Nghiên cứu những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật ở xã Côn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––– HOÀNG THỊ HƢƠNG NGHIÊN CỨU NHỮNG TÁC ĐỘNG
CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐẾN THẢM THỰC VẬT
Ở XÃ CÔN MINH HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Ma Thị Ngọc Mai
THÁI NGUYÊN – 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tác giả Hoàng Thị Hƣơng


gia đình!
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Ma Thị Ngọc Mai -
Cô đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi
có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh trường
Đại học Sư phạm, khoa Sau Đại học - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Đảng bộ, UBND, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên
nhiên Kim Hỷ, Hạt Kiểm Lâm, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng
Dân tộc, Phòng Thống Kê huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; UBND xã Côn Minh, các hộ
gia đình dân tộc
nghiên thực hiện .
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua!
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí
cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận
được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè,
đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Hoàng Thị Hƣơng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Chƣơng 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 17
3.1. Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1. Vị trí địa lý 17
3.1.2. Địa hình, địa mạo 18
3.1.3. Khí hậu 18
3.1.4. Thuỷ văn 19
3.2. Dân số, dân tộc 19
3.3. Các nguồn tài nguyên 20
3.3.1. Tài nguyên đất 20
3.3.2. Tài nguyên nước 21
3.3.3. Tài nguyên rừng 21
3.3.4. Tài nguyên nhân văn 22
3.3.5. Thực trạng môi trường 22
3.4. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 23
3.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 24
3.5.1. Giao thông 24
3.5.2. Thuỷ lợi 24
3.5.3. Cơ sở Giáo dục - đào tạo 24
3.5.4. Cơ sở hạ tầng khác 24
3.6. Đánh giá chung những điều kiện thuận lợi và khó khăn 25
3.6.1. Thuận lợi 25
3.6.2. Khó khăn 25
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1. Hiện trạng tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu 27
4.1.1. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 27
4.1.2. Đặc điểm thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 28
4.1.3. Tài nguyên động vật 36
4.2. Vai trò của các thảm thực vật 38
4.2.1. Bảo tồn tính đa dạng sinh học 38
4.2.2. Bảo vệ môi trường đất và nguồn nước 38

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
Từ viết tắt

1
BQLRĐD
Ban quản lý rừng đặc dụng
2
BQLRPH
Ban quản lý rừng phòng hộ
3
HST
Hệ sinh thái
4
KVNC
Khu vực nghiên cứu
5
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
6
TTV
Thảm thực vật
7
UBND
Ủy ban nhân dân

Bảng 4.26. Một số mô hình sản xuất có thể áp dụng tại KVNC 74

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia. Rừng không những là tài
nguyên có khả năng tự tái tạo và phục hồi mà rừng còn có chức năng sinh thái vô
cùng quan trọng. Rừng là thành phần quan trọng của sinh quyển, là nguồn vật chất và
tinh thần cơ bản thoả mãn nhu cầu của con người. Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều có liên quan đến rừng. Trên
thực tế, giá trị của rừng không chỉ là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ
nhiều chức năng sinh thái quan trọng, tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, hạn
chế tác hại của thiên nhiên lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đất…
Hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên của con người ngày càng gia tăng, dẫn
đến nhiều mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển. Để
giải quyết được mâu thuẫn này, song vẫn thoả mãn nhu cầu của con người một cách
bền vững cần phải sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả, đặc biệt là tài
nguyên rừng.
Việt Nam có khoảng 12.873.850 ha đất rừng, bao gồm rừng tự nhiên là
10.410.141 ha, rừng trồng là 2.463.709 ha. Hệ thực vật, động vật rừng còn đa dạng
và phong phú về chủng loại. Tuy nhiên, hiện nay rừng Việt Nam đã và đang bị thu
hẹp nhanh chóng do quá trình khai thác quá mức tài nguyên rừng cùng với phong tục
tập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc như: du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy và
sự phát triển của ngành chăn nuôi đại gia súc đã làm cho diện tích rừng nước ta ngày
càng bị thu hẹp. Theo số liệu thống kê năm 1943 độ che phủ rừng ở nước ta là 43%,
đến năm 1993 chỉ còn 26%. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích
các cộng đồng dân cư nhận đất, nhận rừng trồng, bảo vệ, khoanh nuôi và ban hành
Luật bảo vệ và phát triển rừng, cùng nhiều văn bản nhằm hạn chế tình trạng mất rừng,
đến năm 2001 độ che phủ của rừng tuy đã được nâng lên từ 33,2%, năm năm 2010 là

