MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
I.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
I.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
I.2.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Sóc Sơn 3
I.2.2 Đánh giá, phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội, chú trọng điều kiện
thổ nhưỡng 4
I.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
I.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
I.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN III: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
IV.1 Điều kiện tự nhiên 7
IV.1.1 Vị trí địa lý 7
IV.1 2 Địa hình, địa thế 7
IV.1.3 Khí hậu 7
IV.1.4 Tài nguyên nước 8
IV.1.5 Địa chất, đất đai 9
IV.1.6 Hiện trạng sử dụng đất đai 10
IV.1.7 Hiện trạng sử dụng các loại đất, loại rừng 11
IV.1.8 Đánh giá quy hoạch năm và hoạt động sản xuất lâm nghiệp đến 2005 20
IV.2 Điều kiện kinh tế xã hội 22
1
IV.2.1 Đặc điểm dân số và lao động 22
IV.2.2 Thực trạng kinh tế 22
IV.2.3Thực trạng cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội 25
PHẦN V: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 27
V.1 Kết luận 27
V.1.1 Về tự nhiên 27
- Điều kiện kinh tế: Thực trạng kinh tế chung của huyện, kinh tế vùng đồi gò.
- Điều kiện xã hội: Thực trạng cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội.
3
I.2.2 Đánh giá, phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội, chú trọng điều kiện thổ
nhưỡng
Vị trí của huyện Sóc Sơn là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du nên địa hình
phức tạp, đất đai khá đa dạng và phần lớn là đất bạc màu. Chú trọng vào điều kiện thổ
nhưỡng là căn cứ cho việc phát triển cây dược liệu ở huyện Sóc Sơn:
- Xây dựng mô hình trồng cây dược liệu trên địa bàn.
- Khuyến khích người dân tham gia cải thiện môi trường, phát triển cây dược liệu, cải thiện
đời sống.
I.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
I.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về tự nhiên: Các điều kiện về vị trí địa lý, khí hậu, địa hình địa chất là quan trọng nhất, là
căn cứ để nghiên cứu phát triển cây dược liệu sao cho phù hợp với thổ nhưỡng, đem lại hiệu
quả kinh tế.
- Về kinh tế: Đánh giá về kinh tế chung của huyện, đưa ra hướng phát triển kinh tế dựa trên
việc trồng cây dược liệu cải thiện đời sống cho người dân.
- Về xã hội: Dân cư có trình độ học vấn cao, nhìn chung nguồn nhân lực vùng đồi gò Sóc Sơn
rất dồi dào, nhân dân cần cù lao động, song còn thiếu việc làm. Nghiên cứu về xã hội để
giúp người dân có cách quản lý, bảo về môi trường, tạo điều kiện phát triển cây dược liệu
tạo thêm thu nhập.
I.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012.
4
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là chuyên đề nhằm có cái nhìn tổng quan nhất về các thông tin điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Trong đề tài này chúng tôi sử dụng
phương pháp chính là kế thừa các tài liệu, các báo cáo khoa học đã được công bố và phỏng
Trong đề tài này, chúng tôi đi sâu phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
huyện Sóc Sơn, đặc biệt là điều kiện thổ nhưỡng. Từ đó, chúng tôi đưa ra một số đánh giá,
nhận định và đề xuất phương hướng phát triển kinh tế của huyện dựa trên tài nguyên đất đai.
Trong Đề tài này, chúng tôi tập trung vào nội dung nghiên cứu về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội của huyện Sóc Sơn. Chúng tôi mong muốn rằng, sau Đề tài này, sẽ có những
nghiên cứu về kỹ thuật nông, lâm nghiệp, kinh tế. Để từ đó, có những phương hướng, giải
pháp kỹ thuật nhằm khai thác lợi thế của Huyện.
6
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
IV.1 Điều kiện tự nhiên
IV.1.1 Vị trí địa lý
Vùng đồi gò Sóc Sơn (trên địa bàn 11 xã, thị trấn) nằm ở phía Tây Bắc của huyện Sóc
Sơn, cách thủ đô Hà Nội 40km.
+ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên.
+ Phía Nam giáp các xã Tân Dân, Thanh Xuân, Phú Cường sân bay quốc tế Nội Bài.
+ Phía Đông giáp các xã Trung Giã, Bắc Phú, Xuân Giang, Đức Hòa
+ Phía Tây giáp huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc.
IV.1 2 Địa hình, địa thế
+ Địa hình vùng đồi gò Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần kéo dài về phía
Đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình từ 200m – 300m so với mặt biển. Có đỉnh
núi cao nhất là: Hàm Lợn (485m), Cánh Tay (332m), núi Đền Sóc (308m) Điểm thấp nhất
là 20m.
Nhìn chung địa hình của vùng đồi gò thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Địa
hình ở đây chia cắt tương đối mạnh, sườn dốc lưu vực ngắn. Độ dốc trung bình từ 20 – 25
o
,
có nơi dốc > 35
o
.
Địa hình đất đồi gò Sóc Sơn có thể chia làm 2 vùng:
+ Lượng mưa trung bình / năm là: 1.670mm, năm mưa ít nhất là 1.000mm, năm mưa nhiều
nhất là 2.630mm. Song lượng mưa phân phối không đều trong năm, mùa mưa tập trung vào
các tháng 7,8,9 lượng mưa chiếm từ 80 – 85% lượng mưa cả năm, mùa này thường có những
trận mưa kéo dài, có gió xoáy và bão.
+ Bão thịnh hành từ tháng 7 đến tháng 10, tháng 8 bão xảy ra nhiều nhất. Bão thường gây ra
gió mạnh và mưa lớn.
Nhìn chung khí hậu của Sóc Sơn có điều kiện lợi thế phát triển đa dạng các loại cây
trồng, vật nuôi. Hạn chế chính của khí hậu ở đây là lượng mưa lớn lại tập trung gây lũ lụt,
đất đai bị xói mòn, rửa trôi làm cho đất bị nghèo kiệt, nhất là những diện tích không có rừng,
độc dốc lớn.
IV.1.4 Tài nguyên nước
Vùng đồi gò Sóc Sơn có mạng lưới suối, kênh, mương khá dầy từ 1,2 – 1,5 km/km2.
Bao gồm: Suối Cầu chiền, suối Cầu Lai, suối Thanh Hoa, sông Lương Phú, suối Đồng
Quang, ngòi Nội Bài Chảy ra 3 sông bao quanh huyện là: sông Công (phía Bắc), sông Cầu
(phía Đông) và sông Cà Lồ (phía Nam).
Hàng năm vùng đồi gò tiếp nhận trung bình lượng nước mưa từ 50 – 60 triệu m3. Đây
là lượng nước mưa nghèo nhưng lại phân bố không đều trong năm.
Hiện nay, nguồn nước của Sóc Sơn khai thác chủ yếu từ 3 nguồn chính:
+ Nước mưa được giữ lại bằng các hồ chứa như: Đại Lải (Kênh số II), Đồng Quang, Cầu
Bãi, Hoa Sơn, Đạo Đức
8
+ Nước của các sông Công, sông Cầu, sông Cà Lồ.
+ Nước sông Hồng qua hệ thống tiếp từ Đông Anh.
Tóm lại: Vùng đồi gò Sóc Sơn là vùng nghèo nước, song do sự phân bố không đều theo
không gian và thời gian trong năm, đã làm cho Sóc Sơn trở thành vùng hạn và úng ngập
trọng điểm của Hà Nội.
Để phát triển lâu bền môi trường tự nhiên vùng đồi gò Sóc Sơn, để bảo vệ, phát triển tài
nguyên nước ở đây cần thiết phải xây dựng, nâng cấp các hồ, đập đảm bảo giữ nước phục vụ
cho sản xuất nông, lâm nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và các khu du lịch.
