Chiến lược ngôn ngữ trong hành động cầu khiến và xin lỗi - Pdf 26

ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU c ơ BẢN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
CHIẾN LƯỢC NGÔN NGỮ TRONG
1 HÀNH ĐỘNG
CẦU KHIẾN VÀ XIN LỖI
(Nghiên cứu so sánh hành động cầu khiến của người Việt
học tiếng Anh và hành động xin lỗi của người Việt vói
người nói tiếng Anh bản ngữ)
TTTT-TV * DHQGHN
420
HA-T
2004
DT/00362
HÀ CẦM TÂM VÀ KIỂU THỊ HỔNG VÂN
HỘC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HÀ NỘI, THÁNG 2/2004
MỞ ĐẦU
Từ những năm 70 của thế kỷ trước đã có một ngành của ngôn ngữ học được
gọi là dụng học ngôn ngữ (pragmatics) nghiên cứu về cách thức mà con người
lĩnh hội và sản sinh ra một hành động giao tiếp hoặc một hành động nói trong
một tình huống cụ thể mà người ta thường gọi là hội thoại. Người ta phàn biệt
ý định giao tiếp với ý nghĩa của phát ngôn hay hành độnơ giao tiếp trong giao
tiếp bằng lời. Một cái là dự định thông báo còn cái kia là mục đích giao tiếp
hay ý mà người nói định truyền đạt (Leech, 1983; Sperbcr and Wilson, 1986J.
Khả năng nhận thức và sản sinh ra các hành động giao tiếp được gọi là tri năng
dụng học ngôn ngữ (Kasper, 1997) trong đó thường hao gồm hiểu biết của con
người về khoáng cách xã hội, địa vị xã hội giữa những người tham gia giao
tiếp, kiến thức ván hóa trong đó bao gồm hiểu biết về lịch sự và kiến thức ngôn
ngư
Dụng học nsôn ngừ học cũng nghiên cứu tìm hiểu vì sao những người giao tiếp
có thể chuyện trò được với nhau một cách thành công trong các cuộc hội thoại.

đã ngày càng trở nên rõ rệt.
Theo đường hướng trên, Irong cuốn sách này ch Ún tỉ lối xin uinh bày hai
nghiên cứu bước đầu về hai hành động nói đã được nghiên cứu khá nhiều trên
thế giới nhưng còn chưa được bàn luận đến nhiều ờ Việt Nam. Đó là hành
động nói “yêu cầu” và “xin lỗi”. Hai hành động nói này sẽ được nshicn cứu
iheo hai hướng. Thứ nhát là ngôn ngữ liên giao, tức là đối chiếu lời nói của
người học tiếng với người bán ngữ. Hành đốn2 yêu cầu SC đi theo lurớns này.
Thứ hai là hướng dụng học ngôn ngữ đối chiếu, tức là đối chiếu một số nguyên
tắc dụng học ngôn ngữ của hai ngôn ngữ khác nhau. Hành dộng xin lỗi sẽ theo
hướng này. Tuy nhiên, vì mục đích là để siúp cho người học và dạy tiếng Anh
có được những thôníỉ tin thiết thực nhất về nhũng quy tấc dụns học ngôn ngữ
đối với hai hành động nói này nên ca hai nghiên cứu đều lấy tiếng Anh làm cơ
sớ (baseline) đc phân tích.
Nói như váy để thấy rằng ch un 2 tôi khôns cho răng tiếng Anh là chuẩn tro ne
việc đánh «iá xem xct những ne 11 ven tắc dụng học ngôn ngữ cho mọi neười,
mọi ngôn ngữ, vì như vậy cỏ nghĩa dã vướng vào cái gọi là “anglo ccnlric” (lý
thuyết lấy người Anglo làm trung tàm) dã bị Wierzbicka phê phán. Việc lây
liếnti Anh làm chuẩn ớ đây là đế phân tích, tìm hiếu xem người Việt khi nói
tiếng Anh đã lệch chuẩn như thế nào hoặc có nguy cơ bị lệch chuẩn như thế
nào nhằm siúp cho người Việt nâng cao được nhận thức về dụng học ngôn neữ
học ticng Anh do đó có thế cái thiện đưực tri năng dụnti học ngón ngữ và lăn tỉ
cường khá năng giao tiếp bằng tiếng Anh cua người học.
Cuốn sách này đã được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt linh, nhữns sự sóp V
vô cùng to lớn của GS. TS. Diệp Quang Ban, PGS TS Nguyễn Hòa và các đồn í
nuhiệp tron2 bộ môn Nsỏn Nsữ Anh khoa Ncôn Nsữ và Vãn Hóa Anh Mỹ.
Chác chắn ràng cuốn sách khôns thế tránh khỏi những sai sót, chúns tôi xin
hoan nghênh tất cả nhũng V kiến đóng góp của các độc giá để cuốn sách sẽ đáp
ứnti dược nhữrm yêu cầu của dộc gia một cách lốt hơn.
2
CHƯƠNG 1: MỘT s ố VÂN ĐỂ VỂ DỤNG HỌC