4. Đóng góp của đề tài
- Đưa ra những dẫn liệu về tác động của con người đến tính bền vững của
thảm thực vật rừng.
- Đưa ra những chứng cứ định lượng có hệ thống chứng minh mối quan hệ
giữa hoạt động sinh kế của con người với tính bền vững của thảm thực vật rừng. Đề
xuất những giải pháp phát triển bền vững tài nguyên rừng tại KVNC.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học
trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo J.Schmithusen (1959) thì
thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó.
Thái Văn Trừng (1978) [54] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên
mặt đất như một tấm thảm xanh. Trần Đình Lý (1998) [34] cho rằng thảm thực vật là
toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên
toàn bộ bề mặt trái đất. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng
cụ thể nào, nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm
thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.1.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G. Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã
phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới
và núi cao.
J. Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt
quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng
mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng
mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [38].

mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.
Thái Văn Trừng (1978) [54] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín
tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những
kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật. Năm 1975, trên cơ sở
các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế
lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo
quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam
phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [53].
Phan Kế Lộc (1985) [30] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã
xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau. Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996)
cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông.
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [28] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình
thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan hệ
giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm
nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm
nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng
thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu
rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới
trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á
nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt
đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao.
Thái Văn Trừng (2000) [55] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt
Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại
mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm
tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ)
với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ). Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên
gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).

động của con người trong xã hội đã hòa nhập chung vào chu trình sinh, địa, hóa và
không làm thay đổi dòng năng lượng trong sinh quyển [47].
Đầu thế kỷ XVIII nền khoa học kĩ thuật đã có những chuyển biến cho phép
nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nền công nghiệp và nông nghiệp đòi hỏi những
nguồn năng lượng lớn đã thúc đẩy nền công nghiệp khai thác mỏ ảnh hưởng đến các
địa tầng, rừng và các tài nguyên sinh học khác. Sự phát triển của nền công nghiệp
cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đã làm thu hẹp nhanh chóng đất nông
nghiệp ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường [47].
Sự phát triển tiến hóa của loài người đã vượt qua xã hội hoang sơ để bước vào
nền văn minh nông nghiệp – nền văn minh gốc tự nhiên rồi đến nền văn minh công
nghiệp và ngày nay đang bước vào nền văn minh kinh tế tri thức [41].
Con người đã tiến rất xa so với thời tiền sử. Thế nhưng cùng với sự phát triển
và tiến hóa của mình, con người đã tác động vào thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ và
sâu rộng, làm biến đổi thiên nhiên, làm cho nguồn tài nguyên bị suy kiệt, môi trường
sống bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Lịch sử trái đất sau thời kỳ Băng Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

đến nay chưa bao giờ gặp phải hiểm họa sinh thái to lớn như hiện nay [35]. Vì hiểm
họa khôn lường về môi trường sinh thái mà Hội nghị Thượng đỉnh các Quốc gia năm
1992 tại Brasil đã kêu gọi loài người phải cứu lấy Trái đất. Một trong hai hiểm họa
toàn cầu hiện nay mà Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã kết luận tại cuộc họp cuối
tháng 7 năm 2007 là sự nóng lên của Trái đất – nguy cơ phá hủy môi trường sống của
loài người. Chính sự phát triển kinh tế của con người trong quá khứ là nguyên nhân
chủ yếu của hiểm họa sinh thái hiện nay [20]. Đó chính là do con người không tôn
trọng quy luật tự nhiên – con người và tự nhiên là một thể thống nhất biện chứng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau luôn luôn tác động qua lại, mà trong đó con người
không thể tách rời khỏi thiên nhiên. Cần phải tôn trọng quy luật cơ bản đó đã được
nhiều nhà khoa học nhắc nhở từ thời xa xưa. Epietite một triết gia thế kỷ thứ I (sau
công nguyên) đã chỉ ra rằng: “Cái tốt nhất là cái phù hợp với tự nhiên, sống theo tự
nhiên là sống theo lý trí…” theo con đường đó con người sẽ được sống sung sướng

giới tự nhiên, trong những năm 70 của thế kỉ XX, đã hình thành một lĩnh vực nghiên
cứu mới là sinh thái nhân văn. Theo A.S.Boughey (1975), đó là khoa học nghiên cứu
về phát triển xã hội và quần thể người trong mối tác động qua lại với nhau và với
toàn bộ môi trường sống của chúng. Nói cách khác, sinh thái nhân văn là những
nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên mà con người đang sống
[59]. Trong thời gian gần đây cũng xuất hiện một số khái niệm như: Kinh tế sinh thái,
văn minh sinh thái đều nói lên mối quan hệ biện chứng nêu trên. Tuy nhiên khái niệm
văn minh sinh thái để chỉ nấc thang cao hơn trong mối quan hệ hài hòa giữa con
người và giới tự nhiên ở xã hội văn minh cao “văn minh trí tuệ”.
1.3. Nghiên cứu về diễn thế thảm thực vật
1.3.1. Trên thế giới
Khái niệm diễn thế (Succession) đã có từ thế kỷ thứ XIX. Năm 1860, Henry
David Thoreau đã công bố bài báo về “diễn thế cây rừng”, trong đó ông mô tả diễn
thế của rừng Oak – Pine [60].
Năm 1899, H. C. Cowles., ở trường đại học Chicago (Mỹ) đã phát triển khái
niệm diễn thế bằng những nghiên cứu cơ bản về diễn thế thảm thực vật trên những
diện tích đất đã bị rút nước ở hồ Michigan [60].
Khái niệm diễn thế tiếp tục được phát triển nhờ những nghiên cứu của Fredric
Clements. Năm 1916, Clements đã viết về diễn thế của những hồ và bãi lầy được bồi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

