ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN cúu
BẢN CHẤT KINH TẾ
CỦA CÁC HÌNH THÚC ĐẨU TƯTRựC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VỆT NAM
(Đ ề tài nghiên cứu khoa hục đặc biệt cấp Đ H Q G HN năm 2004-200Ố)
CHỦ TRÌ ĐÊ TÀI: PGS.TS. PHÙNG XUÂN NHẠ
Ị DAI HCC 1' c GIA Ha Ọ'
TRUNG JAM T ~ ÒTỊN THƯ VIỀN
"pr/^go
HÀ NỘ[, 8/2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u
BẢN CHẤT KINH TẾ
CỦA CÁC HÌNH THÚC ĐÁU TUTRựr TIẾP NUSC NGOÀI Ở VIỆT NAM
NHÓM NGHIÊN c ú u
PGS.TS. Phùng Xiiân Nhạ, Khoa Kinh tế, ĐHQGHN (chã trì đề tài). Các
ĩlỉành viên: PGS.TS. Nguyễn Thường Lang (Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế.
trường dại học Kinlì tế Quốc dân HN; TS. Ngô Công Thành (Cục Đầu íư nước ngoài.
Bộ K ế hoạch và Đầu tư); TS. Nguyễn Thị Kim Anh (Khoa Kinh íế, ĐHQGHN): Phạm
Thu Phương (học viên cao học. Khoa Kinh tế, ĐHQGHN); Cao Vũ Hoàng Châu (cử
nhân KTĐN. Khoa Kinh tế, ĐHQGHN-Khóa 4ó); Nguyễn Tuấn Anh (cử nhân KTĐN
Khoa Kinh tẻ: ĐHQGHN-Klìóa 4ố).
HÀ NỘI, 8/2006
MỤC LỤC
Danh mục những từ viết tát 3
Mở đầu 4
1. Sự cán thiết cùa đề tài
4
52
2.4.1. Sự hình thành và phát triển 52
2.4.2. Đặc điểm pháp lý va kinh doanh
52
2.5. Công ty cố phấn có võn đấu tư trực tiếp nước ngoài
54
2.5.1. Sự hình thành và phát triển 54
2.5.2. Đăc điểm pháp lý và kinh doanh
55
2.6. Hình thức Đầu tư phát triên kinh doanh 57
2.6.1. Sư hình thành và pliat triển
57
]
2.6.2. Đặc điểm pháp lý và kinh doanh
57
2.7. Hình thức Mua lại và sát nhập (M&A) 58
2.7.1. Sự hình thành và phát triển
2.7.2. Đặc điểm pháp lý và kinh doanh
59
2.8. Hình thức Công ty Mẹ-con (Holding company) 61
2.8.1. Sự hình thành và phát triển 61
2.8.2. Đặc điểm pháp lý và kinh doanh
62
2.9. Hình thức Chi nhánh Công ty nước ngoài 64
2.9.1. Sự hình thành và phát triển 64
2.9.2. Đặc điểm pháp lý và kinh doanh 64
DANH MỤC NHŨNG TỪVIẾT TÁT
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BOT
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT
Hợp đổng xây dựng - chuyển giao
BTO
Hợp đổng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IFC
Công ty Tài chính quổc tế
M&A
Mua lại và sáp nhập
TNCs
Cóng ty xuyên quôc gia
GI
Đầu tư mới
Hl
Đầu tư theo chiểu ngang
VI
Đầu tư theo chiều dọc
CN
Cóng nghiệp
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chê xuất
Mặc dù Việt Nam rất tích cưc cải thiện mỏi trường đầu tư nước ngoài, trong
dó đạc biêl là môi trường pháp lý nhưng vẫn chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn
giới đầu tư nước ngoài. Một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm
nhiều là các hình thức FDI họ được phép đầu tư và sự chuyển đổi các hình thức
đẩu tư này trong quá trình đầu tư ở Việt Nam. Trong khi các nhà đầu tư muốn
được đa dạng hoá các hình thức đầu tư và được phép chuyển đổi linh hoạt giữa
các hình ihức đầu tư này thì Chính phủ Việt Nam còn cân nhăc và dè dặt làm các
nhà đầu tư nán lòng.
