Nhà nước pháp quyền của dân được đề ra từ Đại hội IX. Những vấn đề nóng
trong kỳ họp Quốc hội đầu năm 2010 cho thấy những khó khăn và chậm trễ trong việc xây
dựng nhà nước pháp quyền ở một nước kém phát triển, đang phát triển. Vấn đề đói nghèo
từng tồn tại lâu dài trong lịch sử. Sự tăng hay giảm đói nghèo gắn liền với trình độ phát
triển của nhà nước và phản ánh bản chất nhà nước. Như vậy, đói nghèo ở phạm vi một
nước là một vấn đề chính trị. Các cuộc khủng hoảng xã hội và những biến động về chính
trị đều phát sinh từ tình hình đói nghèo và bất bình đẳng xã hội.
Giải pháp thứ hai, đổi mới tư duy và phương pháp hoạch định và thực hiện chính
sách xóa đói, giảm nghèo
- Đổi mới tư duy về chính sách xóa đói, giảm nghèo.
Sau 35 năm nền kinh tế nước ta vẫn chưa có nhiều bước tiến, song vẫn là nước đang phát

quyết những vấn đề XH tương ứng, trong đó có vấn đề xoá bỏ tình trạng nghèo
cùng cực và thiếu đói.
Thực tiễn các giai đoạn phát triển khác nhau của XH thì có các vấn đề XH
khác nhau nhưng quan điểm, chủ trương của Đảng ta luôn coi việc giải quyết các
vấn đề XH, chính sách XH là một bộ phận quan trọng của đường lối cách mạng VN.
Có thể xác định 5 quan điểm cơ bản về giải quyết các vấn đề XH, chính sách XH
của Đảng ta như sau:
- Phải lấy con người làm trung tâm để hoạch định và thực hiện các chính sách
XH, đảm bảo ASXH, phúc lợi XH và giải quyết các vấn đề XH
- Phải xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế, gắn chính sách XH với chính
sách kinh tế.
- Phải huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, của cộng đồng và của quốc
tế; phải XH hoá công tác này
- Phải phù hợp với các chuẩn mực VH và truyền thống dân tộc
- Phải phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, thu hút sự đồng tình, ủng hộ và
giúp đỡ của quốc tế.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì phân tầng XH và phân hoá giàu
nghèo là hiện tượng tất yếu nhưng nó cần được điều chỉnh nhằm tránh dẫn đến phân
cực XH, mâu thuẫn XH và xung đột XH. VN từ khi đổi mới, phân tầng XH, phân
hoá giàu nghèo nảy sinh và có chiều hướng gia tăng, tác động không nhỏ tới sự
đoàn kết XH, thậm chí xảy ra xung đột lợi ích giữa các nhóm XH khác nhau.
* Theo Nghị quyết TW5 khoá XI, Đảng ta đã đề ra các quan điểm chỉ đạo về
công tác xoá đói giảm nghèo như sau:
- Thứ nhất: Coi xoá đói, giảm nghèo, điều chỉnh phân tầng XH là 1 trong
những nhiệm vụ XH cấp thiết, cần tập trung quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo giải quyết.
- Thứ hai: Để xoá đói giảm nghèo phải huy động tổng hợp các nguồn lực từ
Nhà nước, từ cộng đồng và từ quốc tế; phải XH hoá công tác xoá đói, giảm nghèo.
- Thứ ba: Xoá đói giảm nghèo phải thực hiện phương châm “cho cần câu
không chỉ cho con cá”. Thực hiện sự trợ giúp người /hộ nghèo phát triển sản xuất,
tự đứng vững vượt lên, giải quyết gốc rễ những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo và

