nghiên cứu về tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống, dược liệu đóng một vai trò rất quan trọng nhằm ngăn
ngừa bệnh tật và bảo tồn sức khỏe. Ngày nay, dược liệu làm từ thực vật ngày
càng được ưa chuộng bởi những ưu điểm: vừa đáp ứng được nhu cầu người
bệnh, có tác dụng chữa bệnh tốt lại rẻ tiền, việc sử dụng tương đối dễ dàng và
đặc biệt là ít gây tác dụng phụ cho người bệnh. Những tính năng ưu việt trên
cũng là lý do để chúng ta cần coi trọng nguồn dược liệu quý giá của thiên
nhiên và coi đó như một loại cây công nghiệp cao cấp.
Thế kỉ 21 là thế kỉ sinh học và công nghệ sinh học. Dược liệu là tài
nguyên di truyền - tài nguyên tái tạo. Do vậy, việc gìn giữ và phát huy tài
nguyên di truyền trở thành yêu cầu cấp thiết. Dùng thế mạnh dược liệu đẩy
mạnh công nghiệp dược, đưa ngành công nghiệp này trở thành ngành kinh tế
kỹ thuật mũi nhọn đất nước ta sẽ góp phần quan trọng đưa kinh tế - xã hội
phát triển, tạo nên hình ảnh Việt Nam - một cường quốc về dược liệu.
Xu hướng hiện nay của nền y dược học Việt Nam là kết hợp y dược học
hiện đại và y dược học cổ truyền. Do đó, cây dược liệu Việt Nam đang được
quan tâm chú ý phục vụ cho việc phòng, chữa bệnh. Tiềm năng của thảm thực
vật nước ta rất lớn. Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại ở nước ta trong
những năm gần đây là nạn phá rừng, làm rẫy, khai thác gỗ quý vẫn liên tiếp
xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng, lâm tặc ngang nhiên lộng hành, quấy rối Nếu không có biện
pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới, nguồn tài nguyên rừng nói
chung và nguồn dược liệu tự nhiên nói riêng sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn.
Các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận với điều kiện khí hậu và
địa hình đa dạng, đặc thù, là nơi có tiềm năng phát triển nguồn dược liệu
phong phú. Việc đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu có ý nghĩa quan
1
trọng trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, cải tạo môi trường của
vùng nói riêng, của Việt Nam nói chung.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu về tình hình sản xuất, chế biến và

được tìm hiểu sâu sắc hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây
dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiều về tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây dược liệu tại
các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất, đổi mới công
nghệ chế biến và đẩy mạnh khâu tiêu thụ cây dược liệu tại các huyện ngoại
hthành Hà Nội và vùng phụ cận.
5. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài không nghiên cứu sâu về các loại cây dược liệu mà chỉ
hướng vào việc tìm hiều tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây dược liệu.
- Địa điểm nghiên cứu: Các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận,
trong đó chú trọng vào các vùng dược liệu điển hình (Ba Vì, Nghĩa Trai,
Khoái Châu - Hưng Yên, Ninh Hiệp, Mê Linh, Tam Đảo,….)
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012.
6. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
GHIHF1 J
- Về tình hình sản xuất cây dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà Nội
và vùng phụ cận: Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư, xã hội,
thực trạng sản xuất và tiềm năng phát triển cây dược liệu.
- Về tình hình chế biến cây dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà Nội
và vùng phụ cận: Nghiên cứu thực trạng chế biến, đề xuất các giải pháp đổi
mới công nghệ chế biến.
3
- Về tình hình tiêu thụ cây dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà Nội và
vùng phụ cận: Nghiên cứu thị trường tiêu thụ cây dược liệu, đề xuất các giải
pháp mở rộng thị trường, tạo đầu ra cho cây dược liệu.
GHKHL<,-, J