nsôn ngữ để đạt được những mục đích cụ thế. Trong khi đó lịch sự cám nhận
là một hình thức chí xuất xã hội hoạt động độc lập với mục đích mà người nói
muốn đạt tới. Đó chính là ước lệ quy định nhữne hành động ứng xử ngôn ngữ
phù hợp với những ước định thường gặp của xã hội nhất định.
3
Việc thể hiện sự tôn trọng, lịch sự cám nhận (discernment) có những vai trò
khác nhau trong các nén vãn hóa khác nhau và vì thế nó được thê hiện theo
những cách khác nhau irong các ngôn ngữ. Zhang (1995) đã nhận thây một sò'
tên gọi chí mối quan hệ họ hàng thường được dùng trong tiếng Trung Quốc
như những từ ngữ xưng hô (address terms) được coi là lịch sự và tỏ thái độ tôn
trọng người nghe. Hầu như người ta đã có những quy ước khống thành văn cho
phép những người trẻ tuổi (là một người đối thoại) xưng hò với người đối thoại
kia bằng những từ ngữ chỉ quan hệ họ hàns. Do đó. việc sử dụng những từ như
"chú, bác", "ông nội" hay "bà nội" khôns chí giới hạn trong những quan hệ 2Ía
đình, mà còn rất phổ biến trong giao tiếp được thực hiện giữa những níĩuùi
không quen biết và được sử dung để người nói thế hiện sự tôn trọng cua mình,
thái độ của mình đối với người cùng đối thoại. Tuy nhiên, trong tiếng Anh
những phương tiện như vậy lại không dược sử dụng. Zhang cũng nhận thấy
rằng, trong tiếng Anh, chẳng hạn như Irons lời yêu cầu, người ta ưu tiên sử
dụng đại từ nhân xưng hướng tới người nghe (Hearer perspective), và cho rằng
đó là hình thức thể hiện lịch sự cao nhất. Việc sứ dụng đại từ nhân xưng án và
những lời yêu cầu không có đại từ nhân xưng cũns được sử dụn« đé thế hiện
mức độ lịch sự thấp hơn.
Khôns chí cách diễn đạt và các giá trị xã hội thay đổi hình thức của chúng
trong các văn hóa khác nhau, mà củ mức độ sử dụng của chúng cũng rất khác
nhau. Chẳng hạn như khi bàn về cách thể hiện sự biết ơn, Eisenstein và
Bodman (1993, tr. 74) đã nhận định rằng việc thế hiện sự biết ơn và sự cám
kích bằng lời được đánh giá rất khác nhau tron2 các nền vãn hóa khác nhau.
Nếu người Mỹ đánh giá cao việc thể hiên sự cảm kích bằng lời thì người Ac-
hen-ti-na lại không đánh giá cao hành động đó. Trong nghiên cứu của mình

Đôi khi p và D có ảnh hướng lớn hơn R. Ngược lại irong một số tình huống thì
R lại có ảnh hướng lớn hơn p và D, còn trong một số trường hợp khác thì có
khi CÍI p, D va R đươc kẽt hơp VCÍI nhciLi ctê tHO ĨH mot hc CỊUÍ.Ì Ĩ130 cìo.
Quan điểm cho rằng lời yéu cáu bao giờ cũng là một sự áp đặt đối với người
nshe cũng đã bị phê phán. Wierzbicka (1985) cho rằng việc coi sự áp đật ỉà
một tiêu chí cúa lời yêu cầu là di nsược lại quan niệm của người Anh bới vì
yêu cầu một người nào đó làm một việc gì đó không phái bao giờ cũng bị coi
là xâm phạm vào quvền lợi của người nghe. Tương tự như vậy Fraser (1990a)
cho rănii trong thực tế thì Ironti một số xã hội khi người nghe dược yêu cầu
nshĩa là có cơ hội đế thê hiện những đóns nóp và những khá năng được đánh
giá cao về mặt xã hội, thì lúc đó lời yêu cáu lại có chức năng cúng cố thế diện
của na ười nu he chứ khônc đc dọa thể diên của người nshe. Và điều này đã
được các kết quả nghiên cứu của Zhans (1995) kháng định. Theo Zhang thi
trong văn hóa của Truns Quốc lời yêu cẩu được coi là những dấu hiệu của mối
quan hệ tốt đẹp, thậm chí còn được coi là dấu hiệu thế hiên sự tôn trọng đối
với người nshe. Một nsười không bao giờ dược người khác yêu cầu làm một
việc gì cho người khác í hường bị coi là người ít bạn bè hay là quan hệ xã hội
hạn hẹtr.
Hơn thế nữa, Kasper (1990, tr. 200) còn khắng định rằng "thậm chí người ta có
thể sử dụng cùng một mức độ lịch sự và cùns một hình thức lịch sự cho một
hành động nói nào đó, sons ý nghĩa xã hôi cíia nó irons những nền văn hóa
khác nhau có thê sẽ rất khác nhau." Sự iiián tiẽp trong việc hình thành lời yêu
cầu là một trường hợp điển hình cho tháy cùng một cách thức thê hiện nhưng
có ý nghĩa xã hội khác nhau trons những nền vãn hóa khác nhau.
5
Mặc dù sự gián liếp có VC như là một khái niệm phổ quát, sona cách mà nó
được sử dụng và cúc mức độ gián ticp được coi là phù hop lại mang lính đặc
thù văn hoá rất rõ rệt. Vì thế mà Clancy (1986) đã biện luận rang cùng mội
chiến lược gọi là nói xa (off record) nhưng trong giao tiếp của người Nhợp nó
lại phục vụ cho mục đích khác hắn với mực đích trong giao tiếp của người Mỹ.