gia vào các chương trình xoá đói giảm nghèo thông qua chính sách về đất đai, tài
chính, thuế, lao động… nhằm từng bước điều chỉnh thu nhập và tạo công bằng XH.
Từ góc độ XH học, phân tích và đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề về
xoá đói giảm nghèo
- XH theo nghĩa rộng (hệ thống) là toàn thể XH, toàn bộ XH; chỉ tất cả những
gì liên quan đến con người, đến XH loài người nhằm phân biệt nó với thế giới tự
nhiên. Đây là khái niệm chỉ cái chung, cái tổng thể, bao quát và xuyên suốt tất cả
các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó những vật thể tự nhiên được con
người cải tạo, biến đổi thành những thành tố, bộ phận của XH. Đại hội XI Đảng ta
đã xác định: XH.XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một XH dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
- XH theo nghĩa hẹp (tiểu hệ thống) là tập hợp người với những quan hệ của họ
tồn tại như là mục đích, mục tiêu, như những cái cần phải hướng tới của các hoạt
6
động như KT.CT.VH, tôn giáo, tín ngưỡng của họ. XH theo nghĩa hẹp thường được
sử dụng trong các khái niệm như phát triển XH, chính sách XH, đường lối XH và
trong khái niệm phát triển kinh tế - xã hội… Đại hội XI Đảng ta đã xác định: Tăng
trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công
bằng XH, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
- Vấn đề XH theo nghĩa rộng hay hẹp đều là những yếu tố gây trở ngại, khó
khăn cho sự phát triển bình thường của toàn XH hay một khía cạnh XH của XH, nó
ảnh hưởng xấu đến đời sống các thành viên trong XH; đồng thời vấn đề XH có thể
là yếu tố “bất thường” mới, khác lạ có thể làm biến đổi, thúc đẩy sự tiến bộ và phát
triển XH. Khi có các vấn đề xã hội phát sinh thì yêu cầu phải giải quyết thông qua
các biện pháp XH (chính sách XH)
- Chính sách là những quy định được thể chế hoá bởi cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền, là công cụ của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh những quan hệ KT,
CT, VH, XH của con người, giải quyết những vấn đề XH đang đặt ra, thực hiện
những mục tiêu đã được xác định.
- Chính sách XH là một loại chính sách nhằm điều chỉnh những quan hệ XH

+ Những yếu tố về học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật.
+ Sự phân công lao động và sự kế thừa các nguồn vốn của gia đình.
+ Cơ may XH, cơ hội thị trường …
- Những vấn đề đặt ra cần quan tâm trong công tác xoá đói giảm nghèo:
Mặc dù VN đã thành công trong việc nâng cao mức sống và giảm nhanh tỷ lệ
nghèo đói nhưng vẫn có một tỷ lệ lớn dân số VN vẫn có mức sống thấp, thậm chí
gần ngưỡng nghèo nên thành quả xoá đói giảm nghèo còn thiếu bền vững. Chỉ cần
một khó khăn do thiên tai như hạn hán, rét đậm, rét hại kéo dài hoặc tại nạn giao
thông, ốm đau cũng có thể làm cho người dân lâm vào hoàn cảnh nghèo đói. Do vậy
các vấn đề XH cấp bách nảy sinh từ cơ cấu XH, phân tầng XH ở VN hiện nay chủ
yếu là phân hoá giàu nghèo và bất bình đẳng XH, thể hiện dưới 1 số hình thức sau:
+ Vấn đề phân hoá giàu nghèo tăng: Các nghiên cứu về mức sống hộ gia đình
VN trong các năm 1993-2010 đều cho thấy: Mức chênh lệch ví dụ về thu nhập bình
quân đầu người giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất đã tăng từ gần
5 lần lên hơn 9 lần; Hệ số GINI về thu nhập và chi tiêu tăng từ 0.33 lên 0.45 (giá trị
giao động của hệ số GINI tăng từ 0 đến 1 và càng tiến đến 1 thì càng bất bình đẳng
và càng phân hoá giàu nghèo) cho thấy bất bình đẳng XH ở VN đã tăng rõ rệt
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề bất bình đẳng XH giữa thành thị và nông thôn: Về tiêu chí kinh tế,
điều này thể hiện rõ qua số liệu điều tra XH học ví dụ gần 90% người nghèo sống ở
nông thôn và tỷ lệ nghèo ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn ở mức rất cao
(trên 50%) so với mức trung bình của cả nước (11-15%)
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề phân tầng không hợp thức: Ở Việt Nam hiện nạy, khuynh hướng
phân tầng XH chủ yếu dựa trên yếu tố kinh tế (sở hữu tài sản, thu nhập) gồm 5 tầng
XH đi từ thấp đến cao, từ nghèo lên giàu, trong đó tầng 1 chiếm 10-15% dân số
(trước năm 1986 chiếm 30%); tầng 2 chiếm 44-45% dân số; tầng 3 chiếm 10-15%
dân số; tầng 4 chiếm 5-10% dân số và tầng 5 chiếm 2-5% dân số. Thực trạng nước
ta tồn tại 3 loại phân tầng XH là phân tầng XH hợp thức, phân tầng XH không hợp
thức và loại đan xen giữa phân tầng XH hợp thức và phân tầng XH không hợp thức.

