Nghiên cứu xạ khuẩn sinh chất kháng sinh kháng nấm gây bệnh thực vật ở Việt Nam - Pdf 26

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
NGHIÊN CỨU XẠ KHUÂN SINH CHẤT
KHÁNG SINH KHÁNG NAM
GÂY BỆNH THỰC VẬT ỏ VIỆT NAM
MÃ SỐ : QG - 02 -12
Chủ trì đề tà i:
P G S .T S . K iề u H ữ u Ả n h
Hà Nội, 5-2004
Tên để tài:
NGHIÊN CỨU XẠ KHUẨN s in h c h ấ t k h á n g s in h
KHÁNG NẤM GÂY BỆNH THỰC VẬT ở VIỆT NAM
Mả sô : QG - 02 -12
Chủ tri để tài : Kiều H ữu Ảnh
Học hàm , học vị, chuyên môn : PGS.TS. vi sinh vật học
Chức vụ : Chủ nhiệm Bộ m ôn
Đ ơ n vị công tá c : Khoa Sinh, ĐHKHTN
Địa chỉ:
Số nhà 64, ngõ 294/4 Kim Mã, Q. Ba Đình, Số điện th o ạ i: 8430883
Đ ơ n vị phối hợp : - Bộ môn Bệnh cây và Nông dược, Trường Đại
học N ông nghiệp I, Hà Nội
- Trung tâm nghiên cứu Bảo vệ sức khỏe cây
trồng và vật nuôi, Liên hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam
BÁO CÁO TÓM TẮT
a. Tên đề tà i:
Nghiên cứu xạ khuẩn sinh chất kháng sinh kháng nấm gây bệnh thực vật ở Việt Nam
Mã số : QG-02-12
b. Chủ trì đề tà i: PGS.TS. Kiều Hữu Ảnh
c. Danh sách những người tham gia :
Họ và tên

thuốc đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh và sức
khoẻ cộng đồng. Mục tiêu của công trình này là điều tra tình trạng nhiễm nấm gây
bệnh trên một sô' loại cây trồng phổ biến ở nước ta, phân lập và tuyển chọn các chủng
xạ khuẩn có khả năng sinh chất kháng sinh kháng nán, sơ bộ nghiên cứu một số tính
chất và hiệu quả diệt nấm của các chất kháng sinh thu được.
Từ các mẫu cây và quả bị nhiễm bệnh đã phát hiện các nấm gày bệnh sau: Trên
cây công nghiệp, cây lương thực và cây rau: Rhỉzoctonia solani, Sclerotium rolfsii,
Fusarium oxysporum và các chủng nấm khác như Aspergillus sp., Penicillium sp.
Mucor sp., Curvularia sp., Alternaria sp., Syncephalastrum sp., Cỉadosporium sp.
Monilinia sp., và Acremonium sp Trên các cây ãn quả và quả tươi : Aspergillus sp.
Penicillium sp., ngoài ra còn có Mucor sp., Curvularia sp., Alternaria sp.,
Syncephalastrum sp., Cladosporium sp., Monilinia sp., và Acremonium sp
Từ 110 chủng xạ khuẩn phân lập được từ đất đó có 14 chủng ức chế Fusarium
.oxysporum, chiếm (12,73 %) trong đó chọn được hai chủng kháng F. oxysporum
mạnh nhất, đó là chủng T - 41 và chủng D - 42. Hai chủng này đều thuộc nhóm xám
(Gy). Sơ bộ xác định theo ISP, chủng xạ khuẩn T-41 có nhiều đặc điểm giống với loài
s. antimycoticus, chủng D-42 có nhiều đặc điểm giống với loài s. viridogenes. Nhiệt
độ tối ưu cho sinh trưởng của chủng T-41 là 28-30°C, pH tối ưu từ 6,5 đến 7,5; của
chủng D-42 là 26-28°C, pH tối ưu 7,0 -ỉ-7,5.
Cả hai chủng T-41 và D-42 đều cho hoạt tính kháng sinh mạnh nhất trên môi trường
A-12. Trong đó, hoạt tính kháng sinh của chủng T-41 trên môi trường rắn (xốp) mạnh
hơn rất nhiều so với trên môi trường dịch thể. Chủng D-42 cho lượng sinh khối lớn
nhất đổng thời với lượng chất kháng sinh được tích luỹ nội bào.
T-41 và D-42 đều cho hoạt tính kháng sinh mạnh nhất ở nhiệt độ khoảng 30°c, pH
trung tính hoặc hơi kiềm. Nguồn cacbon thích hợp nhất cho chủng T-41 là tinh bột tan
1 % và D-42 là ri đường. Nguồn nitơ thích hợp cho lên men của cả hai chủng là bột đậu
tương., ở cả hai chủng, lượng sinh khối tích luỹ lớn nhất và hoạt tính kháng sinh cực
đại đạt sau khoảng 96-120 giờ nuôi. Trên môi trường lên men xốp, hoạt tính kháng
sinh của chủng T-41 đạt hoạt tính nhất vào ngày thứ 12.
Chất kháng sinh của cả hai chủng T-41và D-42 đều tan tốt trong etanol, n-butanol,