Tỉnh Vĩnh Phúc. có độ cao trung bình khoảng 800m, lượng mưa trung bình
năm là 2630,9 mm, nhiệt độ trung bình năm 18 độ C, quanh năm mát là điều
kiện rất thuận lợi để phát triển dược liệu. Khu vực đồi núi ở phía bắc và phía
Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ
cao từ 20m đến hơn 400m, đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m. Ở đây có
nhiều thuận lợi để phát triển các vườn ươm, trồng và nhân rộng các loại
giống cây thảo dược. Khu vực này có nhiều loại thảo dược quý.
Về thổ nhưỡng, đất phù sa đóng vị trí quan trọng tại khu vực. Đây là một
hỗn hợp cát trộn với limông, có nhiều nitơ, kali, mangiê do đó, đất ở đâu
cũng xốp, dễ cày cấy và không thẩm thấu nên dễ dàng biến thành đồng ruộng
được tưới nước. Tính chất mầu mỡ và đa dạng của đất rất phù hợp với nhiều
5
loại cây trồng, nhất là lúa và các cây hoa màu. Các huyện vùng rìa đồng bằng
sông Hồng có 2 kiểu là đồng bằng thềm phù sa cổ xen đồi sót và đồng bằng
thềm phù sa cổ. Kiểu thứ nhất phổ biến ở rìa phía Bắc và Tây Bắc. Địa hình
phần lớn là gò đồi và bậc thềm cao ráo, mạng lưới sông suối thưa. Cư dân ở
đây chọn đồng ruộng ở địa thế cao. Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp trung
bình của vùng chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên, trong đó 70% đất có độ phì
từ trung bình trở lên. Ngoài số đất đai phục vụ nông nghiệp và các mục đích
khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn khá lớn.
Mạng lưới sông ngòi đồng bằng khá dày đặc, bao gồm hạ lưu và chi lưu
của hai sông lớn đổ ra biển là sông Hồng và sông Thái Bình, các sông nhỏ
chảy trong các ô nội địa và rất nhiều kênh đào tưới tiêu lớn nhỏ. Sông Hồng
góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất của
khu vực này. Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu
tấn/năm. Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở
rộng vùng châu thổ.
Các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận đều có chung kiểu khí
hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5
- 23,50C. Khí hậu của vùng độc đáo khác hẳn với tất cả các đồng bằng khác ở

vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô
thị khá dày đặc. Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời
và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú
của con người. Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất
thấp (892m
2
). Trên cái nền chung ấy, chỉ số này ở Ðồng bằng sông Hồng còn
thấp hơn nhiều do bị sức ép quá nặng nề của dân số. Ở đây, bình quân mỗi
đầu người chỉ đạt khoảng ½ con số trung bình của cả nước. Đời sống người
dân ở Đồng bằng sông Hồng cũng còn nhiều khó khăn do kinh tế dịch chuyển
chậm, dân số quá đông. Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm
canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Đồng bằng sông Hồng là vùng có kết cấu hạ tầng nông thôn hoàn thiện
nhất trong cả nước. Với chiều dài tổng cộng hơn 3000km, hệ thống đê điều
được xây dựng và bảo vệ từ đời này qua đời khác. Cơ sở vật chất của vùng
cũng ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là mạng lưới đường giao thông. Đồng
bằng sông Hồng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng suất lúa rất cao.
7
Ngoài lùa, hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng nói chung, Hà Nội và
vùng phụ cận nói riêng đều phát triển một số cây dược liệu đem lại hiệu quả
kinh tế lớn.
Người dân các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận sinh sống
chủ yếu bằng nông nghiệp, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đó là vốn
rất quý để đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên do nông nghiệp lúa nước có tính
mùa vụ nên đòi hỏi lao động nặng nhọc và tập trung. Duy trì mật độ dân số
cao lại không cho phép phát triển ngành chăn nuôi như ở các nước ôn đới,
thu nhập bình quân đầu người thấp. Tính thời vụ khắt khe của hoạt động
trồng lúa làm xuất hiện hiện tượng dư thừa lao động vào lúc nông nhàn và
thiếu nhân lực vào lúc thời vụ (cày cấy và gặt hái) luôn luôn diễn ra. Người
nông dân luôn phải phát triển các nghề thủ công và các nghề phi nông

