TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
Tiểu luận
Môn: Ngữ Nghĩa Nghữ Dụng Học
Đề tài:
ỨNG DỤNG BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA HỌC DỤNG PHÁP
VÀO VIỆC GIẢNG DẠY
PHÂN MÔN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
(BỘ MÔN NGỮ VĂN) BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
Giảng viên hướng dẫn: Ts. Bùi Mạnh Hùng
Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Thụy Ái Nhân
2. Mai Thị Duyên
3. Nguyễn Hoài Nam
4. Trần Thị Hà
5. Nguyễn Thị Vân Anh
6. Đàm Thị Hằng
7. Nguyễn Thị Linh
Lớp Ngữ văn 4A
Niên khoá 2005 - 2009
Tp Hồ Chí Minh
11 / 2008
1
DẪN NHẬP
1. Phương pháp nghiên cứu, cách thức khai thác vấn đề
Bất kì một tác phẩm văn học nào, dù lớn hay nhỏ, đều tồn tại trong một dạng thức
nhất định. Dựa vào đặc điểm của hiện tượng đời sống được miêu tả trong tác phẩm, phương
thức chiếm lĩnh thực tai của tác giả, cách thức tổ chức tác phẩm và lời văn mà người ta phân
chia ra các thể loại văn học.
Thể loại văn học vừa có tính ổn định, vừa có tính biến đổi. mỗi thể loại được sinh ra
học chính là quá trình hội thoại giữa giáo viên và học sinh) dựa trên một số quy tắc, đặc
điểm phương châm hội thoại.
3
NỘI DUNG
I. Sơ nét về bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp và
chương trình giảng dạy phân môn Đọc hiểu văn bản (bộ môn Ngữ văn)ở bậc
THCS
1.1. Sơ nét về bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp
Nội dung bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp bao gồm một số vấn đề sau:
a. Vấn đề “Hành động ngôn từ”
b. Vấn đề “Nghĩa hàm ẩn. Tiền giả định và hàm ý”
* Tiền giả định
* Hàm ý:
- Hàm ý và suy ý
- Hàm ý gồm hai loại:
+ Hàm ý quy ước
+ Hàm ý hội thoại:
. Phép thử hàm ý hội thoại (Đặc điểm hàm ý hội thoại)
. Nguyên tắc cộng tác – cơ chế sản sinh hàm ý hội thoại
* Quan hệ giữa tiền giả định và hàm ý
Từ những nội dung đã nêu trên, có thể khái quát một số đặc điểm về nội dung học tập
vấn đề Ngữ nghĩa học Dụng pháp như sau:
a. Nhằm hướng người học tới việc vận dụng kiến thức về Ngữ nghĩa học Dụng
pháp trong giao tiếp
b. Nội dung kiến thức xoáy sâu vào những vấn đề có tính thực hành cao
c. Có những hình thức bài tập vận dụng hướng người học tới thực tiễn giảng
dạy và học tập ở trường phổ thông.
Điều này đặt ra cho người học nhiệm vụ không những có thể vận dụng những kiến
thức thuộc bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp nói riêng, Ngữ nghĩa học nói chung để hiểu
thấu đáo ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp sinh động, trong các tác phẩm văn học. Hơn nữa
Những yêu cầu đặt ra cho giáo viên khi giảng dạy phân môn Đọc hiểu văn bản nói
riêng, bộ môn Ngữ văn nói chung:
- Giáo viên phải gợi ý cách thức khám phá, tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức về phân
môn Đọc hiểu văn bản nói riêng, bộ môn Ngữ văn nói chung.
- Giáo vịên hướng dẫn thực hành luyện tập để các em tự rèn kĩ năng Ngữ văn (nghe,
nói, đọc, viết, cảm thụ văn học)
- Giúp học sinh nhận ra mối liên hệ chặt chẽ giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập
làm văn trong việc học tập bộ môn Ngữ văn theo hướng tích hợp.
Như vậy, có thể thấy những yêu cầu về giảng dạy Văn bản văn học nói riêng, bộ môn
Ngữ văn nói chung ở trường THCS luôn gắn liền với những yêu cầu học tập bộ môn Ngữ
nghĩa Ngữ dụng ở trường Sư phạm, đặc biệt ở bình diện Ngữ nghiĩa học Dụng pháp. Việc
ứng dụng những kiến thức của bộ môn Ngữ nghĩa Ngữ Dụng học vào thực tiễn dạy học phổ
thông là vấn đề có tính cần kíp, thiết thực.