Assoc. Pro. Dr. Hanoi University of Natural Sciences
Bui Thi Viet Ha
M.Sc. Hanoi University of Natural Sciences
Nguyen Thanh Huyen
M.Sc.
Hanoi University of Natural Sciences
Mai Thi Dam Linh
Bachelor Hanoi University of Natural Sciences
Nguyen Le Huyen Trang
Bachelor
Institut of Science and Technology
Dinh Xuan Tuan Bachelor
Institut of Irrigation Science
Dao Duy Dat Bachelor
Institut of Biotechnology, Inst. of S&T
Ly Ngoe Oanh Bachelor
Hanoi University of Natural Sciences
Do Minh Phuong
Technician
Hanoi University of Natural Sciences
Pham Thuy Linh Bachelor
Hanoi University of Natural Sciences
d. The aim and content of research
Findings published recently by the EPA have made scientists increasingly aware of
the drawbacks of many chemical pesticides, in terms of their effect on the
environment, as well as on the grovvers & consumers of agricultural Products.
Biological control is a potent means of reducing the damage caused by plant
pathogens. The períormance of a biocontrol agent cannot be expected to equal that of
an excellent fungicide; although some biocontrol agents have been reported to be as
effective as fungicide control.

(Kỷ và ghi rỗ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1 - Tông quan tài liệu
1.1. Vi nấm - Nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh hại cây trồng
1.1.1. Sự lan truyền và chu kỳ phát triển của nâin gây bệnh thực v ật
1.1.1.1. Sự lan truyền
1.1.1.2. Sự lây nhiễm
1.1.1.3. Chu kỳ phát triển của nấm
1.1.2. Các loại nấm gây bệnh thực vật thường gặp
1.1.2.1. Rhừoctonia
1.1.2.2. Sclerotium
1.1.2.3. Fusarium
1.1.3. Thiệt hại về kinh tế của cây trồng do vi nấin
1.1.4. N hững biện pháp phòng trừ nấm gây bệnh thực vật
1.1.4.1 Biện p háp phòng trừ hoá học
1.1.4.2. Biện pháp đâu ữanh sinh học
1.2.Xạ khuẩn và các chất kháng sinh có nguồn gốc xạ khuẩn trong việc
phòng trừ nấm gây hại thực vật
1.2.1. Xạ khuẩn
1.2.1.1. Đặc điểm chung của xạ khuẩn
1.2.1.2. Phân loại xạ khuẩn
1.2.2. Vai trò của các chất kháng sinh có nguồn gôc xạ khu ẩn toong
phòng trừ nấm gây hại thực vật.
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chất kháng sinh trong
phòng chống các bệnh thực vật do vi sinh vật gây ra
1.2.2.2. Các nhóm chất kháng sinh chính có nguồn gốc xạ kh uẩn
1.2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tông hợ p chất kháng sinh ở xạ
khuẩn
1.2.2.4. Tách chiết và tình chế chất kháng sinh

