Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
T
hế kỷ XXI – Thế kỷ của khoa học công nghệ trí tuệ. Khi xã hội ngày càng
phát triển thì yêu cầu về nguồn nhân lực càng lớn, nhưng đòi hỏi nguồn
nhân lực đó phải có một tri thức toàn diện. Chính điều này đòi hỏi con
người phải luôn có sự phấn đấu cố gắng để chiếm lĩnh những tri thức để trở
thành một con người vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng được nhu cầu của xã
hội. Để có được nguồn tri thức đó buộc con người không còn con đường
nào khác đó là phải tìm đến các bộ môn khoa học để tìm kiếm những thông
tin tri thức, trong đó Hoá Học là bộ môn khoa học mà con người cần tìm
hiểu. Hoá Học là bộ môn khoa học đóng góp nhiều trong việc cung cấp
những thông tin cho con người. Đặc biệt nó có vai trò hết sức quan trọng
trong việc hình thành nhân cách và tư duy cho con người.
Với vai trò như vậy cho nên bộ môn Hoá Học ở trường THCS đã được
quan tâm rất nhiều kể từ khi mà BGD có kế hoạch thay đổi chương trình
SGK cụ thể là:
Số tiết của lớp 8 được tăng lên gấp đôi so với chương trình cũ,
chương trình lớp 9 được giữ nguyên nhưng kiến thức có sự thay đổi đáng
kể. Nhìn chung cả ở 2 khối lớp 8, 9 khối lượng kiến thức tăng đặc biệt đã
chú trọng đến việc biên soạn SGK theo phương pháp đổi mới đó là thời
gian giành cho luyện tập, thực hành tăng, đồng nghĩa với việc nhằm tăng
khả năng hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em có cơ hội nhiều
hơn để rèn luyện các kỹ năng thực hành, giải bài tập.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
1
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
Như chúng ta đã biết Hoá Học giữ một vai trò hết sức quan trọng trọng
nếu ta lồng ghép được các hiện tượng xẩy ra trong thực tế và những bài tập
về giải thích hiện tượng thì sẽ làm cho bài học trở lên sinh động hơn, gây
hứng thú và sức thu hút với học sinh. Có như thế, chất lượng dạy học mới
được nâng lên và đạt hiệu quả cao. Các xu hướng xây dựng bài tập Hoá học
hiên nay là:
- Loại bỏ những bỏ bài tập có nội dung hoá học nghèo nàn nhưng lại
cần đến những thuật toán phức tạp để giải (Hệ nhiều ẩn, nhiều phương
trình, bất phương trình, phương trình bậc hai, cấp số cộng, cấp số nhân…).
- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định, rắc rối, phức tạp,
xa rời hoặc phi thực tiễn hoá học.
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm.
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Xây dựng bài tập về các hiện tượng thực tế và các bài tập về bảo vệ
môi trường.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát triển
vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ
đồ thị, sơ đồ, bài tập về lắp ráp dụng cụ thí nghiệm…
- Xây dựng những bài tập có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc,
phần tính toán đơn giản nhẹ nhàng.
- Xây dựng và tăng cường dạng bài tập thực nghiệm định lượng.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
3
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
Với các xu hướng có thể xây dựng các nội dung bài tập như trên
nhằm mục đích để tăng cường sự hoạt động của học sinh thúc đẩy tính duy
lôgíc.
Tóm lại với vai trò vị trí quan trọng của bộ môn khoa học hoá học như
vậy nó góp phần làm nên một cái tổng thể toàn diện của khoa học nói
chung giúp con người hình thành nên một thế giới quan và nhân sinh quan
đoán kết quả của thí nghiệm từ đó kích thích tinh thần học tập của học sinh
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Chính vì thế mà ta cần có sự linh hoạt khi mà điều kiện giảng dạy
không cho phép áp dụng những phương pháp tích cực một cách triệt để.
Trong đó có một phương pháp có thể áp dụng đó là xây dựng các dạng bài
tập trắc nghiệm, đây cũng là điều kiện rất tốt cho học sinh có khả năng tư
duy logic nhằm củng cố kiến thức trong quá trình học tập.