tụ ở Ai Len. Theo ông, diễn thế là sự phát triển của thảm thực vật qua các giai đoạn
tiến lên quần xã đỉnh cực [59].
Năm 1952, P. W. Richards, đã nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở Châu Á,
Châu Phi, Châu Mỹ. Ông đã mô tả quá trình diễn thế nguyên sinh, diễn thế thứ sinh ở
trên cạn và ở dưới nước [64].
Năm 1968, F. A. Bazzaz., nghiên cứu quá trình diễn thế phục hồi thảm thực
vật trên đất sau trồng trọt bị bỏ hoang ở vùng núi Shawnee, Illions (Mỹ) [57].
Năm 1983, E. D. Hibbs, đã nghiên cứu và đưa ra số liệu về sự thay đổi thành
phần, cấu trúc, tính đa dạng của các quần xã thực vật trong chuỗi diễn thế phục hồi

Phan Nguyên Hồng (1992) đã nghiên cứu về sinh thái rừng ngập mặn Việt
Nam. Ông mô tả các hệ sinh thái rừng ngập mặn và các loại diễn thế sinh thái rừng
ngập mặn ven biển nước ta. Theo ông, mỗi giai đoạn của quá trình diễn thế đều gắn
với sự thay đổi về môi trường, về địa mạo, địa chất và thổ nhưỡng. Ở các quần xã
thực vật nội địa, trong điều kiện môi trường khác nhau, diễn thế xảy ra theo hai
hướng: Tiến hóa và thoái hóa. Còn đối với quần xã thực vật ngập mặn thì nhiều khi
hai quá trình này xảy ra trên cùng một vị trí và nối tiếp nhau [23].
Năm 1994, Lê Trần Chấn, Huỳnh Nhung khi nghiên cứu về diễn thế thứ sinh ở
vùng Lương Sơn (Hòa Bình) đã mô tả sự thay đổi của thành phần thực vật, và cấu
trúc (phổ dạng sống) của các quần xã rừng thứ sinh [6].
Năm 2004, Lê Ngọc Công nghiên cứu về quá trình phục hồi rừng bằng khoanh
nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, đã có nhận xét: Quá trình diễn thế
phục hồi rừng diễn ra chậm chạp trên đất rừng bị thoái hoá nặng và nguồn giống ít
do phải trải qua giai đoạn trảng cỏ cao. Trong giai đoạn đầu của diễn thế phục hồi
rừng bằng khoanh nuôi, số lượng loài cây và mật độ cây tái sinh giảm từ chân đồi lên
sườn đồi tới đỉnh đồi [13].
Ma Thị Ngọc Mai (2007), khi nghiên cứu về diễn thế đi lên của thảm thực vật ở
trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc đã kết luận: Quá trình diễn thế đi lên của
thảm thực vật ở vùng nghiên cứu diễn ra qua 4 giai đoạn: Thảm cỏ - thảm cây bụi - rừng
thứ sinh - rừng thành thục. Quá trình diễn thế tự nhiên ở khu vực nghiên cứu diễn ra
chậm, nguyên nhân chủ yếu do đất rừng đã bị thoái hoá và thiếu nguồn gieo giống. Đây
chính là hậu quả của các hoạt động khai thác gỗ củi quá mức diễn ra trước đây [37].
1.4. Xu hƣớng nghiên cứu về tác động của con ngƣời đến thảm thực vật, hệ sinh
thái rừng
Như các phần trên đã trình bày thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến môi trường
sinh thái đã và đang bị hủy hoại nghiêm trọng là do yếu tố con người. Tuy nhiên, hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

nay, các công trình nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng chủ yếu tập trung
nghiên cứu cấu trúc, tái sinh, diễn thế và phục hồi rừng làm cơ sở cho công tác bảo