20
21
23
23
23
2.1.1.1. M ẩu cây
11.1.2. Mẫu đ ất
2.1.1.3. Vi sinh vật
2 2.2. H oá chất
2.1.3. Dụng cụ và thiết bị
2.1.4. Các công thức m ôi trường
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu m ẫu bênh thực vật, phân lập nấm và định tên
2.2.1.1. Phân lập nấm gây bệnh
2.2.1.2. Xác đinh các đặc điểm phân loại, đặc điểm hình thái và định
tên.
2.2.2. Phân lập và tuyển chọn xạ khuẩn
2.2.2.1. Phân lập xạ k hu ẩn theo Vinogradski
2 2 2 2 . Xác định ho ạt tính kháng sinh
2.22.3. Tuyển chọn các chủng xạ khuân sinh chẩt kháng sinh
2.2.3. Bảo quản giống
2.2.4. Nghiên cứu các đặc điêm sinh học và phân loại của xạ khuẩn
2.2.4.1. Đặc điểm hình thái
2.2Ả.2. Đặc điểm nuôi cấy
2.2.4.3. Đặc điểm sinh lý sinh hoá
2.2.5. Lên m en
2.2.5.1. Lựa chọn môi trường lên m en thích hợp
22.5.2. Ảnh h ưở ng của các nguồn cacbon, nitơ lên sinh tổng hợ p chất
kháng sinh
2.2.53. Ảnh hư ởng của pH ban đầu đến khả năng hình thành chất

27
27
28
28
28
28
29
29
30
30
30
31
31
31
31
31
31
32
32
32
32
32
32
33
33
34
của hạt.
22.9.2. Xác định ảnh hưởng của dịch nuôi cây đến khả năng sinh
trư ởng và p hát triển của cây
2.2.10. T hư nghiệm chế phẩm trên đồng ruộng

3.6. Lên men xốp
3.7. Tách chiết và tinh chế chất kháng sinh
3.7.1. Tách chiết chẫt kháng sinh từ dịch lên men
3.7.2. Tách chiêt chât kháng sinh từ môi trường lên m en xốp
3.7.3. Sơ đồ tách chiết và tình chế chất kháng sinh ữon g dịch nuôi cây
34
34
34
37
37
37
37
40
41
41
47
47
48
48
53
53
55
57
57
60
61
65
68
70
70

MỞ ĐẦU
Hàng nãm trên thế giới bệnh cây trổng đã gây nên những tổn thất to lớn đối với
nền sản xuất nỏng nghiệp. Chúng phá huỷ 537,3 triệu tấn các loại nông sản, bằng
khoảng 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp thế giới; trong số này, chiếm 83% là bệnh
do vi nấm gây ra, và chủ yếu là các bệnh như đạo ôn, khô vằn, thối cổ rễ, mốc sương
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 8 triệu ha đất canh tác. Sản phẩm nông
nghiệp chiếm vị trí hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân. Khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nóng và ẩm, là điều kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển, bời vậy bệnh do vi nấm là
vần đề không thể tránh khỏi và thực tế đã gây tổn thất nặng nề cho nền nông nghiệp
nước ta. Việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật là hoá chất nhằm làm tăng sản lượng
nông nghiệp từ lâu đã rất phổ biến và tăng lên không ngừng từ 10.000 tấn/ nãm vào
những nãm cuối thập kỷ 80 đến 40.793 tấn/ năm vào năm 1998. Diện tích đất canh tác
có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã tăng tới khoảng 80 - 90%. Chủng loại thuốc bảo vệ
thực vật sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng, có khoảng 269 hoạt chất với gần 735 tên
thương mại. Tuy chủng loại nhiều như vậy, song người nông dân thường sử dụng theo
thói quen và do hiểu biết hạn chế về mức độ độc hại của thuốc bảo vệ thực vật nên
nhiểu loại thuốc cũ và độc như wofatox, lindan, DDT, dichlovos, bassan vẫn được lưu
hành. Hiện nay trên thị trường thuốc bảo vệ thực vật có tới 28 hoạt chất cấm sử dụng,
19 hoạt chất hạn chế sử dụng. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở diện rộng với số
lượng lớn, cùng với những hạn chế hiểu biết về thuốc đã gây ra nhiều thiệt hại lớn về
kinh tế cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh và sức khoẻ cộng đồng. Bởi
vậy, việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo định hướng "nồng nghiệp sạch
hơn và bền vững" là rất cần thiết và cấp bách. Hội nghị tư vấn khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương của FAO năm 1992 đã khẳng định đấu tranh sinh học là nến tảng của
chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).
Từ những năm 1950, nhiều nước trên thế giới đã đạt được những kết quả hết sức
khả quan khi ứng dụng chất kháng sinh vào sản suất nông nghiệp để phòng chống các
bệnh do vi sinh vật gây hại. Chất kháng sinh có nhiều ưu thế so với hoá chất bảo vệ
thực vật như có tác dụng chọn lọc cao, độ độc thấp, thời gian bán huỷ rất ngắn do đó
không gây ố nhiễm môi trường Bởi vậy, đây được coi như một biện pháp hữu hiệu