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này ở cấp học THCS là một vấn đề
khoa học không phải là mới đối với học sinh. Bởi lý do là hiện nay số
lượng đầu sách nói riêng về rèn luyện tư duy logic cho học sinh thông qua
dạng bài tập trắc nghiệm lại rất ít có chăng cũng chỉ lồng ghép với các dạng
bài tập khác mà không trình bày một cách rõ ràng chuyên biệt cho nên gây
nhiều khó khăn đối với học sinh khi nghiên cứu làm dạng bài tập này. Hơn
nữa bài tập dạng trắc nghiệm khách quan liên quan rất nhiều đến việc
phương pháp học và tư duy của học sinh. Vậy để có được một giáo trình
cho việc giảng dạy dạng bài tập này là rất quan trọng cho các giáo viên và
kể cả học sinh khi nghiên cứu vấn đề này.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
5
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
Với số tiết như hiện nay cùng với phân phối chương trình thì việc
rèn luyện kỹ năng giải bài tập trắc nghiệm là rất khó khăn vì thế mà cần
phải có một giáo trình cơ bản trình bày ngắn gọn, rễ hiểu, xúc tích nhằm
giúp giáo viên cũng như học sinh có khả năng dễ dàng thực hiện dạng bài
tập này. Chính vì thế mà việc đưa ra phương pháp trình bày cả là một vấn
đề khó khăn.
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy bộ môn Hoá học ở trường THCS
tôi thấy rằng việc học sinh học bộ môn này cũng như khi làm dạng bài tập
trắc nghiệm khách quan còn là một vấn đề khó khăn đối với các em. Phải
chăng các em tập chung cho các môn khác như Văn, Toán … vì đây là
của tôi nhằm mục đích đó là học sinh phải:
- Sử dụng có hiệu quả triệt để thời gian để giải bài tập trắc nghiệm
khách quan.
- Phát huy tính tích cực của học sinh
- Học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua giải bài tập trắc
nghiệm.
- Giáo dục tinh thần tự giác, trung thực, sáng tạo, trách nhiệm trong
công việc, có hứng thú trong bộ môn.
- Rèn luyện kỹ năng tư duy linh hoạt và nhanh nhẹn trong quá trình
giải bài tập…
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
7
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
Tóm lại để nâng cao chất lượng dạy và học ở bộ môn hoá học cần
phải đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm mới đó là lấy người học
làm trung tâm. Chính vì vậy việc đưa phương pháp giải bài tập và rèn luyện
khả năng tư duy cho học sinh là một việc làm tất yếu cần phải được triển
khai một cách đại trà. Cũng như phương pháp dạy học nói chung tại hội
thảo UNESCO ở Giơnevơ (10/5-16/5/1970) đã khẳng định “Công nghệ dạy
học là một khoa học về giáo dục, nó xác lập những nguyên tắc hợp lý của
công tác học tập và các điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình dạy
học cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để
đạt được mục đích dạy học đề ra đồng thời tiết kiệm được sức lao động của
thày và trò”. Trong việc khẳng định trên tại hội thảo đã nói lên được rằng
đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách ra bài tập là một vấn đề hết
sức quan trọng để thúc đẩy quá trình học tập được phát triển. Muốn vậy thì
không chỉ đổi mới ở một khâu nào đó mà phải đổi mới ở tất cả các khâu từ
việc thiết kế, chuẩn bị đến việc tổ chức giảng dạy và ra đề kiểm tra.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn này cho nên tôi cảm thấy rằng
việc đưa phương pháp giải bài tập đồng thời rèn luyện tư duy cho học sinh
những tổng kết, đưa ra những giả thuyết khoa học nhằm mục đích đưa ra
những lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu "Phương pháp giải
bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS" ở trường THCS. Để góp phần
thực hiện đào tạo học sinh thành những con người vừa hồng, vừa chuyên
tạo cho các em có được sự năng động, sáng tạo tiếp thu những kỹ năng
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
9
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
khoa học. Biết vận dụng tìm ra các giải pháp hợp lý cho những vấn đề khoa
học.
4- Với đề tài này nhằm đáp ứng một vấn đề mà học sinh đang băn
khoăn trong việc giải bài tập mà chưa đưa ra được cho mình phương pháp
như thế nào cho hợp lý, dễ hiểu, ngắn gọn, xúc tích và với một thời gian
nhanh nhất. Đồng thời đây cũng là một tài liệu để các đồng nghiệp tham
khảo trong quá trình giảng dạy đăc biệt là rèn luyện khả năng tư duy cho
học sinh.
5- Ngoài những vấn đề trên việc thực hiện đề tài sáng kiến còn nhằm
giúp cho học sinh rèn luyện một số các kỹ năng sau:
- Sử dụng có hiệu quả dạng bài tập trắc nghiệm
- Phát huy tính tích cực của học sinh
- Học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua giải bài tập trắc
nghiệm.
- Giáo dục tinh thần tự giác, trung thực, sáng tạo, trách nhiệm trong
công việc, có hứng thú trong bộ môn.