(external modifications) đã được sứ dụng một cách dộc lậtr. Zhang (1995, ti.
82) cũng kháng định trons tiếng Trung Quốc các biên pháp giám nhe bên
ngoài có một vai trò quan trọns hơn các biện pháp giám nhẹ bên trong tronơ
6
việc thế hiện sự gián liếtr. Như vậy là trong khi -trons một sổ ngôn ngữ, troníĩ
đó có tiếng Anh, người ta sử dụng các biện pháp điều hiến bên ĩ rong để biểu
đạt sự gián tiếp Ihì trong tiếng Trunc Quốc người la lại chu yếu sử dụng các
biện pháp điều biến bên ngoài đế thực hiện chức nàng đó.
Trong một nghiên cứu khác Kasper và Blum-Kulka (1993, tr. 6) đã nhận ra
rằng mặc dù những người học ngoại ngữ có khả năng phân biệt những mức độ
lịch sự khác nhau theo những quy ước về cách thức và hình thức, nhu'ri2 cách
họ hiểu về những khái niệm này không giống với ne ười bán ngữ. Chăng hạn
như người Mỹ và người Nhợp có nhận định giống nhau vé lịch sự tương đối
của các kiểu câu như mệnh lệnh, tuyên bố, và nghi vấn nhưng hai nhóm người
này lại có quan niệm khác nhau về đóng góp của thời và dộng từ tinh thái
trong việc thể hiện lịch sự trong lời yêu cầu.
Tóm lại, các nền văn hóa khác nhau không chi khác nhau về khối lượng nhữns
biện pháp dụng học được sử dun® thường xuyên đế biếu đạt lịch sự, mà còn
khác nhau về các quy tắc nói năng và các kiểu mẫu giao tiếp (Wolfson, 1983,
tr. 61). Những người học cần phái nắm được những quy tắc nói nãng đặc thù
của cộng đổng ngôn ngữ đó đế có thể giao tiếp một cách phù hợp và hiệu quả
với nhũng người thuộc cộng đổng ngôn ngữ đích. Chính vì việc tiếp thu những
quy tắc này khôns đơn gián nên người học thường bị lệch chuán so với người
bản ngữ, không thực hiện được đúng những quy định trong cách thực hiện các
hành động nói của ngõn nơfr đích. Hiện tượne phố biến là người ta chuyến
những quy tác clung học của ngôn ngữ thứ nhất hay tiếng mẹ đẻ vào nsôn ngữ
đích.
1.2 Chuyên di dụng học ngón ngữ trong ngôn ngữ liên giao
(interlanguage)
Người ta thường phân biệt hai loại chuyến di tiêu cực. Một là chuyến di dụng

trong dụns học ngón imữ tiếng Anh. Cách dạy này đã dẫn đến lỗi về dụng học
gây ra bới chính quá trình siáng day. Tương tự như váy, irons nghiên cứu của
Beal (1994) về nsôn naữ liên íỉiao của nsười Pháp nói tiếníi Anh bà dã tìm
thấy một xu hirons dịch trực tiếp cấu trúc vỏ nhân xưng irona những lời yêu
cầu của tiếng Pháp sang tiếng Anh. Trong tiếng Pháp cấu trúc này được dùns
như một phương tiện xoá tiêu điểm (defocalization) sons nmrời ta đã hoàn thất
bại khi sứ cỈỊina cầu trúc này trong tiếng Anh. Beal còn nhận tháy rần2 người
Uc nói tiếng Anh và neirời Pháp nói tiếnìi Anh có sự quan tâm khác nhau đến
thể diện trong một sô loại hành độnu nói. Ncu người Uc thường sử dụng các
cấu trúc hay lừ giám nhẹ. hoặc càu hỏi đuôi, hoặc tên niiuừi dế rào đón ironII
câu hỏi thu thôns tin, thi người Pháp lại không làm như vây khi nói tiếng Anh.
Ngoài ra người Pháp còn có xu hướng quan tâm đến chú điếm nhiều hơn là đến
người đối thoại và vì thế lời yêu cầu của họ thường không đươc rào đón và
giảm nhẹ như lời yêu cẩu của người Uc, đây chính là mốt ví dll vé chuyến di
dụng học xã hội.
Cũ na về vấn để này, Uliss-Weltz và các cộng sự (1990. tr. 56) đã nhận thấy
rằng những người học ngoại ngữ thường khônìi sử cỉựns dược các quy tắc vé sự
phù hợp (appropriateness) và các nhà nehiên cứu CLiniz cho rằng nguyên nhân
s
chính là sự chuyến di dụng học. Thậm chí ngay cá khi các cấu trúc của hai
ngôn ngữ bc ngoài có vé rất giống nhau, Blum-Kulka {1989) và Weizman &
Blum-Kulka (1987) cũng kháng định ràng ỉhỏng điệp tương tự nhau về ngữ
pháp và từ vựng không đảm bao rằng người hoc hiểu đúng sự khác biệt và
tương tự của nó. Quá trình nhận thức này rất phức tạp, đặc biệt trong trườn2
hợp của các hành động nói, bởi vì nơhĩa của chúng phụ thuộc rất nhiều vào
ngữ cảnh. Koike (1996) đã biện luận ràng người học không thể chi học đế giái
mã ở cấp độ phát ngôn, mà còn phái học để có thể hiểu được ngữ cảnh và mối
quan hệ của ngữ cảnh với phát ngôn. Người học cũng phái nhận biết được
những khác biệt giữa ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ đích trong các cách hình
thành hành động nói. Quá trinh này bao gồm kiến thức về hành động nói cíia