- Bào từ hữu tính, từ quả the đ ã, quả
th.ể bẩu tự phóng vào tcooLg Jdiổag khí
'M ưa và nước tưói làm bào lử bắa.
IU ag ca (bào từ nấm collectotrichum)
Gió thối bào từ oấm đl xa
Côn. tràng mang tcuyẻa bào từ, tiú dụ
bọ cánh, cứag Carpophilus spp.
Các yếu ló lan. truyềa ichác: đất, hại
giống, CÍ1 gióag, xác cây bệnh _
H ìn h l. Sơ đổ lan truyền bệnh
2
Bào tử đuợc lan truyền bằng cách chủ động hay thụ động là tuỳ thuộc vào đặc
điểm sinh học của mỗi loại nấm và ảnh hưởng của yếu tô' môi trường (hình 1).
1.1.1.2. Sự lây nhiễm
Bào tử nấm là nguồn bệnh đầu tiên trong quá trình lây nhiễm của nấm. Quá
trình lây nhiễm bắt đầu từ giai đoạn bào tử tiếp xúc với bể mặt ký chủ. Để lây nhiẻm,
trước hết bào tử phải được nảy mầm. Nói chung, có hai kiểu nảy mầm : nảy mầm trực
tiếp và nảy mầm gián tiếp. Nảy mầm trực tiếp sinh ra ống mầm sau phát triển thành sợi
nấm, còn trong nảy mầm gián tiếp một bào tử ban đầu sẽ tạo ra nhiều bào tử nhỏ, các
bào tử này sau đó sẽ nảy ra nhiều ống mầm [4]. Sự nảy mầm của bào tử tuỳ thuộc vào
nhiều điều kiện sinh thái như độ ẩm, nhiệt độ, độ pH môi trường, ánh sáng và oxy
Độ ẩm là yếu tô' có tác dụng quyết định trong khi nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ,
tốc độ và kiểu nảy mầm của bào tử còn ánh sáng là yếu tô' ít ảnh hưởng nhất đến sự nảy
mầm [3]. Tuy nhiên các yếu tô' này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Sau khi bào tử nảy mầm, ống mầm sẽ xâm nhập vào bên trong mô ký chủ bằng
nhiều con đường : qua bể mặt nguyên vẹn, qua vết thương cơ giói hoặc qua khí khổng
trên ký chủ. Phytophthora inỷestans có thể xâm nhập qua khí khổng hoặc qua lớp biểu
bì nguyên vẹn của lá, nấm Penicillium spp. và Rhiiopus spp. là những loại ký sinh yếu
chỉ có thể xâm nhập vào cây qua vết thuơng cơ giới [15].
Sau khi xâm nhập nấm sẽ phân huỷ các cấu trúc tế bào và các chất hữu cơ khó

