Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 87

Phần I
I. Mở đầu
Trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chính phủ đã đa ra chỉ tiêu tăng trởng kinh tế trong những năm tới của Việt
Nam là 9 - 10% năm và phấn đấu đến năm 2020, mức GDP bình quân đầu ng-
ời tăng lên gấp 8 - 10 lần so với hiện nay, tơng đơng mức 2 - 3 nghìn USD/ng-
ời. Để thực hiện mục tiêu tăng trởng kinh tế đó, yêu cầu về thu hút và dùng
vốn là một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết với nền kinh tế
Việt Nam. Theo tính toán sơ bộ, để duy trì tốc độ tăng trởng GDP nh mục tiêu
đề ra, Việt Nam cần đầu t khoảng lớn hơn 40 tỷ USD. So với năng lực tiết
kiệm nội địa hiện tại của Việt Nam thì con số này thực sự là khổng lồ, vì vậy
chúng ta phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài để đáp
ứng nhu cầu vật t.
Với lợi thế của nớc ta đi sau thì thu hút đầu t nớc ngoài nói chung, đầu t
trực tiếp sử dụng chúng có hiệu quả là một trong những cách quan trọng để
chúng ta đạt đợc mục tiêu trên. Trong điều kiện nền kinh tế nớc xuất phát thấp,
đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò quan trọng nó là nguồn bổ sung vốn cho
đầu t, là một kênh chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và thu nhập cho ngời
lao động tạo nguồn thu cho ngân sách, giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
1
II. Tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam
Thực trạng
Cho đến nay, Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao và quan hệ thơng mại
với nhiều nớc trên thế giới. Đã có trên 2040 văn phòng đại diện nớc ngoài
quan hệ Việt Nam, thuộc mọi lĩnh vực. Có khoảng 900 công ty thuộc 65 nớc
và lãnh thổ trên thế giới đã đăng ký đầu t vào Việt Nam với gần 2400 dự án đ-
ợc cấp giấy phép với tổng số 36 tỷ USD, vốn pháp định là 14,5 tỷ USD chiếm
trên 43% tổng vốn đăng ký, tổng số vốn FDI đã thực hiện đến cuỗi năm 1997
đạt 12,2 tỷ USD.
Về vốn vay đã có 274 hợp đồng vốn vay nớc ngoài của các doanh nghiệp

đầu t nớc ngoài.
- Về thuế doanh thu có hiện tợng thuế chồng lên thuế, luật thuế thu nhập
công ty thuế suất chủ yếu là 32% có hiệu lực từ ngay 1/1/99 trong khi theo luật
đầu t nớc ngoài có doanh nghiệp FDI trừ dầu khí và khai thác vàng bạc đá quí
đợc hởng thuế suất 10%, 20%, 25% trong một thời gian nhất định hoặc suốt
thời gian thực hiện dự án. Nh vậy tất cả doanh nghiệp FDI đợc cấp giấy phép
sẽ chịu thuế suất thu nhập công ty 32% thay cho thuế suất từ 10 - 20% và khi
đó cần bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài với thuế suất từ 5 - 10% để đảm
bảo sự công bằng nhất định cho các nhà đầu t.
Thuế suất áp dụng theo pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập
cao là quá cao so với các nớc lân cận vì vậy các doanh nghiệp FDI đứng trớc
nguy cơ khó mà duy trì đủ lợng nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý có trình
độ chuyên môn cần thiết để tham gia và điều hành hoạt động của doanh
nghiệp và càng không thu hút đợc những ngời giỏi vào làm việc ở Việt Nam.
2. Về cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém do phải bỏ nhiều chi phí cho các
công trình ngoài hàng rào, chi phí vận chuyển. Chính phủ chủ trơng huy động
FDI dới hình thức BOT, BTO và BT để cải thiện cơ sở hạ tầng nhng cho đến
3
nay cha đem lại hiệu quả vì các nhà đầu t đều đánh giá rằng các công trình kết
cấu hạ tầng ở Việt Nam còn nhiều rủi ro.
3. Việc quy hoạch ruộng đất, quy hoạch ngành kinh tế -kỹ thuật trong
việc gọi vốn FDI còn nhiều yếu kém, chúng ta đã phê duyệt thành lập nhiều
KCN ở nhiều tỉnh thành nhng đối với các khu đã đi vào hoạt động hoặc đang
tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng việc quy hoạch chi tiết rất chậm khiến các
nhà đầu t nớc ngoài rất bị động trong việc chọn địa điểm nhất, thậm chí gây
tâm lý hoài nghi . Nhiều dự án cần sử dụng diện tích đất lớn liên quan đến an
ninh quốc phòng nhng phối hợp quy hoạch không đồng bộ, có dự án đợc cấp
giấy phép và chấp thuận cho thuê nhng khi đi vào triển khai lại bị phản đối
phải chuyển địa điểm, phải giảm đáng kể diện tích dẫn đến dự án kém khả thi.
Việc quy hoạch gọi vốn FDI vào 1 số ngành quá yếu kém và các nhà đầu

tra gian lận thơng mại các cơ quan hải quan đã giữ hàng nhập khẩu hoặc xuất
khẩu quá lâu gây ách tách cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI .
7. yếu kém trong lĩnh vực kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với
hoạt động của các doanh nghiệp FDI.
Trong lĩnh vực này phải nói rằng kiểm tra thì nhiều nhng chất lợng không
đạt yêu cầu bởi lẽ cán bộ đợc cử đi kiểm tra cha đủ trình độ phát hiện những vi
phạm của đơn vị, đặc biệt về lĩnh vực tài chính về giá xuất khẩu thành phẩm....
Sự buông lỏng quản lý trong đó bao gồm công tác kiểm tra của các đơn vị chủ
quản bên Việt Nam trong các doanh nghiệp lao động với nớc ngoài đã dẫn đến
tình trạng không phát hiện đợc những yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Chỉ đến khi doanh nghiệp bị lỗ, cơ quan quản lý mới biết.

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status