hiện của sự thiếu nãng lực về dụng học cúa người học. Khi một người không
phải là bán ngữ giao tiếp theo một phong cách khác với phong cách cúa những
người bán ngữ thì nên xem đó là một sự thiếu hụt hay chí là một sự khác biệt
hoặc là một dấu hiệu để nhận dạng văn hóa. Theo đó, rất có thế việc thích nghi
với văn hóa của ngôn ngữ đích chính là vấn đề lựa chọn chứ không phái là vấn
đề khả nãng.
Như vậy là sự thất bại vé dụng học nói chung còn do thái độ dụng học vế niĩôn
ngữ và xã hội của người học quyết định. Hơn thế nữa Corder (1975) và
Kellerman (1977, 1983) đã nhân mạnh rang nếu ne ười học càng nhận thức
rằng tiêng mẹ đè và ngôn ngữ đích giỏng nhau thì khá năng chuycn di dmm
học ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích càng cao. Điều đó cũng; có
nghĩa là càng phái đặc biệt quan tâm đến tất cá các loại chuyển di, bao gồm cá
chuyến di dụng học ớ nhũng chỗ mà người ta thấy hai ngôn ngữ co vẻ giống
nhau.
1.3 Sơ lược vê một sô công trình nghiên cứu dụng học
Trong lĩnh vực nghiên cứu người ta đã nhắc đến vấn đề sử dụng ngôn nsĩr rất
nhiều. Hymes (1967:15) đã tuyên bố rằng "tri năng giao tiếp không chỉ bao
gồm kiến thức về ngùn ngữ mà cả những kiến thức giúp cho người ta biết lựa
chọn ngôn ngũ' đê nói một cách đúng lúc, đúrtỵ cách thức và phù hợp với dối
tượng được giao tiếtr do đó nhũng neuyên tác ngừ pháp mà không kết hợp với
những nguyên tắc trên thì cũng trở thành vô dụng." Theo cách nói ó trên ta có
thế nhận thấy tri năna niĩỏn ngũ' và tri năng dụng học ngón ngữ là hai lĩnh vực
khác nhau. Tương tự như vậy, khi nhận xét về hai lĩnh vực này Chomsky
(1980) cho ràng tri năng nsôn ngữ gồm kiến thức vé các dạng thức ngôn ngũ'
và ý nghĩa cửa chúng, còn tri năng dụng học ngón ngữ bao gổm kiến thức giúp
người ta biết được các điều kiện và phong cách phù hơp đế sứ dụng ngôn ngữ
một cách chính xác, diễn đạt được đúng ý định giao tiếp của mình. Cùng với
sự ra đời của lý thuyết về hành động nói của Austin {1962) và Searle (1969) sự
quan tâm đến dụng học ngôn ngữ ngày càng được gia tăng. Vì quan hệ giữa
hình thức ngôn ngữ và phát nsôn không phái là quan hệ một - một, bởi một

Bà thừa nhận rằng việc hiếu lầm xuất hiện không chí do sự hạn chế về dụng
học ngôn ngữ (không có khá năng lựa chọn những câu trúc đê thực hiện những
chiến lược phù hợp - pragmaỉinguistic failure) mà còn đo việc sử đụng không
đúng nhũng quy ước và các giá trị xã hội của ngôn ngữ đích (thất bại trong
việc sử dụng các tiểu chuẩn văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ) (socio-
pragmatic failure). Chẳnơ hạn như Rubin (1983) đã thu thập số liệu trong giao
tiếp tự nhiên của việc sử dụng các từ "thank you" và đã nhận thấy chúng khôns
chỉ được dùng để thể hiện sự biết ơn mà còn thực hiện những chức năng khác
như khen hay kết thúc cuộc hội thoại. Tương tự như vậy, trước đó Hymes
(1971) cũng khẳng định rằng trong tiếng Anh Mỷ "thank you" chứ yếu được
sử dụng như một dấu hiêu hình thức chứ không phải là những từ thế hiên sự
biết ơn như trong tiếng Anh Anh.
Có thể kể ra đây hàng loạt nghiên cứu về việc sử dụng ngôn nsữ liên giao
(interlanguage use), đó là các công trinh nghiên cứu của Borkin & Reinhart
(1978); Kasper (1981); Wolfson (1981; Blum-Kulka (1982); Eisenstein &
Bodman (1986); Takahashi & Beebe (1987); Blum-Kulka, House & Kasper
(1989); Koike (1989b); Sifianou (1992); Trosborg (1995); Song-Mei (1993);
Kubota (1996) và Yeung (1997). Các công trình nshiên cứu này đã chỉ ra
những khó khăn trong việc tiếp thu và sử dụng nhữne quy tắc của cộng đồng
về việc sử dụng ngôn ngữ cho phù hợtr. Tuy nhiên, những nghiên cứu về việc
sử dụng ngôn ngữ liên giao cua người Việt học tiếng Anh cho đến nay vẫn còn
rất hiếm nếu không muốn nói là không có. Như đã nói ớ phẩn mó' đầu, một
trong những hướng nghiên cứu của duns học nsôn n2Ĩr là nghiên cứu việc thực
hiện hành động nói trong giao tiếp bằng lời. Cơ sớ lý thuyết cho đường hướng
nghiên cứu này là lý thuyếi hành động nói. Do đó, phần sau đáy sẽ trình bày
một cách tóm tắt một số vấn đề cơ bản về lý thuyết hành động nói làm cơ sở lý
thuyết cho ccns trình nghiên cứu này.
1.4 Lý thuyết hành động nói
Trong một tình huống giao tiếp điên hình có sự tham gia của một người nói,
một người nghe và một phát ngôn do người nói phát ra, có thể có rất nhiều loại