II. Ứng dụng bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp vào
việc giảng dạy phân môn Đọc hiểu văn bản (bộ môn Ngữ văn) ở bậc THCS
2.1. Ứng dụng trong phân tích tác phẩm văn học
Nói đến khía cạnh ứng dụng này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới mặt “kiến thức” của
bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp. Tức là vận dụng những kiến thức về Ngữ nghĩa học
Dụng pháp để giải quyết những kiến thức trong văn bản văn học.
Chẳng hạn, có thể lấy một số nét ứng dụng chính làm ví dụ như sau:
a. Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Ta biết rằng nghĩa hàm ẩn đi kèm với nghĩa tường minh, là phần thông báo ngoài
những gì được nói thẳng ra. Đó là nội dung mà phải thông qua con đường suy luận, ta mới
nắm bắt được. Khi một phát ngôn mang nghĩa hàm ẩn, ta nói, phát ngôn đó có nội dung hàm
ẩn. Không phải bất kỳ loại văn bản nào cũng có nội dung hàm ẩn (Ví dụ: Văn bản thuộc
phong cách ngôn ngữ khoa học, hành chính, …). Nội dung hàm ẩn là đặc điểm của văn bản
nghệ thuật và văn bản hội thoại.
Nghĩa hàm ẩn có thể được đến từ tiền giả định và hàm ý của phát ngôn. Nghĩa hàm ẩn
không được nói thẳng ra nên nó làm cho nội dung ý nghĩa của phát ngôn sâu sắc và độc đáo.
6
vừa nêu, đồng thời giải thích tại sao trong hội thoại có sự khập khiễng giữa người nói và
người nghe theo kiểu “ông nói gà, bà hiểu vịt”. Từ đó đặt ra yêu cầu trong giao tiếp, cần có
sự rõ ràng, tránh hàm ý không cần thiết dễ tạo nên suy ý sai lệch.
c. Vấn đề hàm ý hội thoại
Lý thuyết về hàm ý hội thoại áp dụng cho việc sử dụng ngôn ngữ nói chung, bất kể là
hội thoại hay không phải hội thoại (chứ không phải loại hàm ý chỉ tồn tại trong hội thoại).
Phạm vi mà hàm ý hội thoại có thể xuất hiện là tương đối rộng. Do đó, phạm vi ứng dụng nó
trong giảng dạy các văn bản văn học cũng tương đối lớn.
Các phương châm hội thoại và một số trường hợp bất chấp phương châm hội thoại
giúp học sinh phát hiện và lý giải tại sao lại có hàm ý trong phát ngôn. Bên cạnh đó, lý
thuyết này còn bổ trợ rất nhiều cho việc tạo lập lời nói của học sinh. Nói cách khác, nó là
nền tảng để phát triển kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của người học.
Phép thử hàm ý hội thoại (Đặc điểm hàm ý hội thoại) cho phép giáo viên (và cả học
sinh) phát hiện và chứng minh có hay không có hàm ý hội thoại của phát ngôn trong văn bản
văn học đang xét.
Trên đây là một số ví dụ về ứng dụng kiến thức Ngữ nghĩa học Dụng pháp trong phân
tích văn bản văn học. Những ứng dụng cụ thể sẽ được chúng tôi trình bày tiếp theo đây theo
cách tiếp cận thể loại.
2.1.1. Ứng dụng các bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp trong giảng dạy văn bản
văn học thể loại văn học dân gian (Ngữ văn THCS).
Các văn bản văn học thuộc thể loại văn học dân gian được giảng dạy ở các khối lớp 6
và 7. Cụ thể: thể loại tự sự dân gian được giảng dạy ở lớp 6; trữ tình dân gian, sân khấu dân
gian, tục ngữ được giảng dạy trong sách giáo khoa lớp 7.
a. Truyện:
*Thể loại Truyện cười: Đây là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong
cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội.
Tiếng cười được bật lên trong truyện cười thường liên quan đến vấn đề hàm ý và suy
ý. Một khi người nói đưa ra một phát ngôn có chứa hàm ý, căn cứ trên nguyên tắc cộng tác,
người nghe sẽ thực hiện quá trình suy ý để hiểu hàm ý trên. Khi suy ý phù hợp với hàm ý,
8
Với văn bản này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản, phân tích lời
nói trong cuộc đối thoại của hai nhân vật để tìm ra các thông tin thừa, qua đó thấy được tính
chất gây cười của truyện, và rút ra ý nghĩa của truyện.