IV.1.5 Địa chất, đất đai
+ Độ cao < 100m, diện tích: 3.565,2 ha, chiếm 61,2% tổng diện tích
+ Độ cao từ 100 – 200 m, diện tích 1.110,8 ha, chiếm 19,1%
+ Độ cao từ 200 – 300 m, diện tích 667,7 ha, chiếm 11,4%
+ Độ cao > 300m, diện tích: 482,8 ha, chiếm 8,3%
Như vậy, Đất đồi gò của Sóc Sơn tập trung chủ yếu ở độ cao < 200 m, chiếm 80,3%.
- Diện tích phân theo cấp độ dốc
+ Độ dốc < 7
o
, diện tích 2.029,0 ha, chiếm 34,8% diện tích
+ Độ dốc 8 – 15
o
, diện tích 1.307,5 ha, chiếm 22,4%
+ Độ dốc từ 16 – 25
o
, diện tích 1.360,5 ha, chiếm 23,3%
+ Độ dốc từ 26 – 35
o
, diện tích 767,6 ha, chiếm 13,3%
+ Độ dốc > 35
o
, diện tích 361,9 ha, chiếm 6,2%.
Như vậy đất đồi gò của Sóc Sơn tập trung chủ yếu ở độ dốc < 25
o
, chiếm 80,5%.
- Diện tích phân theo độ dày tầng đất
+ Tầng đất mỏng < 50 cm, diện tích 2241,8 ha, chiếm 38,5 ha
+ Tầng đất trung bình từ 50 – 100 cm, diện tích 2779,7 ha, chiếm 47,7%
+ Tầng đất dầy > 100 cm, diện tích 805,0 ha, chiếm 13,8%
Như vậy, Đất đồi gò của Sóc Sơn có độ dày tầng đất chủ yếu từ mỏng đến trung bình
86,2%.
Tổng 6.630,0 5.774,5 855,5
Minh Trí 1.223,0 1222,6 +0,4
Bắc Sơn 1.623,0 1.084,0 +539,0
Minh Phú 845,4 801, +43,5
Nam Sơn 1.391,0 1.311,9 +79,1
Hồng Kỳ 341,6 325,2 +16,4
Phù Linh 510,1 466,9 +43,2
Hiền Ninh 215,0 206,9 +8,1
Quang Tiến 211,7 181,1 +30,6
Tiên Dược 204,2 174,0 +30,2
Tổ chức khác 65,0 +65,0
Nguyên nhân giảm do: Sai số thống kê diện tích; Quy hoạch không đúng đối tượng đất
lâm nghiệp
11
Cụ thể các xã như sau:
Xã Bắc Sơn: Diện tích sai số 539 ha, trong đó
+ Sai số trong tính toán, thống kế 432,6 ha
+ Quy hoạch vào đất bán ngập ven sông, vùng đất trũng 39,0 ha
+ Quy hoạch vào đất lúa: 62,9 ha
+ Diện tích hồ, ao: 4,5 ha
Xã Nam Sơn: Sai số 79,1 ha, trong đó:
+ Thống kê cả diện tích hồ nước vào đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 37,1 ha
+ Ruộng 1,0 ha
+ Sai số do quy hoạch và tính toán: 41,0 ha
Xã Hồng Kỳ: Sai số 16,4 ha, trong đó:
+ Quy hoạch vào vùng bán ngập ven sông: 10,7 ha
+ Ruộng: 6,9 ha
+ Diện tích ao hò 4,1 ha
+ Sai số do tính toán diện tích (-5,3 ha).
Xã Minh Trí: sai số 0,4 ha, do tính toán thống kê diện tích.
+ Rừng Thông 1.062,0
+ Rừng Bạch Đàn 269,6
+ Rừng Keo 370,3
- Rừng Hỗn Giao 1.894,1
1.2 Vườn ươm, vườn quả 764,4 13,1
2.Diện tích rừng xen kẽ 1.037,8 17,8
- Trong khu dân cư 974,2
- Trong các khu quân sự 63,6
3.Đất vườn ươm 5,5 0,1
4.Đất trống chưa có rừng 191,1 3,2
- IA,IB,ID 184,7
- IC 6,4
II.Các loại đất khác 223,0 3,8
- Đất thuộc dự án mới XD 163,9
- Đất sử dụng khác 59,1
Tổng diện tích đất đồi gò (đã quy hoạch cho lâm nghiệp 1998) đến tháng 12 năm 2005
là 5.817,8 ha, nhưng hiện đã được quy hoạch cho các dự án mới và sử dụng khác là 223,0 ha
chiếm 3,8%, bao gồm đất các dự án đã được duyệt như: sân golf, bãi rác (Các văn bản,
quyết định thu hồi đất cho các dự án, phần phụ biểu kèm theo).