Ở Thái lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%,
nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26%. Hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá. Năm
1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện
tích rừng còn lại. Điều này dẫn tới xung đột giữa các CĐĐP sống trong vùng đệm.
Một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện
tại Phu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông-Bắc Thái Lan. Kết
quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham
gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển CĐĐP bằng các
hoạt động làm tăng thu nhập của họ [56].
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ
thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự
tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên rừng (TNR). Tuy nhiên
chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR
và nguyên nhân cụ thể dẫn tới tác động đó.
1.4.2. Ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao
hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn – phát triển. Đó là làm sao
dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã
hội các CĐĐP. Có thể nêu ra một số nghiên cứu dưới đây:
Trần Ngọc Lân (1999) đã tiến hành một nghiên cứu tại vùng đệm KBTTN Pù
Mát. Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống nông
hộ tại vùng đệm Pù Mát. Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát
có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác
nương rẫy chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ. Hiện tại, các
nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các hộ có sự hiểu biết
và có vốn đầu tư [27].
Năm 2001, Đỗ Anh Tuấn thực hiện một nghiên cứu điểm cũng tại KBTTN Pù
Mát cho rằng: Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp
pháp. Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ

tác giả quan tâm, tuy nhiên vấn đề tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật
rừng tại khu vực nghiên cứu còn hạn chế. Mặt khác để giúp cộng đồng dân tộc miền
núi phát triển kinh tế bền vững, nâng cao đời sống nhất là những hộ nằm trong khu
vực rừng bảo tồn, vườn quốc gia là vấn đề cần quan tâm, nghiên cứu sâu hơn nữa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Thảm thực vật ở xã Côn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật ở xã côn Minh
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật.
- Đưa ra một số biện pháp phát triển bền vững thảm thực vật khu vực nghiên cứu.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Điều tra thực địa được tiến hành từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2015, cụ thể:
- Tiến hành 03 đợt điều tra phỏng vấn : đợt 1: tháng 10/2014; đợt 2: tháng
12/2014; đợt 3: tháng 3/2015.
2.4. Phƣơng pháp
2.4.1. Phương pháp
- Tiếp cận các phương pháp sinh thái nhân văn đối với việc nghiên cứu mối
quan hệ giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội trong việc khai thác và sử dụng bền vững thảm
thực vật rừng.
- Phát triển sự tham gia của cộng đồng dân tộc theo phương thức xã hội hoá
trong công tác quản lý, khai thác và sử dụng thảm thực vật nhằm cải thiện và nâng
cao đời sống của đồng bào dân tộc. Tuy nhiên vẫn đảm bảo tính đa dạng và bền vững
của thảm thực vật
- Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành tại xã Côn Minh, Ban Quản lý Khu bảo

đối với trạng thái cây cỏ. ODB được bố trí ở các góc và dọc theo 2 đường chéo
của OTC, sao cho tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất 1/3 diện tích OTC. Trong
OTC và ODB tiến hành thu thập mẫu, cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra,
ngoài ra còn tiến hành đo chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính ngang ngực (D1,3),
số lượng cây gỗ theo loài, cây tái sinh và đánh giá phẩm chất cây tái sinh…
b) Phương pháp thu thập số liệu
- Đo đường kính ngang ngực (Cách mặt đất 1,3m - D1,3, cm) bằng thướ
kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính
trị số bình quân
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn, m), đối với cây có chiều cao dưới 4m đo bằng
sào có chia vạch, độ chính xác đến dm. Đối với cây cao trên 4m, đo bằng thước
Blumeleiss theo nguyên tắc lượng giác. Hvn của cây rừng được xác định từ gốc cây
đến đỉnh sinh trưởng của cây.
- Điều tra cây tái sinh: Trong OTC, lập 5 ODB có diện tích 25m2 phân bố đều
trên OTC. Thố ập tiêu bản để giám định, đo
chiều cao cây tái sinh bằng thước sào, đánh giá chất lượng cây tái sinh:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

- Nhóm cây có triển vọng: Là những cây có chiều cao trên 1,5m, có sức sống
tốt, có khả năng cạnh tranh được với tầng cây bụi và thảm tươi, thân thẳng tán đều;
- Cây đang bị gia súc xâm hại: Là những cây bị gia súc ăn hoặc dẫm đạp, biểu
hiện là những cây bị dập nát, gẫy cành, mất các ngọn non.
- Xác định độ tàn che bằng gương cầu.
c) Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra đối với các hộ gia đình ở 5 thôn, phiếu điều tra đối với
học sinh trường Dân tộc nội trú của Huyện Na Rì và phương pháp phỏng vấn trong
cộng đồng dân cư, mỗi thôn tiến hành làm việc với một nhóm 10 người dân đại diện
cho các hộ dân người dân tộc có hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp. Tiến
hành thảo luận, phân tích khó khăn thuận lợi, đề xuất giải pháp quản lý phát triển bền
vững thảm thực vật rừng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status