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, không nhât thiết phái khuyến khích hoặc
có điểu kiện đối vơi các nhà đâu lư nược ngoài trong việc việc lựa chọn các hình
thức FDI thì luật đầu tư của Viêt Nam lại qui đinh chặt chẽ. Những qui đinh này
không đem lại kết quả như mong muốn, mà trái lại đã gây ra nhiều tổn thất cho
Việt Nam và các nhà đầu tư. Những hiện tượng này khá phổ biến trong các dự án
liên doanh với nươc ngoài.
1 Nguyền Bích Đạt. Diều dan "Dàn lư Việi N anrcíic cơ hôi tiếp cận đán tư liậit WTO" Hà Nội iháng
03/2006
4
Tinh trạng trên mặc dù đã được quan tâm giải quyẽt trong thời gian gần đây,
nhưng vẩn còn lúng túng trong chỉ đạo điểu hành của các cơ quan chức năng và cho
đến nay, hiệu quả của các chính sách, giải pháp vẫn chưa thực sự rõ rệt. Nhiều nhà
đầu tư nước ngoài vẫn còn băn khoăn, phàn nàn về sự bất cập, đơn điệu và thiếu linh
hoại trong chuyển đổi giữa các hình thức FDI ở Việt Nam. Vậy có phải sự băn
khoăn, phàn nàn của các nhà đầu tư nước ngoài là đúng sự thật?, hay do sự khác biệt,
chưa hài hoà được trong mục tiẽu lựa chọn các hình thức FDI của các nhà đẩu tu
nước ngoài và Chính phủ Việt Nam? nếu vậy thì làm thế nào để hài hoà được lợi ích
giữa các bén?. Những câu hỏi này rất cán trả lời có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết
phục. Vì thế cấn phái thực hiện nghiên cứu này.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam đã
ihu hút được khá nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước.
đề xuât cổ phần hoá các doanh nghiệp nước ngoài (Lê Minh Toàn 2000, Phạm
Hùng Nghị 2000, Nguyễn Văn 1999, Thái Thanh 2000 ).
Nhìn chung các hình thức FDI ở Việt Nam được khá nhiều tác giả đề cập
lới nhưng chưa sâu và lẻ tẻ trong các nghiên cứu về FDI ở Việt Nam. Mặt khác
phẩn lớn các nghiên cứu mới chú yếu nêu bức xúc, hạn chế của các hình thức FDI,
dặc biệt là hình thức liên doanh mà chưa có nghiên cứu nào phân tích có hệ thống,
làm rõ bán chất kinh tế của các hình thức FDI, trên cơ sở đó lý giải có căn cứ khoa
học về những bất cập, hạn chế của các hình thức đầu tư này ở Việt Nam
Trong số các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, đáng chú ý nhất là
nghiên cứu cua Cameron Mc Cullough (1998) đã phân tích khá kỹ các đặc điểm,
nội dung của các hình thức FDI ớ Việt Nam. Theo tác giả, các hình thức FDI ở Việt
nam còn đơn giản, mới chủ yếu đáp ứng được mục tiêu của chính phủ Việt Nam
chứ chưa lạo nhiều cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy vậy những
hạn chế của các hình thức FDI ơ Việt Nam và những hình thức đầu tư nào cần bố
sung thêm thì nghiên cứu này còn chưa làm rõ. Một số nghiên cứu khác (Albert
C.Tan 2003, KPMG 2002, Due.V.Trang 2001, David Glovert 1980-1982 ) cũng
phán tích so sánh các hình thức đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển (trong
đó có Việl Nam) đã cho thấy các hình thức liên doanh thường hấp dẫn các nhà đầu
lư nước ngoài giai đoan đầu họ tiếp cân vào thị trường, sau đó ngày càng nhiều liên
doanh chuyên đổi sở hữu sang các hình thức đầu tư khác, trong đó hướng nhiều vào
các hình thức 100% vốn nước ngoài (Philippine, Thái Lan, Ấn Độ ) và cổ phần
(Trung Quốc, Singapor, Malaisia ) Tuy nhiên, phần so sánh với Việt Nam còn
mờ nhạt, thiếu cập nhật. Ngoài ra cũng có một số phán tích về các hình tức FDI
trong các nghiên cứu của học giả nước ngoài về FDI ớ Việt Nam. Tuy nhiên các
6
phân tích này còn sơ bộ, chủ yếu là đưa ra các sô liệu thống kê vé các hình thức
FDI ỏ Việt Nam trong từng giai đoạn hoặc đối tác cụ thế.