Như vậy diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp còn lại là 5.594,8 ha, trong đó:
13
- Tỷ lệ che phủ của rừng chung: Tổng diện tích đất có rừng: 4360,4 ha, chiếm 75,0 diện tích
đất đồi gò, chiếm 23,4% diện tích tự nhiên các xã, vùng đồi gò, chiếm 14,2% diện tích tự
nhiên huyện Sóc Sơn và chiếm 4,7% diện tích tự nhiên của thủ đô Hà Nội.
- Tỷ lệ che phủ rừng của các xã (tỷ lệ % diện tích rừng/ diện tích tự nhiên của các xã)
+ Xã Minh Trí: 42,2%
+ Xã Bắc Sơn: 13,4%
+ Xã Tân Minh: 0,6%
+ Thị trấn Sóc Sơn: 17,1%
+ Xã Minh Phú: 29,8%
I Đất có rừng 4.360,4 95,7
1 Đất có rừng trồng 3.596,0 78,9
1.1 Rừng trồng thuần loài 1.701,9 37,3
1.2 Rừng trồng hỗn giao 1.894,1 41,1
2 Vườn rừng, vườn quả 764,4 16,8
II Đất vườn ươm 5,5 0,1
III Đất chưa có rừng 191,1 4,2
- Tổng diện tích có rừng chiếm: 95,7%, trong đó:
+ Đất có rừng trồng: 3596 ha chiếm 78,9%
+ Đất có vườn rừng, vườn quả là 764,4 ha chiếm 16,8%
- Đất chưa có rừng cần phải trồng rừng mới là 191,1 ha
d. Diện tích, trữ lượng các loại rừng
Trong tổng diện tích rừng trồng các loại: 3596,0 ha chỉ có 3181,7 ha rừng từ cấp tuổi II
trở lên có trữ lượng, còn 414,3 ha rừng các loại cấp tuổi I chưa có trữ lượng gồm:
Rừng hỗn giao: 226 ha, Thông 5,3 ha, Keo 44,2 ha và Bạch đàn: 138,5 ha (cấp tuổi I: 7,5
ha, Bạch đàn chồi: 131,0 ha).
Tổng diện tích các loại rừng trồng có trữ lượng là 3.181,7 ha, với tổng trữ lượng là
224.468,1 m
3
, trong đó
- Rừng Thông 117.490,5 m
3
, chiếm 52,4%, tập trung nhiều ở các xã Nam Sơn, Phù Linh,
Minh Phú, Tiên Dược, Minh Trí.
- Rừng Bạch Đàn: 9.047,8 m
3
, chiếm 4,0%, tập trung nhiều ở Nam Sơn, Bắc Sơn, Tiên Dược,
Hồng Kỳ.
- Rừng Keo: 21.907,8 m
3
5 Hiền Ninh
S 86,6 65 0,3 9,7 11,6
M 8779,5 7580,5 18,0 485,0 696,0
6 Quang Tiến
S 112,6 60,8 1,2 19,7 30,9
M 11018,0 8019,0 144,0 1001,0 1854,0
7 Phù Linh
S 373,9 184,6 5,5 29,7 154,1
M 35340,5 24622,0 229,0 1243,5 9246,0
8 Thị Trấn
S 12,0
M 700,0
9 Minh Phú
S 391,1 154,1 16,5 3,0 217,5
M 25104,0 17180,0 314,0 15,0 7595,0
10 Tiên Dược
S 134,2 89,2 17,0 7,6 20,4
M 12103,0 10942,0 778,0 38,0 345,0
11 Tân Minh
S 6,5 6,5
M 455,0 455,0
e. Đặc điểm các loại rừng
- Đánh giá sinh trưởng các loại cây trồng
Trên vùng đồi gò Sóc Sơn các loại cây trồng tương đối phong phú và đa dạng, caccs
loài cây tròng chủ yếu là: các loài Thông (5 loài): P.caribaea var Caribaea Cu Ba; P.