phân hóa thu nhập và đời sống trong nội bộ dân cư. Trong bối cảnh đó, cư
dân trong vùng đã cố gắng tìm tòi để tạo ra những chuyển dịch trong cơ cấu
kinh tế tại nông thôn bằng cách tăng vụ, thay đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu
mùa vụ và cơ cấu cây trồng. Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch là giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và thuỷ sản,
riêng trồng trọt thì giảm tỉ trọng lương thực, tăng tỉ trọng cây công nghiệp,
cây thực phẩm và cây dược liệu.
Nhờ kinh tế phát triển mà hoạt động vận tải tại đồng bằng sông Hồng
trở nên sôi động. Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng là hai đầu mối giao
thông vận tải quan trọng. Đồng bằng sông Hồng có hai trung tâm kinh tế lớn
là Hà Nội và Hải Phòng. Các thành phố lớn như Hà Nội - Hải Phòng - Hạ
Long (Quảng Ninh) tạo thành tam giác kinh tế phát triển mạnh của vùng và
có sự lan toả, thu hút với các vùng, tỉnh lân cận. Đây là điều kiện để mở
rộng thị trường, phát triển khâu chế biến và tiêu thụ cây dược liệu.
Sự phát triển của nền kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mới về
việc đẩy mạnh phát triển cây dược liệu cũng góp phần quan trọng cho việc
hình thành vùng chuyên canh cây dược liệu ở khu vực, tận dụng nguồn lao
9
động dồi dào và giúp người dân có thêm thu nhập. Tuy nhiên, việc sản xuất
cây dược liệu chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
2. Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây dược liệu tại các
huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận hiện nay
Hiện nay, ngoài nguồn cung cấp cây thuốc nam chủ yếu lấy từ rừng tự
nhiên (trên núi Ba Vì và Vườn Quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Tam Đảo),
Hà Nội và vùng phụ cận đã hình thành một số vùng chuyên cạnh cây dược
liệu, cụ thể như sau:
2.1. Vùng dược liệu Ba Vì:
Ba Vì là huyện vùng bán sơn địa của Thành phố Hà Nội, có diện tích tự
nhiên trên 428 km2, gồm 30 xã và 1 thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi là
Khánh Thượng, Ba Vì, Yên Bài, Vân Hòa, Tản Lĩnh, Minh Quang và Ba

mạnh tập thể chung.
2.2. Vùng dược liệu Ninh Hiệp:
Ở xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) có thôn 8, còn gọi là thôn Ninh
Giang, là nơi có nghề trồng và chế biến cây thảo dược lâu đời. Tuy nhiên,
ngày nay thảo dược ở đây chủ yếu được thu mua từ khắp các tỉnh phía Bắc
và Trung Quốc. Dược liệu được nhập thô về, sau đó sẽ phân loại, sấy khô,
thái lát, đóng gói rồi phân bổ đi các nơi. Hiện nay, toàn thôn 8 có 254 hộ chế
biến thuốc, chiếm 60% tổng số hộ; tạo doanh thu hàng năm khoảng 200 tỷ
đồng, chiếm gần 80% tổng doanh thu toàn thôn.
Người dân Ninh Giang hiện chế biến khoảng 3.000 vị thuốc khác nhau,
mỗi hộ tập trung vào một vài sản phẩm thế mạnh. Thuốc sau khi sơ chế tại
làng được bán cho các công ty dược, các lương y…
Đầu năm 2010, Ninh Giang đã được UBND thành phố Hà Nội công
nhận là làng nghề thuốc bắc, thuốc nam truyền thống.
2.3. Vùng dược liệu Nghĩa Trai
11
Xã Nghĩa Trai thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có nghề trồng và
sơ chế dược liệu từ lâu đời. Hiện nay Nghĩa Trai còn trên 20 mẫu trồng dược
liệu, và người dân đã mạnh dạn phát triển nghề bằng cách tỏa ra các tỉnh thu
mua nguyên liệu về chế biến. Sau khi thu hoạch, dược liêu đều được sơ chế
sạch sẽ, thái nhỏ rồi phơi khô dưới nắng tự nhiên hoặc sấy trên lò cao rồi
đóng bao và mang đi tiêu thụ. Thị trường chủ yếu của Nghĩa Trai là những
đại lý dược ở các thành phố lớn, các công ty dược: Traphaco, Bảo Long và
xuất sang Trung Quốc. Ngoài ra Nghĩa Trai còn là địa chỉ tin cậy của những
phòng chẩn trị y học cổ truyền phương Đông trong và ngoài tỉnh. Nguồn
dược liệu chính của địa phương đã được trồng và khai thác từ lâu là các vị
thuốc nam có giá trị như Hoắc hương, Cúc hoa, Tía tô, Củ mỡ, Mã đề,
Hương nhu và có thời có cả Cánh hoa đào Cả thôn Nghĩa Trai tự trồng và
chế biến được trên 20 loại dược liệu. Hiện Công ty Traphaco với dự án đầu
tiên mở tại Nghĩa Trai. Người trồng dược liệu yên tâm vì có ngay nguồn tiêu