Kế thừa những kết quả của các nghiên cứu đã nêu, đề tài sẽ tiếp tục giải
quyết một số vấn đé còn chưa được nghiên cứu. Cụ thể, làm rõ lợi ích kinh tế trong
từng hình thức FDI đối với nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà (Việt Nam).
đãi. thuận lợi của nước chủ nhà. nhờ đó mà tối đa hoá được lợi nhuận. Đối với nước
chú nhà, mặc dù có rất nhiều mục tiêu trong việc cho phép thực hiện các hình thức
FDI. nhưng mục tiêu kinh tế luôn được quan tâm hàng đầu. Nếu lợi ích kinh tế
không thoả đáng giữa các bên thì hình thức FDI rất khó được thực hiện. Do đó, nếu
làm rõ được lợi ích kinh tế của từng hình thức FDI đối với nhà đầu tư và nước chủ
nhà (Việt Nam) thì sẽ giúp cho các bên có được căn cứ khoa học trong việc phát
triển các hình thức FDI, lựa chọn từng hình hình thức FDI hoặc chuyển đổi giữa
các hình thức đầu tư này một cách linh hoạt và có hiệu quả.
* Phương pháp nghiên cứu: Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng
trong nghiên cứu kinh tế, đề tài sử dụng các phương pháp thông kê và so sánh đế
phân tích các số liệu theo chuỗi thời gian (1988-2005) và số liệu đan chéo giũa các
vùng miền, ngành kinh tế. các nước đầu tư lớn ở Việt Nam.
6. Bỏ cục của đề tài
Ngoài phần mớ đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành 4 chương:
* Co' sở lý htậìì vù thực tiễn của việc lựa chọn các hình thức F D I ở V iệt
N am (cỉìừơììỊị ỉ ). Nội dung chính cùa chương này là làm rõ bản chất kinh tế của
các hình thức FDI ihông qua phân tích lợi ích kinh tế của từng hình thức FDI đối
với nhà đầu tư và Chính phủ nước chú nhà (Việt Nam), nhờ đó thấy rõ được những
yêu tố quyết định việc lựa chon các hình thức FDI của hai phia. Đông thời, một số
kinh nghiệm thưc tiễn trong lựa chọn các hình thức FDI của các nước cũng đươc
phân tích để làm minh chứng cho các phân tích, nhận định trước đó.
:|: Cúc hình tliửc FDI theo pháp htật đầu tư ở Việt N am {chương 2). Chương
này phân tích cụ thế các nội dung của từng hình thức FDI theo qui định của luật
pháp Việt Nam. Mỗi hình thức FDI đều được xem xet từ lịch sử hình thành, phát
triển và phân tích các đặc điểm pháp lý, kinh doanh. Nhờ đó, thấy được rõ lợi ích
kinh tế của từng hình thức FDI đối với các nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt
Nam. Đồng thời cũng thấy được những điểm hợp lý và bất hợp lý của từng hình thức
8
FDI, cũng như ưu điểm và hạn chế giữa các hình thức FDI đối với nhà đầu tư nước
Mục tiêu cơ bản của đầu tư qua hình thức GI là xây dựng các cơ sở sản xuất,
kinh doanh mới ớ nước ngoài và mư lộng (dịch chuyển hoặc phát triển thêm) mạng
lươi sản xuất, phân phối của công ty trên phạm VI toàn cầu. Hình thức đầu tư này
ihường có tư cách pháp nhân và hoại đông theo qui định của luật pháp nước chủ nhà.