9
Ngữ cảnh trong truyện: hai anh chàng khoe của gặp nhau. Dựa vào ngữ cảnh của câu
chuyện, giáo viên có thể vận dụng kiến thức về hàm ý hội thoại để hướng dẫn học sinh phân
tích, lí giải ẩn ý trong lời nói của từng nhân vật
Anh có lợn cưới hỏi: “Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?”
Vì anh chàng này đang trên đường tìm con lợn của mình bị xổng. Rõ ràng trong câu
hỏi này anh ta đã vi phạm phương châm về lượng - nói thừa thông tin cần thiết. Do vậy, giáo
viên cần chỉ ra cho học sinh thấy trong hoàn cảnh đó anh ta chỉ cần hỏi: “Bác có thấy con
lợn nào chạy qua đây không?”, như thế đã đầy đủ thông tin cần thiết để người nghe hiểu anh
ta muốn hỏi gì. Nhưng mục đích của anh chàng mất lợn này không chỉ dừng ở việc muốn hỏi
về con lợn mà mục đích chính của anh ta là muốn khoe con lợn cưới. Hàm ý trong câu nói
của anh ta là: anh ta muốn khoe anh ta sắp cưới vợ và con lợn mà anh ta đang tìm là con lợn
cưới.
Đến lượt anh có áo mới trả lời: “Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con
lợn nào chạy qua đây cả”. Trong câu trả lời này, anh chàng có áo mới cũng vi phạm phương
châm hội thoại, đó là phương châm về lượng. Giáo viên cần chỉ cho học sinh thấy rằng trong
hoàn cảnh này đáng lẽ ra anh ta chỉ cần trả lời “Tôi không thấy con lợn nào chạy qua đây
cả”. Rõ ràng trong câu trả lời của anh ta cũng dư thừa thông tin. Hàm ý trong câu trả lời của
anh chàng có áo mới này cũng nhằm tranh thủ khoe của.
Sau khi phân tích cuộc đối thoại và hiểu được ẩn ý trong từng lời nói của nhân vật,
học sinh sẽ nhận ra đươc yếu tố gây cười trong câu chuyện. Đồng thời các em sẽ nhận ra ý
nghĩa của truyện “Lợn cưới- Áo mới” là chế giễu, phê phán những người có tính hay khoe
của, một tính xấu khá phổ biến trong xã hội.
Như vậy, khi dạy thể loại văn học này, giáo viên cần chú ý đến nghệ thuật gây cười
của chuyện và đồng thời giúp học sinh khái quát một số cách thức gây cười có liên quan đến
bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp như đã nói ở trên.
Thể loại truyện cổ tích: Đây là loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số nhân
đọc khi phải cố công tìm hiểu đằng sau lớp vỏ ngôn từ ấy, tác giả dân gian muốn diễn tả điều
gì.
11
Trong bốn văn bản ca dao được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 7, tập 1, có
không ít những bài ca dao khiến học sinh khó khăn trong tiếp nhận. Lý do nằm ở cách diễn
đạt ý nhị, kín đáo của ca dao – dân ca. Nếu không vận dụng những kiến thức về nghĩa tường
minh và nghĩa hàm ẩn của ngữ nghĩa học Dụng pháp thì không cách nào hiểu được văn bản.
Một ví dụ sinh động cho trường hợp này là bài ca dao thứ tư trong văn bản “Những
câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người” (SGK Ngữ văn 7, tập 1, tr. 32):
“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”
Kinh nghiệm giảng dạy cho thấy, học sinh khi học văn bản này không hiểu hai câu
đầu của bài ca dao ngoài ý miêu tả cánh đồng, còn ý gì hay không? Và tại sao lại lặp đi lặp
lại từ, ngữ, cấu trúc câu cũng như dùng đảo ngữ nhiều như vậy? Hai câu sau của bài ca dao
này, học sinh chỉ có thể đoán tả về một cô gái đẹp chứ không thể lý giải tại sao những từ ngữ
so sánh “chẽn lúa đòng đòng”, từ ngữ miêu tả ‘ngọn nắng hồng”, “phất phơ” lại giúp lột tả
vẻ đẹp ấy.