khi tìm thấy giai đoạn sinh sản hữu tính, nấm sẽ được sắp xếp lại trong hệ thống phân
loại bằng cách chuyển sang lớp nấm khác hoặc được duy trì ở cả hai lóp theo giai đoạn
vô tính và hữu tính. Do vậy, khi nghiên cứu chu kỳ phát triển của nấm cần phải tìm
hiểu các đặc điểm sinh học cũng như mối quan hộ giữa yếu tố ngoại cảnh với sự phát
triển của nấm ở các khu vực địa lý khác nhau.
Chu kỳ lây nhiễm hay còn gọi là "chu kỳ bệnh" bao gồm tất cả các giai đoạn ký
sinh bên trong ký chủ và thời kỳ không ký sinh.
Sơ đồ tổng quát của chu kỳ bệnh được trình bày ở hình 2.
Báo tồa tcoag dất, xác cây bệoh. vạt chất h.ữu ca đã chét,
hạt gióng, cay irổag, ký ch.0 phụ, aỏag sảa. phàm
Hình 2 : Chu kỳ bệnh
4
Nhìn chung chu kỳ bệnh của nấm là một quá trình hoạt động liên tục dẫn đến
việc hình thành bệnh, tuy nhiên giai đoạn ký sinh trong chu kỳ có thể được lập lại
nhiều lần tuỳ thuộc vào đặc điểm và tốc độ sinh sản nhiều thế hệ của ký sinh trong vụ
mùa. Trong những điéu kiện nhất định (nhiệt độ, độ ẩm không thích hợp ) nám sẽ
chuyển sang giai đoạn bảo tồn.
Nắm vững chu kỳ bệnh cụ thể có ý nghĩa lớn trong công tác phòng trừ bệnh đạt
hiệu quả cao bởi vì nhờ đó có thể tìm được điểm yếu hoặc điểm quyết định hình thành
bệnh trong chu kỳ, từ đó chọn các biện pháp phòng trừ thích hợp và dựa vào những
thay đổi trong chu kỳ bệnh ở các vùng sinh thái khác nhau có thể điều chỉnh các biện
pháp phòng trừ hiệu quả nhất.
1.1.2. Các loại nấm gây bệnh thực vật thường gặp
Ll.2.1. Rhizoctonia
Đặc điểm chung
Là một trong những đối tượng bệnh hại quan trọng nhất hiện nay, Rhiioctonia
sống trong đất, có sợi màu trắng vàng, sau thành màu vàng nâu. Hạch nấm thường tồn
tại trên vết bệnh, ban đầu có màu trắng sau chuyển thành màu nâu. Nấm có thể tồn tại
trong đất hoặc xác cây trồng trong nhiều năm dưới dạng hạch nấm.
Rhizoctonia gây bệnh cho rất nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt từ khi có

6
Hình 4: Bệnh thối ướt bắp cải do Rhizoctonia
Hình 5: Vườn bắp cải bị bệnh do Rhizoctonia
1
Hình 6: Bệnh khô vằn ngô do Rhizoctonia
Hình 7: Hạch nấm Rhizoctonia solani trên đất và bã cây trồng
8
1.1.2.2. Sclerotíum
Đặc điểm chung
Sclerotium có phạm vi phân bô' rộng từ vùng có khí hậu lạnh như Sapa đến các
vùng đất cát ven biển hay vùng có khí hậu nóng và khô đến các vùng đổng bằng.
Sclerotium rol/sii gây bệnh sống trong đất, sợi nấm màu trắng đâm tia, các sợi nấm
này sản sinh ra nhiều hạch nhỏ. Hạch nấm tồn tại trong đất và có thể xâm nhập trực
tiếp vào mô cây và gây bệnh cho cây. Nấm gây hại trên nhiều loại cảy trồng như : lạc,
lúa, ngô, cây họ đậu, cà chua, khoai tây, dưa hấu, bầu bí, cây làm thuốc (bạch truật, địa
tiền ) [17]. Ồ Việt Nam, bệnh do Sclerotium thường gây nguy hiểm cho các cây trồng
cạn, phổ biến nhất là bệnh héo rũ trắng gốc và bệnh tiêm hạch trên lúa. Trên lúa bệnh
xuất hiện nhiều hơn ở vùng thiếu nước tưới.
Nám phát triển và gây bệnh ở nhiệt độ 15 - 37° c, điều kiện thích hợp cho nấm
phát triển là khí hậu nóng ấm, ẩm độ không khí và ẩm độ đất cao [22]. Bệnh do
Sclerotium có thể gây hại cây trồng quanh nãm nhưng nặng nhất là vào vụ xuàn. Nấm
gây hại nặng trên cây cà chua và cây lạc ở miền Bắc Việt Nam vào thời điểm trước khi
thu hoạch, lúc đó đất trồng quá ẩm ướt. Sau khi thu hoạch, nếu thu dọn ruộng không
sạch thì các hạch nhỏ của nấm gây bệnh vẫn có thể tồn tại trong đất và thân cây chết
mục rồi tiếp tục gây bệnh cho các cây trồng vụ sau. Trên các ruộng đất cát pha bị mất
nước thường xuyên cũng thường thấy nấm bệnh xuất hiện [19].
s.
rolỷsii tổn tại nhiều
nám trong đất và xác cây bị bệnh.
Các triệu chứng bệnh do Sclerotium roựsii