Massoniana Tam Dao; P.khasya Ha Giang; P. Caribaca var Hondurensis Guantamala;
P.merkusii Ha Trung.
16
Các loài Bạch đàn: Eu camaldulensis (1484); Emocrek petford; Eu tereticomis (1343);
Kenerdy River; Eu exserta Dai Lai. Các loài Keo là tràm (Acacia auticuliformis), Keo tai
3
.
+ Cấp tuổi IV (Th IV) diện tích 211,0 ha, N/ha = 700 – 800 cây, D
1,3
= 18 – 20 cm, H = 12 –
13 m, M/ha = 90 m
3
.
17
+ Cấp tuổi V + VI (Th V) diện tích 794,4 ha, N/ha = 600 cây, D
1,3
= 22 cm, H = 15 – 16 m,
M/ha = 140 m
3
.
Rừng trồng Bạch đàn: Tổng diện tích là 269,6 ha, bao gồm Bạch đàn chồi và bạch đàn
trồng mới, phân bố ở hầu hết các xã. Nhìn chung cây sinh trưởng và phát triển chậm, kém
hiệu quả kinh tế, không phù hợp với điều kiện tự nhiên trong vùng, đối với diện tích bạch
đàn chồi đã qua nhiều thế hệ kinh doanh chồi cần phải cải tạo để trồng mới các loài cây khác
có hiệu quả hơn.
Các chỉ tiêu về lâm học như sau:
+ Bạch đàn chồi (BĐC II,V) diện tích 36,9 ha, có N/ha = 1600 – 1.800 chồi,, D1,3 = 6 – 8
cm, h = 7m, M/ha = 15 m3
+ Bạch đàn chồi (BĐC I) diện tích 131,0 ha, N/ha = 2.000 – 2500 cây, D1,3 =< 5 cm, h = 3
– 4 m
+ Bạch đàn cấp tuổi I (BĐ I) diện tích 7,5 ha tại Phù Linh, N/ha = 1.500 cây, D1,3 < 5 cm, H
= 3 – 4 m.
+ Bạch đàn cấp tuổi II (BĐ II) diện tích 18,8 ha, N/ha = 800 cây, D1,3= 12 cm, H = 10,
M/ha = 36,0 m
3
3
.
Rừng trồng hỗn giao
Tổng diện tích là 1.894,1 ha được trồng hết ở các xã, bao gồm các loài cây Thông +
Keo, Bạch đàn + Cây khác Nhìn chung cây sinh trưởng và phát triển tốt phù hợp với điều
kiện tự nhiên trong vùng.
Đặc điểm vườn rừng, vườn quả
Tổng diện tích vườn rừng, vườn quả là 764,4 ha, trong đó có rất nhiều các mô hình
vườn rừng, vườn quả như vải + xoài, vải + hồng, vải thuần loại, vải + chè, chè xen Vài, vải +
Hồng + cây khác Nhìn chung cây sinh trưởng và phát triển tốt phù hợp với điều kiện tự
nhiên trong vùng và cho hiệu quả kinh tế cao.