- Rèn luyện kỹ năng tư duy, sáng tạo…
6- Thiết thực hơn nữa tôi là một giáo viên giảng dạy trực tiếp bộ môn
hoá học ở trường THCS nên việc nghiên cứu đề tài cũng nhằm giúp tôi tích
luỹ cho mình những kiến thức, những kinh nghiệm về phương pháp giải bài
tập hoá học nói chung và "Phương pháp dạy bài tập trắc nghiệm môn hoá
học THCS" ở trường THCS nói riêng. Đồng thời cũng là dịp để tích luỹ
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
11
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
định nội dung nghiên cứu đó là: "Phương pháp dạy bài tập trắc nghiệm
môn hoá học THCS" ở trường THCS và được áp dụng ở đối tượng học sinh
lớp 8, 9 tại trường THCS Tam Đa.
II/ NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trong quá trình nghiêm cứu đề tài tôi thấy gặp một số những thuận
lợi và khó khăn :
A- Thuận lợi, khó khăn.
1/ Thuận lợi.
- Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm đi nghiên cứu các chất và
sự biến đổi của các chất.
- Hoá học có thể giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên cũng
như trong đời sống.
- Thông qua các thí nghiệm trong các bài học đặc biệt là trong các bài
tập thực hành, trắc nghiệm, nhận biết đã khích lệ tính tò mò, ham hiểu biết
của các em, từ đó làm cho các em thêm yêu và thích bộ môn học này.
- Được sự hậu thuẫn của các đồng nghiệp trong nhà trường nên phần
nào cũng là động lực cho tôi nghiên cứu đề tài. Đồng với sự tham gia nhiệt
tình của các em hoc sinh trong đối tượng tôi nghiên cứu làm nên sự thành
công của đề tài.
Đó là những thuận lợi mà trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi nhận
thấy được.
2/ Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi trên thì khi nghiên cứu đề tài để áp dụng
một cách rộng rãi thì tôi thấy còn một số những khó khăn sau:
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
12
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
1. Bài toán xung quanh phần pha trộn dung dịch.
Như chúng ta đã biết phần dung dịch đặc biệt là phần pha chế trong
chương trình hoá học 8, 9 thì có rất nhiều bài tập liên quan đến cách giải theo
phương pháp đường chéo. Có thể nói rằng phương pháp đường chéo là một
phương pháp giải tương đối nhanh và có tác dụng rất lớn giảm bớt thời gian và
đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian. Sau đây là một số ví dụ tôi xin trính bày
để minh họa.
Trước hết xin hướng dẫn sử dụng phương pháp đường cheo trong giải bài
tập pha trộn dung dịch.
Gọi m
1
,C
1
lần lượt là khối lượng và nồng độ % của dd 1
Gọi m
2
,C
2
lần lượt là khối lượng và nồng độ % của dd 2
Khi pha trộn dụng dịc 1 với dung dịch 2.
dd 1 C
1
(C
2
- C)
V
1
, D
1
, m
2
2
1
CC
CC
V
V
−
=
−
- Tương tự có thể áp dụng với việc tìm khối lượng riêng hoặc số mol.
Ví dụ 1: Trộn 60(g) dd NaOH 20% với 40(g) dd NaOH 15% thu được dd
NaOH có nồng độ phần trăm là:
A. 16% B. 18% C. 20% D. 14%
Bải giải:
- Tôi xin trình bày theo 2 cách để thấy rõ được vai trò của phương pháp
đường chéo.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
14
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
* Cách 1: Theo phương pháp đại số.
- Khối lượng của NaOH có trong 60(g) dd NaOH 20% là:
)g(
%
%.
12
100
2060
=
- Khối lượng của NaOH có trong 40(g) dd NaOH 15% là:
CC
CC
m
m
dd
dd
−
−
=⇒
−
=
−
20
15
40
60
1
2
2
1
60(20% - C) = 40(C - 15%)
C = 18%
Ví dụ 2: Cần pha bao nhiêu gam dd NaCl 20% vào 400(g) dd NaCl 15% để
được dung dịch NaCl 16%.
A. 100 B. 150 C. 200 D. 250
* Cách 1: Theo phương pháp đại số.
- Gọi a (g) (a>0) là số gam dd NaCl cần pha.
- Khối lượng NaCl có trong a(g) dd NaCl 20% là:
)g(a,
%
6020
16100
+
+
=⇒=
- Giải tìm được a = 100(g). Chọn đáp án A
* Cách 2: áp dụng theo phương pháp đường chéo.