Fusarium oxysporum phát triển thuận lợi trong điẻu kiẽn thời tiết ấm và ẩm,
trẻn đất cát pha bạc màu và đất thịt nhẹ. Trong điểu kiện thời tiết ấm áp, nhiệt độ trung
bình 27 - 30°c, ẩm độ đất tương đối cao bệnh có thể phát triển mạnh, gây thiệt hại
không nhỏ đến năng suất cây trồng [12].
Bệnh phát triển nhiều trên đổng ruộng từ tháng 3 trở đi và gây hại mạnh trong
khoảng tháng 9 đến tháng 11 .
Các triệu chứng bệnh do Fusarium
ở những cây bị nhiễm bệnh, lá héo rũ cụp xuống, thường bắt đầu từ các lá chết
phía gốc ở một bèn cây, sau đó lan ra toàn cây làm cho lá héo rũ màu vàng (hình 15).
Bệnh phá hại trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cày, nhưng nặng nhát là vào
cuối giai đoạn sinh trưởng. Cây con bị nấm lây nhiễm sẽ không phát triển được và trờ
nên khô héo. Còn khi bị nhiễm nấm ở giai đoạn đang phát triển thì triệu chứng của cây
thể hiện rỏ hơn. Vết bệnh ờ cổ rễ và phần thân sát mặt đất có màu nâu, vết bệnh lan
rộng có thể làm khỏ tóp cả phần thân sát mặt đất, rễ phát triển kém và bị thối dần dẫn
tới cây héo vàng xẹp xuống rồi chết. Khi chẻ dọc thân cây bệnh, bó mạch dẫn có màu
nảu, trẽn bề mặt vết bệnh có thể xuất hiện lớp nấm từ màu trắng đến hồng nhat khi trời
nóng và ẩm [13].
12
1.1.3. Thiệt hại về kinh tê của cây trồng do vi nấm
Hàng nãm thế giới thiệt hại khoảng 537,3 triệu tấn các loại nông sản chù yêu
(chiếm 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp của thế giới). Riêng lúa chiếm khoảng 9%,
ngô 10%, cây rau 12%, cây ãn quả 16,5%, trong đó bệnh do nấm gây ra chiếm khoảng
83% [1]. Theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc
(FAO), tổn thất hàng nãm của các sản phẩm nông nghiệp do các tác nhân gây hại khác
nhau gây ra là 20% tổng sản luợng toàn cẩu. Tính thành tiền tổn thất mỗi nãm là 8 tỷ
USD về gạo, 3 tỷ USD về khoai tây, 3 tỷ USD về đường, 2,5 tỷ USD về cà phê, 2 tỷ
USD vể lúa mạch, 2 tỷ USD về ngô, 1.5 tỷ USD về lúa mì và 1 tỷ USD về lạc, trong đó
riêng tổn thất do nấm chiếm khoảng một nửa (nghĩa là khoảng 12 tỷ USD). Theo Ou
(1972) trong số 45 bệnh lúa đã mô tả, có tới 60% do nấm gây ra. Theo kết quả nghiên
cứu của Viện bảo vệ thực vật (1971- 1976), trong sô' 24 bệnh hại lúa ở Việt Nam có 13