“tìm sách cho anh”. Tương tự như vậy khi người ta nói "Anh cố thể mơ rửa sổ
hộ tôi không?'' thì đây là hành động nói yêu cầu, V định giao tiếp ứ dây là
người nói muốn người nghe mớ cửa sổ.
Cũns theo Searle (1971) thì việc thực hiện một hành động nuôn trung là tham
gia vào một hình thức ứng xứ theo quy tắc. Những việc làm như hỏi hoặc tạo ra
một lời tuyên bố đều phái thực hiện theo quy tắc tương tự như khi giao bóng
trong môn bóng rổ hoặc khi di chuyên con mã trong cờ vua đều là những hình
thức hành động phải tuân thủ luật chơi. Theo đó những hành động ngôn trung
(illocutionary act) là những hành động được thực hiện theo đúng nhữns quy
tắc cấu thành của nó. Điều này cũng có nghĩa là khi học một nsôn ngữ nào đó
người ta phải nhớ nhũng quy luật cấu thành của một số hành động nói như xin
lỗi, khen, yêu cấu vân vân.
Liên quan đến khái niệm lực ngôn trung còn có một khái niệm là (Vich ngôn
trung (illocutionary point). Khái niệm đích ngôn trung đề cập đến đích hay
mục tiêu của hành phát ngôn (Searle, 1990a:351). Searle dà phân ra thành năm
loại đích hành độns đó là tuyên bố (declarations), biểu hiện (representatives),
bộc lộ (expressives), điều khiển (directives), cam kết (commissive). Do đó, lời
yêu cấu "Please leave the room" như trong ví dụ nêu trẽn có ti ích ngôn trung là
điều khiến.
Trong lý thuyết hành động người ta phân biệt giữa đích ngôn trung và lực nsôn
Irung của một hành động nói. Searle (1990a:351) khắng định rằng "Nếu lời
yêu cầu và mênh lệnh có đích nsôn trung giốns nhau bới cá hai đều là cổ gắns
để người nghe thực hiện một việc gì đó. thì chúng lai có lực ngôn trung khác
nhau". Theo cách trình bày của Searle thì thuật ngữ "lực" (force) được coi là
tương đương VỚI sức mạnh (strength). Chảng hạn như khi so sánh phát ngôn
"Tôi để Iiạliị chúng ta nên đi xcm phim" với câu "Tôi xêu cầu chúng ta phái (li
xem pliim", Searle (1990a:352-353) cho răng hai cáu này có cùng một đích
nơôn chung, đó là cố gắng đế người nghe thực hiện việc di xem phim, nhưng
đích nơỏn trung được thực hiện với những lực ngôn trung khác nhau: câu sau
13