Trong khi đo mục liêu chủ yếu của đầu tư qua hình thức M & A là tiếp cận thị
trường mới (mơ rộng mạng lưới phân phối), tang sức cạnh tranh và giảm chi phí
quản lý. Các công ty xuyên quốc gia thường thực hiện hỗn hợp giữa hai hình thức
đầu tư GI và M & A trong chiến lược đâu tư ra nước ngoài.
Xét theo mục đích đầu tư, đầu tư trực tiếp của các công ty ra nước ngoài
đHOC phân làm các loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal integration-HI) và đầu
ur theo chiều dọc (vertical integration-VI). Hình thức đầu tư HI là chủ đầu tư có lợi
thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý, ) trong sản xuất một loại sản phẩm
nào đó. Với lợi thế này, họ có thế kiêm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản
phãm ra nước ngoài. Mục đích của hình thức này là mớ rộng và thôn tính thị trường
ớ nước ngoài đôi với cùng loại sản phẩm có lợi thê cạnh tranh ở nước ngoài, do đó
thường dẫn tới cạnh tranh độc quyền.
10
Khác với hình thức đầu tư HI, hình thức VI là đầu tư ra nước ngoài với mục
đích khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sán xuất đẩu vào ré (lao
động, đất đai )- Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đên khai
thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tô đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một
loại sản phám trong phân công lao động quốc tế. Do đó, các sản phẩm thường được
hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ớ nước nhận đầu tư. Sau đó, các sản phẩm này có
thê' lại được nhập khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang các nước khác. Đây là
hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Nhật Bản (theo kiểu mỏ hình đàn
nhạn bay) và được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển.
Xét từ khía cạnh pháp lý của nước chủ nhà, các nhà đầu tư nước ngoài được
lựa chọn đầu tư dưới nhiều hình thức: Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp
100% vôn nước ngoài; Hợp tác kinh doanh tiên cơ sớ hợp đồng; Hợp đồng xây
dựng-kinh doanh- chuyển giao (BOT); M & A; Công ty mẹ-con (Holding
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tir nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự
quản lý và tư chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, v ề mặt pháp lý, doanh
nghiệp 100% vốn nưỡc ngoài là cổng ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần,
có lit cách pháp nhân iheo pháp luật của nước chủ nhà, chịu sự kiểm soát của pháp
luật nước sớ tại. v ề mật kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt
động theo sự điều hành, quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ
thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh nước sớ tại như các điều kiẹn về
chính trị, kinh tê, luật pháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh
Ưu điểm trước tiên của hình thức này đối với nươc chủ nhà là nhà nước thu
được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù doanh nghiệp bị lỗ. Ngoài ra, với hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nước chủ nhà có thế giải quyết được công ãn
việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư cũng như có thể tập trung thu hút vốn, công
nghệ nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu. Tuy nhiên, nước chú
nhà kho tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng cao trình độ
cán bộ quản lý. cán hộ kỹ thuâl ớ các doanh nghiệp trong nước như so với hình thức
liên doanh.
ĐỎI với nhà đầu tư nươc ngoài, hình thức đầu tư 100% khiến họ có thế chủ
động trong quản lý điều hành doanh nghiêp, chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn
nhân lực, triển khai nhanh dự án đầu tư để thực hiện chiên lược toàn cầu của tập
đoàn. Nhưng đồng thời, chủ đầu tư cũng phải ganh chịu toàn bộ rủi IO và phải chi
phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiẽp cân một thi trường mới. Do những một sô quôc
gia có những quy định hạn chế đổi với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nên
12
nếu đầu tư theo hình thức này, nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong việc xâm nhập
vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận và trong quan hệ với các cơ quan quản lý
Nhà nước sở tại.