Tam Đảo còn tồn tại hơn 700 loài cây thuốc quí, trong đó có những cây
không có trong từ điển sách thuốc Việt Nam, chỉ có người lương y dân tộc
thiểu số Sán Dìu biết và lưu truyền như: cây tàu pú shong, cây Ngòi mỵ u,
Vong hoi lô, Vong ngòi cú (tiếng Sán Dìu) dùng chữa bệnh thương hàn,
xương khớp, thần kinh, đường ruột
Theo nghiên cứu của Viện dược liệu Trung ương, cây dược liệu trồng
tại Tam Đảo phát triển tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu thời tiết và có
hàm lượng vật chất khô tương đối cao, chất lượng dược liệu tốt. Vì vậy,
trồng cây dược liệu là phù hợp, vừa tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích
đất vườn đồi, vừa cung cấp nguyên liệu dược liệu, góp phần bảo tồn và phát
triển nguồn dược liệu quý hiếm, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động, phát triển thảm thực vật, chống xói mòn ở những vùng có
vườn đồi dốc, bảo vệ môi trường sinh thái khu vực nông thôn, miền núi.
Các hộ dân trồng cây dược liệu đều được Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh
Vĩnh Phúc ký hợp đồng thu mua toàn bộ.
13
Xác định cây thuốc là một trong những nhóm lâm sản ngoài gỗ quan
trọng nhất tại địa phương, mới đây, dự án “Bảo tồn và phát triển cây lâm sản
ngoài gỗ tại vườn Quốc gia Tam Đảo” hỗ trợ kinh phí nhân rộng một số
vườn thuốc. Sự kết hợp giữa bảo tồn và trồng mới các loại cây dược liệu trên
những vùng đất còn hoang hoá tại Tam Đảo không chỉ đem lại nguồn thuốc
chữa bệnh cứu người mà còn giúp cho người dân nơi đây có cuộc sống ổn
định hơn.
3. Một số nhận xét và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc
sản xuất, chế biến và tiêu thụ cây dược liệu tại các huyện ngoại thành Hà
Nội và vùng phụ cận
3.1. Nhận xét
Hiện nay, nghề trồng và chế biến dược liệu ở Hà Nội và vùng phụ cận
đang được chính quyền tại các địa phương khuyến khích phát triển và có các
biện pháp kêu gọi đầu tư. Các vùng dược liệu đã được quy hoạch thành vùng

sinh thái học có liên quan đến các loài cây thuốc, như tần số xác định, độ
phong phú và các biểu đồ về nơi cư trú có ý nghĩa quan trọng để hỗ trợ bảo vệ
quản lý cây thuốc lâu dài. Vì thông qua các quá trình này, người ta dự tính
rằng với tốc độ khai thác như hiện nay, nguồn dược liệu có thể suy kiệt trong
ba năm tới. Dự án đã khuyến khích gieo trồng các loài cây thuốc cùng với
những cây ăn quả khác, gieo trồng lại các loài đã bị đe doạ cạn kiệt cây thuốc
của vườn Quốc gia, coi đó là chiến lược tái tạo (bảo tồn). Dự án cung cấp các
dữ liệu nền cần thiết để xây dựng một vườn ươm cây thuốc, đã cùng đồng bào
địa phương xây dựng danh sách các cây thuốc ưu tiên và hình thành các
phương pháp nhân giống. Trong số bốn mươi loài quan trọng nhất được các
lương y liệt kê, có 23 loài được thu nhập và nhân giống trong vườn ươm của
dự án, 86 cây thuốc được đưa vào thử nghiệm và phát giống cho các lương y
địa phương, cho nhân viên trồng quốc gia và nhân dân để gieo trồng tại các
vườn gia đình. 200 lương y địa phương cam kết sẽ trồng các loài cây thuốc để
15
tạo thu nhập và bổ sung cho các loại cây đã bị cạn kiệt của vườn quốc gia Ba
vì, coi như một công việc thường nhật.
Dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam” tại xã Bình Dương (Vĩnh
Tường, Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môi trường toàn cầu tài
trợ, đã hoàn thành sau 2 năm.Dự án đã chọn những cây trồng trên quy mô
rộng có giá trị chữa bệnh và hiệu quả kinh tế đã được kiểm nghiệm tại địa
phương thông qua các lương y, những cây mà nhân dân đã biết đặc điểm sinh
thái và biết kỹ thuật gieo trồng, thu hái, bảo quản và chế biến. Dự án còn mời
các chuyên gia dược liệu và chuyên gia giống về chọn giống cây thuốc gieo
trồng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, chọn đất để xây dựng
vườn cây bảo tồn, làm mô hình trình diễn cho người dân áp dụng triệt để đất
vườn, tận dụng không gian canh tác dưới vườn cây ăn quả để trồng Nghệ đen,
Gừng, Địa liền vẫn cho năng xuất cao. Đã bảo tồn tập trung cho 50 loài cây
thuốc chữa bệnh thông thường và một số cây có nguy cơ biến mất khỏi địa
phương như Cối xay, Cỏ sả, Bạch hoa xà, Hoàn ngọc, Dấp cá