+ Vấn đề xoá đói giảm nghèo và xoá đói giảm nghèo bền vững cho hộ gia đình
dân tộc thiểu số ở vùng cao, sâu, xa.
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề làm thế nào để phát huy tính tích cực của người nghèo, của cộng
đồng.
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề quản lý nhằm giảm thiểu thất thoát, lãng phí.
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Gắn liền với những vấn đề của cơ cấu XH và phân tầng XH là hàng loạt các
vấn đề XH khác đi theo như vấn đề trẻ em nghèo, vấn đề thất nghiệp, thiếu việc
làm, vấn đề nghiện ma tuý, vấn đề HIV/AIDS, vấn đề bạo lực gia đình, bạo lực giới,
bất bình đẳng giới, các bệnh tật, các tai nạn, các tệ nạn XH, các rủi ro XH…
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết những vấn đề này ……
+ Tính toán cái nghèo đa chiều để không chỉ lo cái ăn, cái mặc mà mở rộng
giải quyết yếu tố tinh thần, sức khoẻ, văn hoá cho người nghèo.
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
9
Tóm lại các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về xoá đói, giảm
nghèo cần tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng để thực hiện Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 2012-2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Mục tiêu
chung của giảm nghèo bền vững trong thời gian tới được xác định là:
- Cải thiện và từng bước nâng cao đời sống của người nghèo, ưu tiên người
nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới,
xã ATK, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vừng bãi ngang ven biển và hải đảo;
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng
nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và
nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư./.
10
Câu hỏi 2: Trình bày quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về
dân số, lao động, việc làm. Từ góc độ xã hội học hãy phân tích và đề xuất giải

Thứ ba: Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư mang
lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho
công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của
cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
Thứ tư: Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế
hoạch hoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo
chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu
quả và đến tận người dân.
11
Thứ năm: Các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo
tổ chức thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình theo chương trình.
* Theo nội dung Chiến lược Việc làm Việt Nam giai đoạn 2011-2020 thì
những quan điểm chỉ đạo về vấn đề lao động việc làm như sau:
Thứ nhất: Thúc đẩy việc làm bền vững cho mọi người, cải thiện thu nhập, giảm
nghèo và góp phần duy trì ổn định xã hội
Thứ hai: Nâng cao chất lượng lao động (nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên
70% vào năm 2020, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt trên 55% theo định
hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội )
Thứ ba: Tăng số lượng việc làm (quy mô việc làm tăng thêm khoảng 1 triệu
lao động mỗi năm, phấn đấu tỷ lệ tăng trưởng việc làm khoảng 2%/năm, )
Thứ tư: Cải thiện chất lượng việc làm (tốc độ tăng năng suất lao động bình
quân 4%/năm giai đoạn 2011-2020, tỷ trọng việc làm trong ngành nông nghiệp
giảm xuống còn 40% trên tổng số việc làm năm 2015 và 30% năm 2020, tăng tỷ lệ
lao động làm công ăn lương lên 65% vào năm 2020, )
* Theo Nghị quyết TW5 khoá XI (Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012),
Đảng ta đã đề ra các quan điểm chỉ đạo một số vấn đề về chính sách XH giai đoạn
2012-2020, trong đó có các vấn đề về công tác dân số, lao động, việc làm như sau:
Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển
sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên
người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện, xã nghèo, thôn bản đặc biệt