• Hợp đổng hợp tác kinh dòanh (hợp doanh) ]à văn bản được ký kết giữa
hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bẽn hợp doanh) quy định trách nhiệm và
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên (nước ngoài và sở tại) để tiến hành đầu
Ngoài ra. BOT còn có một số dạng thức khác như: BTO (xây dựng - chuyén
giao - kinh doanh) được hình thành‘cũng tương tự như BOT, nhưng sau khi xây
dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài giao lại cho nước chủ nhà, chính phủ
nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó
irong mộl Ihời hạn nhất định để thu hổi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Hợp
đồng BT (xây dựng - chuyển giao) được hình thành cũng giống như BÓT và BTO,
nhưng sau khi xây dựng xong, nhà đẩu tư nước ngoài bàn giao lại công trình cho
nước chủ nhà, chính phú nước chủ nhà trả cho nhà đầu tư nước ngoài chi phí liên
quan tới công trình và một tỷ lệ thu nhập hợp lý.
Qua hình thức đầu tư này, nhiều quốc gia nhận đầu tư có thể thu hút được
vốn đầu tư vào nhũng dự án cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn lớn, do đó, giảm được sức ép
cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng
hoàn chính, giúp khai thác các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát
triển kinh tế. Nhược điểm của hình thức này là là khó tiếp nhận kinh nghiệp quản
lý và khó kiểm soát được công trình. Nhà nước cũng phải chịu mọi rủi IO ngoài khả
năng kiểm soát của nhà đầu tư.
Đối với nhà đầu lư nươc ngoài, do được chu động quản lý điểu hành và tự
chú kinh doanh, hiệu quả đổng vón đầu tư của họ được đảm bảo và lợi nhuận
không bị chia sé. Ngoài ra, các dự án đầu tư được Nhà nước sở tại đảm bảo và tránh
được rủi IO bất thường ngoài khả nang kiểm soát.
Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho những dự án BOT cao và việc đàm phán cũng
như thực thi hợp đồng BOT thường gặp gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và
công sức, nhất là đàm phán và ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp nguyên liệu
đâu vào và khách hàng tiêu thụ sản phấm, dịch vụ.
• Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó von điều lê được chia thành
nhiều phần khác nhau được gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Irong phạm vi vỗn góp. c ổ đông có
thể là tổ chưc, các nhân có số lượng tối đa không hạn chế, từ ba trớ lên. Công ty có
quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do
chuyến nhượng cổ phần của mình cho người khác.
hoạt động trong nhiều lĩnh vực. kha năng cạnh tranh toàn cầu của họ tãng lên lất
đáng kể. Ngoài ra, thông qua hình thức M&A, các công ty có thể giảm chi phí
trong lĩnh vực R&D, sản xuất, phân phối và lưu thông.
15
Hóp 1.1: So sánh giữa các hình thức đầu tư GI và M & A
Xét từ quan điểm của nước chủ nhà, mỗi hình thức đầu tư đều có một sô ưu điểm và
hạn chế nhất định:
Bổ sung vốn íláit tir. Trong khi hình thức GI bổ sung ngay một lượng vốn đầu tư nhái
định cho nước nhận đầu tư thì hình thức M & A lại chủ yếu là chuyển sở hữu từ các
doanh nghiệp đang tổn tại ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, về
dài hạn, hình thức này cũng sẽ thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước
chủ nhà nhờ mở rộng qui mô hoạt động của họ.
Tạo việc làm : Hình thức GI tạo ngay được việc làm cho nước chủ nhà, trong khi
hình thức M & A không những không tạo được việc làm ngay mà còn có thể tăng
thêm tình trạng cang thăng về việc làm (tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà. Tuy
nhiên, về lâu dài, tình trạng này có thể được cải thiện.
Chuyến dịch cơ cấn ngành kinh tế: GI tác động trực tiếp đến thay đổi cơ cấu ngành
kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới, trong khi đó M & A lại
không lác động như vậy trong giai đoạn ngan hạn.
Cạnh tranh và an ninh c/itốc gicr. Trong khi GI thúc đẩy cạnh tranh thì M & A lại
không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắn hạn, nhưng về dài
hạn có thể làm tãng cạnh tranh độc quyền. Mãt khác, M & A có thể ảnh hưởng đến
an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức GI, bởi vi tài sản của nước chủ nhà
rơi vào lay người nước ngoài.
Nguồn: Ozawa 1998, WIR 1998, p. 212-214.