động trinh bày được thực hiện một cách tường minh còn hành động yêu cáu
mở cửa được thực hiện một cách tiềm ẩn.
1.5 Hành động nói yêu cầu
Muốn xác định một hành độns nói cần có nhiều yết tố, trons đó việc xác định
đích của nó là một trong số những yếu tô' quan trong nhất. Đích cúa hành độn2
yêu cầu là người nói cố gắng để người nghe thực hiện một việc nào đó. Cái gọi
14
là 'việc nào đó' này thường dược coi là sự tra giá, thiệt thòi, hay tổn thái
(costly) đối với người nshe, chans hạn như VCU cấu ne ười Díihc phái iiiành một
ít thời gian, tiêu hao một ít năng lượng, hay chi phí một lì vật chãi (Leech,
1983; Blum-Kulka, House & Kasper, 1989). Tương tự như vậy, Searle (1990a)
trong khi giải thích về hành động điều khiến (directives) đã kháng định ráng:
Đích ngôn trung của những hành CĨỘIÌ2 diều khiến này thực chất là nhữne
cố gắng (ớ nhiều mức độ khác nhau, và vì thế. mội cách chính xác hơn.
chúng là những sự xác (lịnh cúa nhĩrns yếu tô có tính quyết định bao «ổm
việc cô găng) cua người nói dê người nulie làm moi việc gì đỏ. Chúiiíi cỏ
thể là những cố gắng rất dơn gián như khi tỏi khuvến khích bạn làm việc
đó hoặc gợi ý lăng bạn nên làm việc đó. hoặc có thé là nhữns cô sãns có
tính ép buộc rất lớn như khi tỏi khăng khăng làne ban phái làm việc đó
Scarle (1990a:350j dã biện luận ràng mặc du lời yêu cấu rát LI án vứi các hành
động điều khiển khác như mệnh lệnh, chí thị, nó vần khác những hành dộns
này. Ông khẳng định rằng một lệnh cũng có cùng một đích ngôn trung với một
lời yêu cầu, bới "cả hai đều là nhiínơ cố gắng đê người nghe thực hiện một
hành động nào đó", cả hai đều có chung một hướns của sự khớp shép đó là
"thực tại khớp với phát ngôn", và cá hai đều thế hiên mộl trạng thái tâm lý của
người nói như ’một mong muốn (desire, want, wish) là người nghe sẽ thực hiện
hành động A" vân vân. Tuy nhiên, chúng lại khác nhau theo hai cách, đó là lực
ngôn trung và vị thế của người nói và người nghe. Trên cơ sớ đó ông đã chí ra
rằns với cùng một đích nsồn trung hay cùng một mục đích có thế có những
mức độ bát buộc hay sự thúc ép khác nhau. Vì thố nôn lực ngôn trung của một

window, please) - câu mệnh lệnh; "Anh có thớ mớ hộ tôi cửa sổ dược kliônạ?"
(Can you open the window?) - Câu nehi vấn; và "Tôi muốn anh mớ cửa sô " (/
would like you to open the window) - câu trán thuật. Hoặc người ta có thể lựa
chọn một cách nói hoàn toàn tiềm án như kiểu hỏi ''Anh có vế nhà bây ÍỊÌỜ
khống?!Hôm nay anh có di làm bổỉìíỊ ôỉô khóiiíỊ?" (Arc you ÍỊ()ÌI11> home
iìow?IDid you conic to work by car today?) đê thực hiện một lời yêu cầu đi
nhờ xe về nhà. Việc lựa chọn một dạng thức cú pháp nào đó tuỳ thuộc vào
nhiều vếu tố khác nhau, trong đó bao gồm các yếu tố xã hội và sự cán nhắc về
mức độ lịch sự cần thiết. Lv thuyết về lịch sự với khái niệm gián tiếp sẽ được
bàn đến ớ phần 1.7.
1.6 Hành động nói xin lỗi
Ngón ngữ dã trỏ thành cấp tín viên từ rãi xa xưa, có lẽ là bói vai trò cua nỏ
trong việc nắm bắt được tầm rộng của sự suy ntỉhĩ và sự cố gắng của con
người. Cho đến nay đã có nhiều đườns hướng khác nhau để tiếp cận ngôn ngữ.
Tuy nhiên trong nhũng năm gần đây dụng học nsôn ngữ học đã khơi dậy được
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một trong những động lực chú yếu và
mạnh mẽ là người ta càng ngày càng nhận thấy rõ rằng đang tổn tại một sự
khác biệt đáng kể giữa những lý thuyết ngôn ngữ hiện thời (ngữ âm, cú pháp,
ngữ nghĩa) với việc mô tả ngôn ngữ trong giao tiếtr. Leech (1983) quả quyết
rằng lý thuyết ngón ngữ, mặc dù chúng có cái đích cơ bàn là xây dưng cách
giải thích cho sự tương đương về nghĩa và âm thanh cho tập họp câu vô hạn
của bất kỳ một ngón ngữ nào, lại chỉ đem lại cho chúng la một phần, có thế
mới chỉ là một phần thiết yếu rất nhỏ thôi dể có thể giải thích được các hiện
tương nuòn ntỉữ trong giao tiếu. Nếu như chúng la muốn giãi thích dược hàm
ngôn, ngụ ý, thái độ mà naười sứ dụng ngôn ngữ dùng để giao tiếp một
16
cách rất hiệu quả thì chúng ta sẽ phai tìm đốn sự giúp đỏ của dụng học niỉỏn
ngữ học. Ta hãy xem xél ví dụ sau:
1. A: ỉ could eat the whole of that cake.
B: Oh, thanks.