+ Hoàn thiện tổ chức bộ máy làm công tác này ở các cấp theo hướng chuyên
nghiệp hóa, đảm bảo triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án về dân số.
+ Ổn định, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số ở cơ sở để
đưa công tác truyền thông, giáo dục, cung cấp các dịch vụ dân số; theo dõi, quản lý
đối tượng đến từng hộ gia đình, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng ven
biển và hải đảo.
+ Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác dân số, thực hiện quản lý
công tác này theo chương trình mục tiêu quốc gia; từng bước áp dụng mô hình chi
trả phí dịch vụ dân số cho đối tượng được miễn chi phí thông qua các phương tiện
thanh toán trung gian (thẻ khách hàng, thẻ bảo hiểm y tế).
+ Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện có hiệu quả công tác dân
số. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về dân số,
đặc biệt là kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ
chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi; nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng
trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.
- Chính sách truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi:
+ Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về dân số, đặc biệt là
chính sách, pháp luật về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
+ Thường xuyên cập nhật, cung cấp thông tin về dân số tới các cấp ủy Đảng,
chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng.
+ Triển khai mạnh, có hiệu quả các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội
dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng; ưu tiên các đối
tượng khó tiếp cận thông tin và dịch vụ dân số.
+ Mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục về dân số. Kết hợp tốt truyền
thông đại chúng với truyền thông trực tiếp thông qua mạng lưới cộng tác viên dân
số, tuyên truyền viên của các ngành, đoàn thể; tăng cường sử dụng các phương tiện
truyền thông hiện đại như internet, truyền thông đa phương tiện, điện thoại di động.
- Chính sách về dịch vụ dân số:
+ Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ theo phân tuyến kỹ thuật, tập trung
cho vùng khó khăn, đảm bảo cung cấp các gói dịch vụ dân số.

dân số - kế hoạch hóa gia đình cấp xã; đào tạo cô đỡ thôn, bản ở vùng khó khăn.
+ Từng bước thực hiện đào tạo chuyên sâu, đào tạo đại học và sau đại học về
dân số.
+ Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, phổ biến và ứng dụng các
kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và kỹ thuật về dân số, kiểm soát mất cân
bằng giới tính khi sinh, sức khỏe sinh sản.
+ Nâng cao chất lượng thu thập, xử lý thông tin số liệu trên cơ sở áp dụng
CNTT và hoàn thiện hệ thống các chỉ báo, chỉ tiêu; cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp
thời thông tin, số liệu phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý công tác dân số.
- Các dự án của Chiến lược dân số:
+ Dự án Truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số, kế hoạch hóa gia đình.
14
+ Dự án Đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.
+ Dự án Nâng cao chất lượng giống nòi.
+ Dự án Nâng cao năng lực quản lý chương trình dân số, kế hoạch hóa gia
đình.
+ Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
+ Đề án Tổng thể nâng cao chất lượng dân số.
+ Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển đến năm 2020 (đã
được phê duyệt tại Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg ngày 09 tháng 4 năm 2009 của
Thủ tướng Chính phủ).
* Theo Chiến lược Việc làm Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Nhà nước ta đã
đưa ra và thực hiện các chính sách lao động, việc làm như sau:
- Mục tiêu Chiến lược:
+ Nâng cao chất lượng lao động (ví dụ như nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên
70% vào năm 2020, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt trên 55% theo định
hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội )
+ Tăng số lượng việc làm (ví dụ như quy mô việc làm tăng thêm khoảng 1
triệu lao động mỗi năm, phấn đấu tỷ lệ tăng trưởng việc làm khoảng 2%/năm, )
+ Cải thiện chất lượng việc làm (ví dụ như tốc độ tăng năng suất lao động bình