• Holding Company là một trong những mô hình tổ chức quản lý được
thừa nhân rộng lãi ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tê thị trường. Theo định
nghĩa được thừa nhận lộng rãi, holding company là một công ty sở hữu vốn
trong một công ty khác ở mức độ đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều
hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoác viêc lựa chọn thành viên
đinh lira chon hình thức đầu tư.
A . Cách tiếp cận từ phân tích cúc mục tiêu của nhà đầu tư và nước chủ nhà:
• Các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn các hình thức đầu tư ở nước chủ nhà
thường căn cứ vào các yêu tô chù yêu sau:
- Tìm kiếm thị trường nước ngoài để sản xuất và tiêu thụ sản phấm khi thi
trường trong nước trở nên kém sức hãp dẫn đối với sán
pbiHn.yoBg t-V va tang mữc
TRUNG 'ÂÌV1 THÔ\G T'N 7n'J JT.Ễ „
17
D ĩ I f 90
độ cũng như phạm vi ảnh hướng của công ty ớ nước ngoài. Do đó, quy mô và dưng
lượng thị trường, thu nhập bình quân đáu người, mức độ tăng trưởng thị trường và
khả nãng tãng thị phần ở nước ngoài là những yếu tố thu hút mạnh dòng vốn đầu tư.
Theo cách xem xét đó, những nước có thị trường rộng lớn, dân cư đông và sức mua
dân cư cao là yếu tố hấp dẫn mạnh nhà đầu tư. Đây là những nước dễ tạo điều kiện
cho nhà đầu tư đạt được lợi thế theo quy mô, tiết kiệm chi phí đầu tư, giảm giá thành
để tãng khả nãng cạnh tranh. Đổng thời, các nước này có vị thế đàm phán ưu việt
hơn so với các nước có quy mô thị trường nhỏ. Chính sức hút này làm cho các nhà
đầu tir nước ngoài cỏ tìm ra các cách thức thích hợp để thâm nhập thị trường nước
ngoài với quy mô tối ưu nhất.
- Tim kiếm các nguồn lực để làm tăng thêm giá trị. Các nguồn lục này
thường là các nguồn tài nguyên sẩn có như dầu khí, khoáng sản, nguồn lao động dổi
dào giá ré Do đó, các hình thức đầu tir phù hợp với các dự án khai thác tài nguyên
tự nhiên thường được các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm nguồn lực quan tâm rất
- Tận dụng những ưu đãi cúa nước chủ nhà. Các nước đang phát triển có nhu
cầu lớn về vốn đầu tir, công nghệ và kinh nghiệm quản lý cho nên thướng áp dụng
một hệ thông các biện pháp ưu đãi đầu tir, săn sàng chãp nhận sư thua thiệt nhất
định đế đat mục tiêu đặt ra như miễn giám thuẽ, ưu đãi về tiền thuê đất, cho phép
gia tăng thời hạn đầu tư, ưu đãi về tiền thuê cơ sở hạ tầng
- Đảm báo độc quyền công nghệ. Sao chép công nghệ là hiện tượng khá phố
nhà. Thông thường, nếu dự án có tính sinh lãi cao thì hình thức liên doanh rất được
khuyến khích vì hứa hẹn được chia nhiều lợi nhuận. Trong khi đó, đói với những dự
án mà nước chú nhà ít có khả năng đóng góp vốn và tính rủi 10 khá cao thì các hình
thức đầu tư khác lại được khuyến khích.
B. Cách tiếp cận lừ phân tích so sánh ưu điếm và hạn c h ế của các hình thức
FDI dôi với cúc nhà đâu tư nước Híịoài và nước chủ nhà:
Đê' làm lõ hơn sự lựa chọn giữa các hình thức đầu tư nước ngoài cua các
nhà đầu tư và nước chủ nhà, chung la sẽ phân tích từ những ưu điểm và hạn chế của
các hình thức FDI phổ biên ởcac nước đang phát triến (xem bảng 1).