thói quen và do hiểu biết hạn chế về mức độ độc hại của thuốc bảo vệ thực vật nên đã
dẫn đến việc lạm dụng thuốc hoá học trong một thời gian dài. Nhiều loại thuốc cũ và
độc như: wofatox, lindan, DDT, dichlovos, bassan cùng một lượng lớn các loại thuốc
khồng rõ nguồn gốc vẫn được sử dụng. Hiện nay trên thị trường thuốc bảo vệ thực vật
đang lưu hành có tới 28 hoạt chất cán sử dụng, 19 hoạt chất hạn chế sử dụng.
Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở diện rộng với số lượng lớn, cùng với
những hạn chế hiểu biết về thuốc bảo vệ thực vật đã gây ra nhiều thiệt hại to lớn về
kinh tế cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh và sức khoẻ cộng đồng. Hoá
chất bảo vệ thực vật là các hợp chất độc, rất khó phân huý, chúng tồn tại trong một thời
gian dài, tổn đọng trong các sản phẩm nông nghiệp, tích tụ trong đất và trong nguồn
nước là nguyên nhân chính gây ra những vụ ngộ độc lớn cho con người cũng như
động vật. Ngay cả vói cây trồng khi nhiễm một lượng thuốc cao sẽ làm cho tỷ lệ nảy
mầm, sức nảy mầm bị giảm sút, cây mọc lên còi cọc, rễ ngắn phát triển không bình
thường. Nó còn làm giảm tính chống chịu của cây trổng, ảnh hưởng đến phẩm chất
nông sản, gây nẻn hiện tượng ngộ độc ở cây trổng như lá khô cháy, quăn queo, rụng
hoa trái do ngộ độc cấp tính, giảm sinh trưởng và tính chống chịu do ngộ độc mãn
tính
1.4.2. Biện pháp đấu tranh sinh học
Do những tác động của các thuốc hoá học, hiện nay trên thế giới cũng như ở
Việt nam nhiều hướng nghiên cứu mới đã được hình thành, trong đó được ưu tiên hàng
đầu chính là hướng nghiên cứu về các chế phẩm phòng trừ có nguồn gốc sinh học bởi
tính ưu thế của chúng so với hoá chất bảo vệ thực vật : có tác dụng chọn lọc cao,
thường không độc hoặc độc thấp đối với người, động vật và thực vật, một sò' lớn có tác
dụng nội hấp, thời gian bán huỷ ngắn do đó không gây ô nhiễm môi trường. Bởi vậy,
đây được coi như một biện pháp hữu hiệu mở ra một triển vọng to lớn trong việc phòng
trừ các bệnh gây hại mùa màng và khắc phục những hậu quả do chất hoá học gây ra.
Hiện nhiều hợp chất sinh học kháng nấm đang đuợc sử dụng rộng rãi trong bảo vệ thực
vật như blastixidin s, kasugamyxin, polioxin, validamyxin trong đó đáng chú ý là các
chế phẩm phòng trừ nấm có nguồn gốc từ xạ khuẩn.
14

• Nhóm xạ khuẩn có các bào tử nang : khuẩn tv phân chia theo các hướng
vuông góc với nhau, tạo ra cấu trúc tương tự nang bào tử.
• Nhóm xạ khuẩn dạng Nocardia: sinh sản bằng cách phân đốt khuẩn ty.
15

Trích đoạn Đặc điểm chung của xạ khuẩn Vai trò của các chất kháng sinh có nguồn gốc xạ khuẩn trong phòng trừ nấm gây hại thực vật. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tổng hợp chất kháng sin hở xạ khuẩn Tách chiết và tình chế chất kháng sinh Ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cày
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status