Khi phát ngôn: “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát”nghĩa là ta
đã thừa nhận có một chủ thể đang quan sát (tiền giả định tồn tại), chủ thể ấy có vị trí đứng là
“bên ni đồng” (vị trí gần nơi phát ngôn) và hành động là “ngó” về “bên tê” (vị trí cách xa nơi
phát ngôn). Kết quả của quá trình quan sát từ vị trí này là “mênh mông bát ngát”. Câu thứ hai
cũng cùng một chủ thể nhưng đổi ngược vị trí quan sát. Kết quả quan sát cũng tương tự: “bát
ngát mênh mông”. Từ đây, có thể suy đoán, chủ thể quan sát muốn thâu tóm cảnh cánh đồng,
muốn quan sát từ nhiều góc độ để có thể chắc chắn về điều được rút ra: cánh đồng rất rộng
lớn. Tới đây ta lại có thể dẫn tới một suy đoán tiếp theo: Cảnh vật thế nào mà khiến người
ngắm cảnh tìm mọi cách để thâu tóm trong lăng kính quan sát của mình? Chắc hẳn cảnh phải
rất đẹp, rất mênh mông, rất khoáng đạt. Như vậy có nghĩa là thông qua việc diễn tả tư thế
của người quan sát, tác giả dân gian muốn chuyển tải vẻ đẹp quê hương mình một cách kín
tôi’. Tuy nhiên, bình thường ‘hay’ không kết hợp với những tật xấu hoặc những thứ có
13
nghĩa tiêu cực. Ở đây, nó lại được kết hợp với ‘tửu’, ‘tăm’, ‘nước chè đặc’, ‘nằm ngủ trưa’,
toàn là những thói xấu. Rõ ràng người nói không có ý khen mà là ý chê. Đây là cách nói
ngược để tăng sự mỉa mai, tạo nghịch cảnh ngay trên phát ngôn để diễn tả hàm ý (Bất chấp
phương châm về cách thức).
c. Tục ngữ
Là một loại thể đặc biệt, tục ngữ mang đặc điểm của văn nghị luận.Điều đó lý giải tại
sao trong tục ngữ, ta rất ít khi bắt gặp nghĩa hàm ẩn. Tuy nhiên, vì mang đậm chất dân gian
nên tục ngữ cũng có những lối diễn đạt bóng bẩy với nhiều hình ảnh ẩn dụ. Lối nói ngắn
gọn, có vần điệu, giàu hình ảnh cụ thể; lối nói dứt khoát, có tác dụng nhấn mạnh kinh
nghiệm mang đặc trưng văn nghị luận khiến tục ngữ (nhất là tục ngữ về thiên nhiên và lao
dộng sản xuất) gần như chỉ xuất hiện nghĩa tường minh trên văn bản.nếu có nghĩa hàm ẩn đi
chăng nữa thì dễ gặp hơn cả là ở tục ngữ về con người và xã hội.
Ví dụ: “Lá lành đùm lá rách” Dùng tiền giả định với hình ảnh tượng trưng để diễn tả
hàm ý.
Tiểu kết:
Tóm lại, về thể loại văn học dân gian trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS (lớp 6, lớp
7), ta có thể vận dụng kiến thức Ngữ nghĩa học dụng pháp để giải quyết mặt nghĩa hàm ẩn
cho văn bản. Tuy nhiên, với sự thể hiện theo đặc trưng loại thể, mức độ vận dụng đậm nhạt
có khác nhau. Trong các thể loại truyện dân gian, giáo viên cần chú trọng đặc biệt đến hàm ý
hội thoại, riêng truyện cười, phải chú ý đến mối quan hệ giữa hàm ý và suy ý. Ca dao dân ca
là nơi xuất hiện rất nhiều biểu tượng văn học. Cho nên, có chú ý đến vấn đề tiền giả định,
đặc biệt là tiền giả định văn bản ta mới có thể giúp học sinh tìm thấy cái hay, cái đẹp trong
sự kín đáo, uyển chuyển của ca dao – dân ca. Tục ngữ là thể loại đặc biệt của nghị luận văn
học. Do sự chi phối của đặc điểm thể loại như vậy nên sự vận dụng bình diện Ngữ nghĩa học
Dụng pháp không thật đậm nét.
14
2.1.2. Ứng dụng các bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp trong giảng dạy văn bản văn
học thể loại văn học trung đại (Ngữ văn THCS)
Căn cứ vào đặc điểm “có thể suy đoán được” của hàm ý hội thoại, giáo viên có thể
dẫn dắt học sinh lần lượt đưa ra các suy đoán sau đây:
+ Có thể nhà thơ nhớ nước thực sự.
+ Người Việt Nam đứng trên đất nước Việt Nam mà lại “đau lòng” vì “nhớ nước”.
Như thế thì lời thơ sẽ rất khuôn sáo (hoàn toàn lấy ý từ hai câu thơ nổi tiếng ở Trung Quốc),
tình cảm giả tạo (như lời một tác giả Sách giáo khoa đã phê bình).
+ Hẳn nhà thơ phải có một hàm ý nào đó và hàm ý hẳn phải liên quan đến hoàn cảnh
“nước nhà” lúc ấy.