Theo quan điếm của nhà đầu tư nước ngoài, hình thức doanh nghiệp lien
doanh sẽ giúp họ giảm chi phí đầu tư, tận dụng cơ sở có sẩn của nước chủ nha như
đất đai. thiết bị và đặc biệt là mạng lười phân phối. Ngoài ra khi đau tư theo hình
thức này, lợi nhuận thu được sẽ ổn định và họ dễ hoà nhập hơn vào thị trường do có
thế dễ dàng tiếp cận với các nhà hoạch định chính sách hơn. Chính vì vậy. thổng
19
thường khi thâm nhập vào một thị trường mới, các nhà đầu tư nước ngoài thường
chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh. Nhưng sau một thời gian khi đã hiểu hơn
thị trường, cùng với những sửa đổi và chính sách nới lỏng của chính phủ nước chủ
nhà, nhà đầu tư đó có thể tìm cách,để chuyển sang doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài. Như vậy, họ có thể tự chủ trong kinh doanh, chủ động trong đào tạo và tuyển
chọn nguồn nhân lực, qua đó triển khai nhanh dự án đâu tư để thực hiện chiến lược
toàn cầu của tập đoàn. Đổng thời nhà đẩu tư nước ngoài vơi hình thức doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài có thể thu lợi nhuận cao hơn do không bị chia sẻ.
Đối với hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài
xét thấy đây là một hình thức có nhiều ưu điểm như giảm chi phí đầu tư thông qua
việc tận dụng hệ thống phân phối có sẵn của nước sở tại, vào được lĩnh vực hạn chế
đầu tư và không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây
dựng các mối quan hệ, chia sẻ chi phí và rủi ro đầu tư. Nhưng theo họ, nhược điểm
của hình ihức đâu tư này là quan hệ với đối tác nước sở tại thiếu tính chac chàn, lợi
nhuận thu được không cao. Điều này làm các nhà đầu tư nước ngoài e ngại khi lựa
Nhà đầu tư
nươc ngoài
Giảm chi phí
đầu tư (+)
Tự chủ kinh
doanh(+)
Giảm khả năng
hoà nhập (-)
Lợi nhuận
không cao (-)
Lợi nhuận ổn
định (+)
Giảm rủi ro
(+)
Nước chú
nhà
Tăng đươc vốn
đầu tư (+)
Giảm chi phí
đầu tư (+)
Khó kiểm soát
được đối tác (-)
Không tiếp nhận
được kinh nghiêm
quản lý (-)
Lợi nhuận
không cao (-)
Lợi nhuận ổn
định (+)
Giảm rủi ro
đầu tư (+)
Tiếp nhận kinh
nghiệm quản lý (+)
Kiểm soát được đối
tác nước ngoai (+)
Được chia lợi
nhuân (+)
Giảm rủi ro
(+>
21
c. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
DN 100%
vốn NN
Tự bỏ vốn
Tự quản lý
Không chia
lợi nhuận
Tự chịu rủi
ro
Nhà đầu tư
nước ngoài
Tăng chi phí
đẩu tư (-)
Tự chủ kinh
doanh (+)
Giảm khả năng
hoà nhấp (-)
Lợi nhuận
không bị
chia sẻ (+)
đầu tư (-)
Tự chù kinh
doanh (+)
Lợi nhuận
không bị
chia sé (+)
Lợi nhuận
không ổn
đinh (+)
Tăng rủi ro(-
)
Nươc chủ
nhà
Giảm chi phí
đầu tư (+)
Khó kiểm soát
được công trình(-
)
Không tiếp nhận
được kinh nghiệm
quản lý (-)
Có được
công trinh
hoãn chính
(+)
Chịu mọi rủi
10 khác
ngoài khả
năng kiểm
soát của nhà
Qua các phân tích trên cho thay nhà đầu tư nươc ngoài và nươc chủ nhà có
các mục tiêu khác nhau trong lựa chọn các hình thức FDI. MỖI bên đều tìm cach
tối đa lợi ích của mình khi lưa chon hoặc cho phép áp dụng hình thưc FDI. Trong
thực tế, thường có sự khác biêt về lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và mục liêu
của nước chủ nhà. Tuy nhiên, xét về tổng thể, sự khác biệt này dần được thu hẹp lại
(xem biểu đổ 1).
23