f. Đánh giá diễn biến sử dụng đất đồi gò
Bảng 5: Diễn biến rừng năm 2005 với năm 1998
Đơn vị: ha
TT Hạng mục Năm 1998 Năm 2005 Tăng (+)
Giảm (-)
I Đất có rừng 4.094,5 4.360,4 + 265,9
1 Rừng trồng các loại 3.357,1 3.596,0 + 20,9
1.1 Rừng trồng thuần loài 2.196,0 1.701,9 - 494,1
- Thông 1.093,1 1.062,0 - 31,1
- Bạch đàn 811,6 269,6 - 542,0
- Keo 291,3 370,3 + 79,0
1.2 Rừng trồng hỗn giao 1.379,1 1.894,1 + 515,0
2 Vườn rừng, vườn quả 519,4 764,4 + 245,0
3 Diện tích rừng xen kẽ 1.037,8 + 1.037,8
- Trong các khu dân cư 974,2 + 974,2
- Quân đội 63,6 + 63,6
II Đất vườn ươm 5,5 + 5,5
19
- Diện tích đất có rừng tăng 265,9 ha (năm 1998 là 4094,5 ha, năm 2005 là 4.360,4 ha). Diện
Nguyên nhân của những tồn tại trên do:
- Nhận thức về công tác điều tra cơ bản về quỹ đất, quỹ rừng và quy hoạch rừng của các cấp
các ngành, các địa phương chưa được quan tâm (quy hoạch chủ yếu để tham khảo, báo cáo
số liệu ) Đầu tư cho việc điểu tra cơ bản, lập quy hoạch còn chưa thỏa đáng.
- Công tác kiểm tra giám sát, thẩm định, quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức.
b. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đến năm 2005
- Hiện trạng tổ chức quản lý bảo vệ rừng
Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng huyện Sóc Sơn được thành lạo theo quyết định số
1793/QĐ-UB ngỳ 29 tháng 4 năm 1999, của UBND thành phố Hà Nội. Hiện nay có 5 cán bộ
với nhiệm vụ quản lý – tổ chỉ đạo, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn nhận đất,
nhận rừng thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ mà dự án đã đề ra theo quyết định đã được phê
duyệt.
Trên địa bàn tham gia dự án gồm:
+ Lâm trường Sóc Sơn: tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp 2435 ha (gồm rừng phòng hộ
+ đặc dụng), lâm trường có tổng số cán bộ công nhân viên là 101 người. Trong đó cán bộ
quản lý, văn phòng tổng hợp, khuyến lâm 12 người; tổ cơ động quản lý bảo vệ phòng cháy
10 người. Trên địa bàn các xã được chia 5 tiểu khu với tổng số cán bộ CNV 79 người (Minh
phú 42 người, Nam Sơn 8, Hồng Ký 9, Đền Gióng 9, Sân bay 11).
+ Các xã trong vùng đồi gò: Các xã đều có cán bộ phụ trách về lâm nghiệp, tổ bảo vệ rừng
và các hộ có tham gia nhận đất nhận rừng.
+ Lực lượng kiểm lâm: Trên địa bàn các xã đều có cán bộ kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm
vụ theo dõi diễn biến rừng và quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy rừng và ngăn chặn các hành
vi trái phép làm ảnh hưởng đến rừng.
c. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Tổng đầu tư cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng từ năm 1998 – 2005 là 14,84 tỷ
đồng theo các nhiệm vụ như sau:
Bảng 6: Thống kê kết quả hoạt động lâm nghiệp (1999- 2005)
Hạng mục Tổng thực hiện
Tổng diện tích (ha) Tổng đầu tư (1.000 đ)
Tổng cộng 14.843.266,4
do đó thời gian dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm ½ thời gian trong năm. Do đó tình
trạng lao động thiếu việc làm khoảng 30 – 35%, lực lượng lao động này phải vào thành phố
để tìm kiếm việc làm.
IV.2.2 Thực trạng kinh tế
IV.2.2.1Thực trạng kinh tế chung huyện Sóc Sơn
Kinh tế chung của huyện phát triển ổn định và liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, cơ
cấu kinh tế có sự chuyển dịch cơ bản. Từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ năm 2000
(64% - 22,4% - 11,6%) sang công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp (41,4% - 33,5% - 25,1%)
kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và xã hội được tăng cường đầu tư, đời sống vật chất tinh
thần của nhân dân được cải thiện.
22
- Ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản:
Tiếp tục tăng theo hướng sản xuất hàng hóa, giá trị năm 2005 đạt 115,17% so với năm
2000, tốc độ tăng bình quân 2,9%/năm. Giá trị sản xuất bình quân/ha canh tác đạt 36,5 triệu
đồng, cơ cấu ngành nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng chăn nuôi, thủy
sản, cây công nghiệp thực phẩm, giảm dần cây lương thực. Về lâm nghiệp công tác trồng
rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng được đảm bảo tốt, kinh tế trang trại (vườn rừng, vườn quả)
được phát triển bước đầu đã mở ra hướng phát triển kinh tế trang trại gắn liền với du lịch
sinh thái.
- Ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Tổng giá trị sản phẩm năm 2005 đạt 3.615 tỷ đồng, bằng 321,7% so với năm 2000, tốc độ
tăng trưởng bình quân 26,32%, riêng công nghiệp tăng 28,46% (chiếm tỷ trọng 67,1%). Số
lượng doanh nghiệp tăng 57 doanh nghiệp công nghiệp, 42 doanh nghiệp xây dựng. Bước
đồng đã hình thành một số vùng tập trung quy mô cacsc cụm công nghiệp vừa và nhỏ với
các ngành chủ yếu như lắp ráp, cơ khí, thép và vật liệu xây dựng góp phần quan trọng giải
quyết việc làm cho số lao động dư thùa.
- Các ngành dịch vụ:
Có bước phát triển khá mạnh khẳng định nó là ngành kinh tế quan trọng. Tổng giá trị
sản xuất trên địa bàn 2005 tăng 70% so với năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân
11,2%/năm. Các ngành dịch vụ như vận tải, ngân hàng, bưu điện, bưu chính viến thông
c. Thực trạng thương mại, du lịch và dịch vụ
Các hoạt động thương mại trong vùng đồi gò phát triển đa dạng và tăng nhanh trong
những năm gần đây. Trong vùng ngoài thị trấn Sóc Sơn ra, đã hình thành nhiều trung tâm
khác trong tương lai sẽ trở thành thị tứ như Đền Sóc, Nỉ, Bắc Sơn Nó không những tiêu
thụ, lưu thông hàng hóa nông, lâm sản như các loại hoa quả, chè, gia súc, gia cầm mà còn
thu hút nhiều lao động dư thùa, tạo công ăn việc làm cho nhân dân trong vùng.
Mặt khác vùng đồi gò Sóc Sơn có tiềm năng du lịch rất lớn, nổi bật là di tích lịch sử
Đền Sóc (Đền Gióng) và rất nhiều các Đền, Đình, Chùa đã được xếp hạng. Kết hợp với hệ
thống hồ trên núi tạo nên nhiều cảnh quan đẹp sơn thủy hữu tình, hàng năm đã thu hút nhiều
du khách trong nước và quốc tế đến tham quan du lịch sinh thái và nghỉ ngơi cuối tuần
Đây là tiềm năng lớn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại – dịch vu
– du lịch.
24
IV.2.3Thực trạng cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội
- Giao thông:
Trên vùng đồi gò ngoài quốc lộ 2, quốc lộ 3, đường tỉnh lộ 35 còn có cả hệ thống giao
thông lên huyện, liên xã, liên thôn bằng nhựa và bê tông hóa rất thuận lợi cho việc giao lưu,
chuyển giao công nghệ, lưu thông hàng hóa
- Hệ thống điện lưới
100% các xã có điện lưới quốc gia, song điện mới chỉ phục vụ chủ yếu cho sinh hoạt,
chưa sử dụng nhiều vào sản xuất nông lâm nghiệp chế biến.
- Thủy lợi:
Hệ thống các hồ, đập chưa nước trong vùng như Cầu Bãi, Hoa Sơn, Hàm Lợn, Đồng
Đò, Ban Tiện, Đồng Quan, Đạc Đức, Thanh Trì, tân Yên và hệ thống các hồ nhỏ đã được
xây dựng kiên cố đảm bảo đủ nước tưới phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp và nước sinh
hoạt cho nhân dân trong vùng và khách du lịch. Đặc biệt là các hồ nước kết hợp với rừng
cây, địa hình tạo nên cảnh quan đẹp hấp dẫn khách du lịch.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng
+ Giáo dục: Trong vùng có tổng số 39 trường học, trong đó phổ thông trung học 1 trường,
trung học cơ sở 12 trường, tiểu học 13 trường, mầm non 13 trường. Tỷ lệ học sinh đến