4
1
400
=⇒
dd
m
Ta có m
dd
= 100(g). Chọn đáp án A
* So sánh 2 cách giải ta thấy
- Nếu giải theo phương pháp thông thường thì cũng cho ta kết quả. Hơn
nữa có khi học sinh còn dễ hiểu. Nhưng lại rất mất thời gian mà dạng bài tập trắc
nghiệm thì lại khắt khe về mặt thời gian. Nếu vậy thì sẽ không đáp ứng được về
thời gian.
- Nếu giải theo phương pháp đường chéo thì lại cho ta kết quả rất nhanh
không mất thời gian phù hợp với dạng bài tập trắc nghiệm. Nhưng nếu học sinh
áp dụng không tinh thì có thể tìm được một kết quả không chính xác (tức là có
khi tìm được kết quả âm).
Nhưng để đáp ứngđược về mặt thời gian thì phương pháp đường
3
cần 4,48 lít
khí CO (đktc). Khối lượng Fe thu được là:
A. 14,5 gam B. 15,5 gam C. 14,4 gam D. 16,5 gam
- Bài toán này nêu giải theo phương pháp đại số thì phải lập hệ phương
trình và giải hệ, nếu vậy thì rất dài và mất thời gian.
- Nếu áp dụng theo phương pháp bảo toàn nguyên tử thì sẽ đơn giản và
ngắn hơn rất nhiều:
Phương trình: FeO + CO
→
0
t
Fe + CO
2
(1)
Fe
2
O
3
+ 3CO
→
0
t
2Fe + 3CO
2
(2)
- Theo phương trình 1 và 2 ta thấy số nguyên tử O có trong CO bằng số
nguyê tử O có trong 2 ôxit sắt. Vì thế khối lượng của ôxi trong 2 oxit sắt được
tính như sau:
- Bài ra có số mol của CO là: 0,2(mol). Khối lượng của ôxi là: 0,2.16 = 3,2
H
2
O.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
17
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
0,05mol 0,05mol.
Đặt số mol của hỗn hợp X gồm FeO, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3
lần lượt là x, y, z ta có:
n
O
= x + 4y + 3z = 0,05 mol (1)
)mol(,
.,,
n
Fe
040
56
16050043
=
−
=
4
)
3
+ SO
2
+ 10H
2
O
y y/2
ml,.,VVËy
)mol(,
,yx
nsèTæng
SO
SO
22442210
10
2
20
2
2
2
==
==
+
=⇒
Chọn đáp án B
Ví dụ 3: Thổi từ từ V lít hỗn hợp khí ở (đktc) gồm CO và H
2
2
O
- Khối lượng khí tạo thành nặng hơn hỗn hợp khí ban đầu chính là khối lượng
của nguyên tử ôxi trong các ôxit tham gia phản ứng. Do vậy.
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
18
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
)mol(,nn
)mol(,
,
ng,m
HCO
OO
020
020
16
320
320
2
=+⇒
==⇒=
- Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
m
ôxit
= m
Chất rắn
+ 0,32
320816 ,m,
+=⇔
mol,
,
,
n
)HCO(hh
10
422
242
2
==
+
- Thực chất phản ứng khử các oxit trên là:
CO + O
→
0
t
CO
2
H
2
+ O→
0
t
H
2
O
mol,nnnVËy
3
+ 3CO
→
0
t
2Fe + 3CO
2
(2)
Fe
3
O
4
+ 4CO
→
0
t
3Fe + 4CO
2
(3)
- Bài ra số mol của khí CO là: 0,1 (mol). Khối lượng của CO là: 0,1.28 = 2,8g
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
19
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
- Theo phương trình 1, 2, 3 ta thấy tổng số mol của CO bằng tổng số mol của
CO
2
ta có số mol của CO
2
là 0,1 (mol). Khối lượng của CO
2
2
dư thu được 8 gam kết tủa. Khối lượng của sắt
thu được là:
A. 4,36 gam B. 4,63 gam C. 3,46 gam D. 3,64 gam
Giải:
Phương trình: FeO + CO
→
0
t
Fe + CO
2
(1)
Fe
2
O
3
+ 3CO
→
0
t
2Fe + 3CO
2
(2)
Fe
3
O
4
+ 4CO
→
0
- Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
m
hh chất ban đầu
+ m
CO
= m
Fe
+
2
CO
m
5,64 + 2,24 = m
Fe
+ 3,52
khối lượng sắt thu được là: m
Fe
= 4,36g
Chọn đáp án A
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
20
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
- Do thời gian không cho phép nên tôi cũng chỉ giới thiệu được một số ví
dụ điển hình để minh hoạ cho mỗi phương pháp giải bài tập với cách nhẩm
nhanh để các em học sinh tham khảo, đồng thời để các đồng nghiệp có thể lấy đó
làm ví dụ trong qúa trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm theo
những phương pháp trên.