mục tiêu quốc gia, các chương trình, đề án lớn khác có liên quan lĩnh vực việc làm
Từ góc độ XH học, phân tích và đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề về
dân số, lao động, việc làm
- XH theo nghĩa rộng (hệ thống) là toàn thể XH, toàn bộ XH; chỉ tất cả những
gì liên quan đến con người, đến XH loài người nhằm phân biệt nó với thế giới tự
nhiên. Đây là khái niệm chỉ cái chung, cái tổng thể, bao quát và xuyên suốt tất cả
các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó những vật thể tự nhiên được con
người cải tạo, biến đổi thành những thành tố, bộ phận của XH. Đại hội XI Đảng ta
đã xác định: XH.XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một XH dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
- XH theo nghĩa hẹp (tiểu hệ thống) là tập hợp người với những quan hệ của họ
tồn tại như là mục đích, mục tiêu, như những cái cần phải hướng tới của các hoạt
động như KT.CT.VH, tôn giáo, tín ngưỡng của họ. XH theo nghĩa hẹp thường được
sử dụng trong các khái niệm như phát triển XH, chính sách XH, đường lối XH và
trong khái niệm phát triển kinh tế - xã hội… Đại hội XI Đảng ta đã xác định: Tăng
trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công
bằng XH, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
- Vấn đề XH theo nghĩa rộng hay hẹp đều là những yếu tố gây trở ngại, khó
khăn cho sự phát triển bình thường của toàn XH hay một khía cạnh XH của XH, nó
ảnh hưởng xấu đến đời sống các thành viên trong XH; đồng thời vấn đề XH có thể
là yếu tố “bất thường” mới, khác lạ có thể làm biến đổi, thúc đẩy sự tiến bộ và phát
triển XH. Khi có các vấn đề xã hội phát sinh thì yêu cầu phải giải quyết thông qua
các biện pháp XH (chính sách XH)
- Chính sách là những quy định được thể chế hoá bởi cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền, là công cụ của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh những quan hệ KT,
CT, VH, XH của con người, giải quyết những vấn đề XH đang đặt ra, thực hiện
những mục tiêu đã được xác định.
- Chính sách XH là một loại chính sách nhằm điều chỉnh những quan hệ XH
của con người, giải quyết những vấn đề XH đang đặt ra, thực hiện bình đẳng, công
bằng, tiến bộ XH và phát triển toàn diện con người.

→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề về giảm sinh chưa vững chắc, tình dục an toàn…
→ Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này ……
+ Vấn đề thiếu việc làm: Lao động nước ta hiện được đánh giá là giai đoạn
vàng về nguồn nhân lực. Năm 2009 tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (từ 18
đến 59 tuổi) chiếm khoảng 64% nhưng chất lượng tay nghề thấp và còn nhiều bất
cập khác cũng tạo sức ép làm tăng nạn thất nghiệp, thiếu việc làm. Ở nông thôn 1/3
lao động thiếu việc làm; không tìm được việc làm do không được đào tạo nghề và
kỹ năng lao động kém. Xuất khẩu lao động quản lý không tốt nên bị lợi dụng, lừa
đảo, gây thiệt hại trong dân. Thị trường lao động trong nước dần bị bên ngoài chiếm
lĩnh; đến nay số lao động nước ngoài làm việc trong các DN FDI tại các tỉnh phía
Nam đến từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó TPHCM khoảng 17 ngàn
người và các tỉnh Đông Nam bộ là 24,3 ngàn lao động; có tới 53% chưa được cấp
phép và các DN FDI cũng không thực hiện việc khai báo sử dụng lao động nước
ngoài; ở Đồng Nai trong số hơn 53 ngàn lượt người nước ngoài tạm trú thì chỉ có
2.229 lượt khai báo vì mục đích lao động, còn lại khai báo đi du lịch; tại KCN khí
điện Cà Mau có 3,7 ngàn lao động thì có tới 1,73 ngàn lao động nước ngoài và cũng
chỉ có 677 người được cấp phép lao động.
Chính phủ cần phải có những chính sách giáo dục, đào tạo, phát triển kỹ năng
nghề nghiệp, phân bố lại lao động, tạo việc làm, thực hiện những chính sách XH
thích hợp nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra cấp bách hiện nay.
17
Giải quyết vấn đề dân số hiện nay cần chú ý đến chính sách về lao động trong
thời kỳ dân số vàng. Đây là cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển KTXH
bền vững, Việc làm phải được coi là chính sách XH cần quan tâm thực hiện; thiếu
việc làm, thất nghiệp chính là 1 trong các nguyên nhân gây bất bình ổn XH, ảnh
hưởng đến an sinh của mọi gia đình và cộng đồng
Chính sách việc làm cho người lao động hiện nay là:
+ Đầu tư hỗ trợ những ngành, những lĩnh vực thu hút nhiều lao động.
+ Tăng cường đào tạo nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động theo yêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status