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Từ khi Việt nam thi hành chính sách
mở cửa, số lượn í người muốn học và nắm vững tiếng Anh đế giao tiếp với
người nước ngoài ngày càng tâng lên. Nhưng đế có thế sứ dung mót ngoại ngữ
ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI Ị
TRUNG TÂM THÒNG TIN ĨHƯ VIỆN
D T / 3 6 ^
đế giao liếp, người học phái có nâng lực ni ao tictr.Tuy nhicn quá ninh dạy và
học tiếng nước ngoài ớ Việt nam vẫn còn chú trọng quá nhiều vào tri năng
ngồn ngữ thuần tuý- đưa ra những câu đúng, hơn là những lời nói thích hợp với
tình huống và đúng chuẩn mực xã hội. Hậu quá là người học gặp lất nhiều khó
khăn khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Họ có thế rất giỏi về ngữ pháp và từ vựng
nhưng vẫn gặp nhiều trở ngại khi giao tiếp bằng tiếng Anh vì họ thiếu sư hiểu
biết về sự thích hợp trong tình huống xã hội củng như là nhũng nguyên tắc
nhận biết ngôn ngữ để truyền đạt những hành động ncôn ngữ theo V của mình.
Đê nâns cao năns lưc giao tiếp cho người học, mộl loạt các nghiên cứu ơiao
thoa vãn hoá Anh-Việt về các hành động ngôn ngữ như lời thinh cầu, lời mời,
lời cảm ơn, lời tạm biệt, lời chào, lời hứa đã được thực hiện. Trong số này có
một hành dộng nsôn niiĩr có tần số sử dụng cao trone giao liếp, dó là lời xin
lỗi. Kasper (1996) đã chỉ ra ràng " Trong bất cứ một cộng done ngôn ngữ nào,
các thành dộngên đều phai biết thực hiện hành dộng ngôn ngữ đế sứa sai khi
mắc lỗi. đó là xin lỗi
Cũng như những hành động nói khác, hành động xin lỗi và yêu cầu đểu phái
tuân thủ những quy ước về lịch sự. Như đã trình bày ớ phẩn trên, irong những
ngôn ngữ khác nhau người có nhũng quy ước khác nhau về những công thức
được coi là lịch. Chính VI thế mà chúng ta cần tìm hiểu về lý thuyết lịch sự.
1.7 Một sô điểm cơ bản vê lý thuyết về lịch sự
Trong phân sau đây chúng tỏi sẽ tháo luận một cách vãn tát lý thuyết lịch sự
của Brown và Levinson và một số cách kiến giái về lịch sự của Leech, bao
gồm nhữns lý giái về các yếu tố xã hội được đưa ra tron2 lý thuvêì trên.
Lý thu vết lịch sự do Brown &. Levinson (1978; ỉ 987) để xướna có ánh hướng

số yếu tố xã hội ảnh hưởng đến lịch sự .
1.7.1 Các yếu tô xã hội ánh hưởng đến lịch sự
Việc lựa chọn những hình thức biếu đạt lịch sự trong một chu cánh nhất định
phụ thuộc vào một số nhân tố mà Brown và Levinson (1987) dã uộp vào thành
một công thức đơn giản. Hai học giả trên đã tuyên bố có ha biến tố độc lập có
một ánh hướng có lính hệ thống đến sự lựa chọn các chiến lược lịch sư, dó là:
quyền lực tương đối (relative power - P) giữa người nói và người nghe, khoáng
cách xã hội {social distance - D) giữa người nói và nsười nghe và mức độ tuyệt
đối của sự áp đặt được đánh giá một cách chính xác trone một bối cánh văn
hóa cụ thể (absolute ranking of imposition - R). Theo quan niệm cùa Brown và
Levinson thì mỗi một biến tố độc lập đều có một ánh hướng riêng đến sự lựa
chọn chiến hrợc của các hình thức biểu đạt lịch sư. Những học giả này biện
luận rằng mức độ nặng nhẹ của một hành động đe dọa thế diên được quy định
bưi những biến lõ này. Can nhớ rằng, mặc dù đay không phai là những yếu lố
duy nhất ánh hưởng đến cách hình thành hành đông nói, nhưng Brown &
Levinson kháng định rằng đây là những biến tố có kha năng bao trùm lên tất
cả những biến tố khác (chẳng hạn như vị thế (status), quyền thế (authority),
nghề nghiệp, dân tộc xuất thân, tình bạn, các yêu tố tình huống, vân vân).
Biến tố p theo cách lý giúi cùa Broun & Levinson (1987:77) là một yếu tố xã
hội về quyền lực tươns đối khôn 2 có tính dối xứng. Quyền lực tương dổi của
19
người nói đối với người nghe được xác định bằng mức độ áp đặt mà người nói
có thê thực hiện đối với người nghe và sự áp đật thế diện cúa nsười nói trước
sự hy sinh thè diện cúa người nghe, hoặc là người nói cho rằng mình có thế áp
đặt kê hoạch của mình lên kế hoạch của người nghe, người nghe phái hy sinh
kê hoạch của mình. Có hai nguổn làm núv sinh p. và cá hai đều có thô được LI ỷ
thác hoặc không được uỷ thác (authorized) đó là: (1) quyền kiếm soát về vật
chất (material control) đối với việc phàn bố về kinh tế và sức mạnh vật chất và
(2) sự khống chế siêu vậi chất (metaphysical control) dối với nhữnc hành độ nu
của người khác, thông qua sức mạnh siêu vật chất mà những người khác thừa