III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trong đề tài này tôi có sử dung một số tài liệu có liên quan để nghiên
cứu cụ thể như:
Thực hiện phương pháp này tôi tiến hành áp dụng vào giảng dạy cho
những học sinh khá giỏi trước. Đặc biệt là đội tuyển học sinh giỏi trong
năm học vừa qua tôi thấy rằng khi áp dụng đề tài này cho các đối tựơng học
sinh như vậy thì phát huy rất tốt những khả năng của các em từ đó tôi thấy
chất lượng nắm bài của các em rất tốt đồng thời những kỹ năng thực hành
của các em rất thuần thục từ đó thúc đẩy được sự ham học hỏi của các em
hơn.
Ngoài những phương pháp chủ yếu trên tôi còn sử dụng một số
phương pháp khác để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài như: Phương
pháp nghiên cứu lí thuyết, Phương pháp đàm thoại, Phương pháp trao đổi
hỏi ý kiến. Tuy nhiên ở mỗi một phương pháp nó lại có những thuận lợi và
có những khó khăn nhất định trong qúa tình thu thập thông tin và các dữ
liệu để nghiên cứu đề tài.
IV/ KẾT QUẢ
- Trước khi áp dụng đề tài thì tôi thấy răng mỗi khi ra đề kiểm tra với
những câu hỏi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải nhanh để trách mất thời gian thì
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
22
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
học sinh lại rất lúng túng khi tìm được ra kết quả thì thời gian dành cho bài tự
luận cũng không còn nhiều. Chính vì thế mà các em thường thiếu hụt thời gian
mặc dù đề ra không phải là quá dài. Khi hướng dẫn các em một số phương pháp
có thể giải nhanh được các bài tập thì mỗi khi có bài tập trắc nghiệm trong bài
kiểm tra thì không còn là những nỗi lo cho các em đặc biệt là về mặt thời gian.
Đồng thời cũng là điều kiện để rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh khi giải
các bài tập hoá học.
- Có thể nói rằng việc áp dụng những phương pháp giải được nhanh các
bài tập trong hoá học là rất quan trọng đặc biệt là dạng đề thi như hiện nay thì
trắc nghiệm chiếm tới 40% đến 50% thậm trí trong bài kiểm tra 15 phút thì trắc
nghiệm có thể là 100%. Mà bài tập trắc nghiệm có nhiều bài cũng cần phải giải
sinh có thể có thể tự mình hiểu và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động.
- Rèn luyện được tính tự giác, tính độc lập nghiên cứu khoa học từ
đó hình thành cho học sinh thói quen làm việc theo khoa học.
- Giúp học sinh tiếp cận được với những phương pháp dạy học mới,
phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
- Rèn luyện cho học sinh thành thạo trong việc thực hành thí nghiệm
chủ động trong việc làm thí nghiệm để tìm kiếm kiến thức.
- Học sinh có được một phương pháp giải bài tập nhận biết một cách
chi tiết dễ hiểu xúc tích và có hệ thống bài tập để rèn luyện.
VI/ NHỮNG VẤN ĐỀ BỎ NGỎ VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
Trong một thời gian có hạn cho nên đề tài của tôi còn có nhiều phần
còn hạn chế đồng thời để thực hiện được đề tài này đòi hỏi một số yếu tố cụ
thể là.
A- Những vấn đề bỏ ngỏ
Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm môn hoá học THCS
24
Sáng kiến kinh nghiệm - Đặng Hùng Cường - Trương THCS Tam Đa
Đối với bài tập trắc nghiệm thì phải đủ ở cả hai mảng đó là hoá học
vô cơ và hoá học hữu cơ nhưng ở đây tôi mới chỉ trình bầy được những ví
dụ thuộc phần hoá học vô cơ là chủ yếu vì thế riêng phần hoá hữu cơ cũng
rất mong các đồng nghiệp cùng tôi sẽ bổ xung thêm để các em học sinh có
được một tài liệu hoàn chỉnh về dạng bài tập nhận biết giúp các em dễ dàng
học tập.
Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều phần tôi trình bày trong đề
tài còn chưa chi tiết đặc biệt là khi áp dụng những phương pháp này thì có
những chú ý gì?. Liệu khi áp dụng phương pháp đó thì có xảy ra tình trạng
sai xót hay nói cách khác là những sai lầm khi áp dụng những phương pháp
giải nhanh này không?. Việc đưa ra các bài tập mẫu còn chưa được nhiều
và đa dạng ở các loại bài tập cho nên việc tham khảo bài tập mẫu còn hạn
chế.