hộ sản xuất dược liệu vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Khâu
bảo quản dược liệu chưa đảm bảo vệ sinh, an toàn. Việc dùng diêm sinh để bảo
quản dược liệu gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân. Việc rửa các loại
dược liệu sau công đoạn hấp diêm sinh gây ô nhiễm nguồn nước.
Cách thức sản xuất dược liệu đa phần mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không thống
nhất về phương pháp, không có sự liên kết trong sản xuất. Việc khai thác dược
liệu từ các vườn quốc gia làm số lượng loài dược liệu giảm sút nghiêm trọng, một
số loài có nguy cơ tuyệt chủng (Hoa tiên, Máu người, Củ dòm, Dó đất…), nguy
cơ khan hiếm nguồn nguyên liệu cũng là điều đã được dự báo trước. việc trồng
cây dược liệu còn theo tập quán, tùy tiện, trồng hỗn tạp nhiều loại cây dưới tán
rừng. Đồng thời, việc sử dụng thuốc Nam chủ yếu theo truyền miệng, chưa qua
đào tạo nên hiệu quả sử dụng dược liệu chưa cao, bài thuốc ngày càng mai một,
năng suất dược liệu thấp, kinh tế của bà con gặp nhiều khó khăn.
3.2. Một số kiến nghị
17
Trước hết, cần thiết phải khẳng định dược liệu là chiến lược lâu dài phát
triển ngành dược nước ta hay nói một cách khác , đây là một bộ phận trọng
yếu của chiến lược ngành dược. Sau đó, những yêu cầu sau đây cần được
xúc tiến nghiêm túc:
- Hiện nay nhiều loài cây dược liệu quý đã khai thác quá nhiều, đang trở
nên cạn kiệt như: Hoàng liên, trúc tích, nhân sâm, hà thủ ô, cây khúc khắc…
Do vậy, việc nuôi trồng, bảo tồn cây thuốc quý đang là vấn đề bức xúc cần
quan tâm. Các cấp chính quyền địa phương cần có chính sách quy hoạch vùng
trồng cây thuốc nam, hỗ trợ dạy nghề, đào tạo nâng cao trình độ sản xuất và
sử dụng dược liệu cho người lao động. Điều này không chỉ giúp chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, tăng hiệu quả sản xuất mà còn giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập cho bà con, góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các
huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận.
- Cần xây dựng thương hiệu cho các làng nghề thuốc Nam trên địa bàn.
Đây là một hướng đi tốt nhằm phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đồng thời,

KẾT LUẬN
Cây dược liệu có vai trò quan trọng trong việc chữa bệnh, chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân và góp phần đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội. Các
kết quả nghiên cứu đã cho thấy dược liệu Việt Nam, hoàn toàn có thể đáp ứng
đầy đủ nhu cầu thuốc, thực phẩm chức năng cho nhân dân ta và xuất khẩu.
Các huyện ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận, với một vị trí tự nhiên đặc
biệt và hệ sinh thái phong phú và đa dạng là nơi có tiềm năng to lớn về tài
nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên dược liệu nói chung. Do đó, việc
trồng cây dược liệu đang là một hướng đi hiệu quả đối với khu vực này.
Để phát triển dược liệu và sản phẩm từ dược liệu tại các huyện ngoại
thành Hà Nội và vùng phụ cận, trong những năm tới cần đầu tư trực tiếp
nguồn lực vào việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho công tác nghiên cứu,
đào tạo và huấn luyện, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, truyền
thông và xuất bản, công nghệ, qui hoạch, xây dựng vùng trồng dược liệu; Đầu
tư cho doanh nghiệp xây dựng mô hình hợp tác bốn nhà; Đầu tư theo cách cấp
đất, cấp vốn không hoàn lại, cho vay dài hạn không lãi suất và miễn thuế,
tùy thuộc vào từng dự án cụ thể; Các hoạt động kết gắn chặt chẽ và lâu dài
với địa phương, chính quyền địa phương đóng vai trò lớn tạo điều kiện hỗ trợ
các dự án thành công.
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Đề tài khoa học
1. 2. Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ:  !!
"#$%&'&( do PGS.TS. Ngô Anh làm
Chủ nhiệm
2. Đề tài: $!)"*+,-.*/$0
112$(,-345(&67*81$
09!:;<34=>(+0do Trung tâm Khoa học
Công nghệ và Môi trường thuộc Liên minh HTX Việt Nam chủ trì
thực hiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status