Những cticu bàn luận ớ tròn cho thây trong lĩnh vực giao thoa vãn hỏa và
nghiên cứu ngôn ngữ liên giao cúa hành động nói, khái niệm p chưa được định
nghĩa một cách hoàn toàn thống nhất. Nóì một cách khác, đúim như Spenccr-
Oatcy (1996) nhận định, các học giá van còn chưa hoàn toàn thông nlũu ve
những yếu tố quy định cái quyền lực này.
Biến tố xã hội thứ hai ảnh hướng đến lịch sự là khoán® cách xã hội (social
distance -D). Theo thuật ngữ của Brown và Levinson (1987:76-77) ihì đây là
một khái niệm có tính đối xứng về sự gần gũi hay cách biệt mà naười nói và
người nghe sử dụng làm xuâì phát cticm cho hành dộng nói cùa mình. Tronư
nhiều trường hợp (không phải là tất cá), cái gọi là khoáng cách xã hội này bị
quy định bởi tần xuất của sự giao tiếp, và loại hình vật chất hay phi vật chất
(bao gồm cả thể diện) được trao đổi giữa người nói và người nghe. Việc đánh
giá khoang cách xã hội D thường là thước đo cúa sự thân sơ dựa trên các thuộc
tính xã hội ổn định và cái phán ánh sự gán aũi vé mặt xã hội nhìn chung là
quan hệ tương hỗ của việc cho và nhận thể diện dươrm tính.
Đáng chú ý là yếu tố khoáng cách (distance) và khoáng cách xã hội (social
distance) đã được các học giả khác nhau đề cập đến dưới những tên gọi khác
nhau. Chảng hạn như Brown & Gilman (1972) thì dùng thuật ngữ solidarity
(tình thân hữu), còn Brown & Levinson (1987) lai dùng thuật nơĩr distance
(khoang cách) đê nói về khái niệm này. Trong khi đó cũng nói về khái niêm
này thì Slugoski & Turnbull (1988) và Trosborg (1987) lại dùng thuật ngữ
intimacy (sự Ihân thiết) Do đó nên người ta đã sử dụnơ tên gọi khác nhau để
gọi tên nhũng mức độ khác nhau của khoáng cách xã hội; chẳng hạn như
cao/lớn - thấp/nhỏ để thảo luận về khoáng cách (distance): xét trong quan hệ
với khái niệm này, sự quen biết và không quen biết đê tháo luân về khái niêm
này với cái tên được ơọi là sự thân mật ựcmiiliítritx) (Spencer-Oatey, 1996:3).
Một biến tố khác cũng ánh hưởng đến lịch sự khi thực hiện các hành đông đe
dọa thể diện đó là mức độ áp đặt (viết tắt là R). Biến tố này liên quan đến mức
độ gây phién toái hoặc là mức độ gây khó khăn cúa một hành động dc dọa the
diện trong một chu cảnh xác định thuộc một nền văn hóa xác định. Theo

diện âm tính của người nghe. Chức nãng của lịch sự âm tính là tránh hoặc
giảm tới mức tối thiếu sự áp đặt của hành động đe doạ thể diện. Vi lịch sự âm
tính có đặc tính là làm giảm nhẹ, lu mờ vai trò cúa người nói. Lịch sự dương
tính được ngưòi nói sử dụng để báo vệ thế diện dương tính của người nghe.
Thông qua đó, người nói bày tỏ sự thân thiện với người nghe. Tóm lại thế diện
âm tính là sự tự do hành done, khôns bị áp đặt. còn thể diện dương tính là sư
hài lòng vì những giá trị của mình được mọi người thừa nhận (theo Carel &
Konneker, 1981, tr. 18). Theo đó, sơ đồ trên thê hiện mức độ lịch sự được tăng
dần theo trật tự (1) nói gán khống có bù đắp , (2) nói gần có bù đắp thế diện
dươnơ tính, (3) nói gần có bù đắp thể diện âm tính, (4) nói xa, (5) không nói.
COnơ theo các tác giả này thì mức độ lịch sự tăng dần tương ứng với mức độ
gián tiếp tăng đần.
23
Như vậy là lịch sự được coi là sự quan lâm đến thế diện cúa naười nói và ncười
nghe và sự quan tâm này ánh hướng đến mức độ bù đăp mà người ta sứ dụng.
Cũng theo quan điếm này, người la phân biệi giửa loại bù đáp cho thế diện
dương tính và loại bù đắp cho thể diện âm tính. Nếu bù đáp cho thế diện dương
tính có liên quan đến việc cái gọi là 'cho thể diện’ (give face) thông qua việc
thế hiện theo một cách nào đó sự đoàn kết với nsười nghe (kiểu này còn gọi là
lịch sự dương tính), Ihì hù đắp cho lịch sự ám tính lại licn quan đến việc sử
dụng kỹ xảo nhằm tạo cho người nghe ’một lối ra’ (out) và cho phép người
nghe cám thấy không bị ép buộc và dược tôn trọng (kiểu này còn gọi ỉà lịch sự
âm tính). Theo Brown & Levinson thì kiểu bù đáp sau lịch sự hơn kiểu trước.
Tuy nhiên cần nhớ rằng quan niệm này đã bị phê phán nhiều và bị coi là quan
niệm lây vãn hóa Anh làm trung lâm (anslocentric). mans tính phiến diện.
Việc đánh giá hình llúrc bu dáp nào lịch sự hơn tuv thuộc vào quan niệm cua
cộn2 dồng sử dụng ngôn ngữ và mang đậm sắc thái vãn hoá, dân tộc. Đã có
những học giả như Carrel và Konneker (1981) cho rần ti lịch sự dươns lính
tinh tế hơn lịch sự âm tính.
Có thể thấy rằng các lập luận trên dều cho rằng điều cơ bán của lịch sự chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status