Đến đây, giáo viên tiếp tục dựa vào ngữ cảnh lúc nhà thơ phát ngôn (thời gian sáng
tác bài thơ, địa điểm sáng tác, tâm thế của tác giả, tâm thế của người nghe) để giúp học sinh
lý giải:
Bà Huyện Thanh Quan sống vào một thời đại khác hẳn thời đại ngày nay. Đó là xã
hội đầu đời Nguyễn. Trong xã hội bấy giờ, có một số người, nhất là ở Đàng Ngoài, còn nhớ
cuộc sống dưới thời nhà Lê, chưa quen được nếp sống trong triều đại mới. Số người ấy đã
phải chấp nhận chính quyền của thời nhà Nguyễn với nhiều bất mãn và thương tiếc dồn nén.
Bà Huyện Thanh Quan là một trong số đó. Bà quê ở Thăng Long nhưng được vua nhà
Nguyễn vời vào cung ở Huế làm Cung trung giáo tập (Đàng Trong) . Bài Qua Đèo Ngang
nhiều khả năng được làm trong chuyến hành trình của bà từ ngoài Bắc vào kinh thành Huế.
Đối với người Việt thời Bà Huyện Thanh Quan, vua ở đâu thì nước ở đó. Nước của bà là ở
Đàng Ngoài. Cho nên, khi đi qua Đèo Ngang, ranh giới giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong, bà
hoài niệm về cố quốc (nước cũ) của triều Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài trước kia.
Nhà Nguyễn tuy tìm cách thu phục nhân tâm Đàng Ngoài, biệt đãi cựu thần triều Lê
nhưng có lẽ khó dung thứ cho sự trung thành, thương tiếc dồn nén trên. Chính vì thế, nhà thơ
16
khó có thể công khai bày tỏ lòng mình.Trên bề mặt phát ngôn, nhà thơ sử dụng một điển tích
quen thuộc trong văn chương cổ Trung Hoa và Việt Nam: Vua nước Thục (Thục Đế) chết
hóa thành chim đỗ quyên, tiếng kêu ai oán như nỗi niềm nhớ nước. Cái khuôn sáo ấy được
giới văn học và dĩ nhiên nhà cầm quyền đương thời sẵn sàng chấp nhận theo ý nghĩa thông
thường nói trên, lại có thể diễn tả đúng tâm trạng mà tác giả không được công khai bày tỏ:
Bất mãn và tiếc thương dồn nén nếp sống dĩ vãng mà mình không dược duy trì dưới triều Lê
trạng xã hội thời ông đang sống: nội loạn khắp nơi, người đương thời có cảm tưởng tình
trạng trên kéo dài không dứt.
Nói đến tình trạng giặc giã mà nguyên nhân chính yếu là sự suy sụp của chế độ đương
quyền, dĩ nhiên , Đặng Trần Côn phải áp dụng lối nói gián tiếp, dùng việc này ám chỉ việc
kia, giấu kín điều mà thực sự mình muốn nói. Ở đây, ông dùng các địa danh, các sự kiện lịch
sử lấy trong sử liệu Trung Quốc để chắp nối thành chiến cuộc. Thực chất không có một cuộc
chiến tranh nào có các địa điểm và nhân vật lịch sử thuộc các thời đại. Từ đó, nghĩa hàm ẩn
được nổi lên khi bóc đi lớp vỏ bọc của nó: “Tố cáo chiến tranh phi nghĩa, thể hiện niềm khát
khao hạnh phúc lứa đôi”.
Hoặc như khi phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích từ tác phẩm “Bình ngô đại
cáo” của Nguyễn Trãi, SGK Ngữ văn 8). Trước tiên ứng dụng phương diện ngữ cảnh của
phát ngôn.
Lý do là tác phẩm thuộc thể loại văn cổ được viết nguyên văn theo chữ Hán, để học
sinh hiểu được giá trị của tác phẩm thì giáo viên phải cho học sinh nắm được ngữ cảnh của
nó. Ngữ cảnh đó trước tiên là ngữ cảnh rộng: Sau khi đánh tan quân Minh xâm lược năm
1428, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Thái Tổ soạn thảo bài cáo này. Giáo viên phải gợi cho học
sinh hiểu được việc ra đời của bài cáo trong giai đoạn này có ý nghĩa như thế nào. Vì đất
nước ta sau hàng ngàn năm chịu ách nô lệ của thực dân phương Bắc giờ đây lại mới giành lại
được nền độc lập thì thời điểm này là bước ngoặt của lịch sử dân tộc ta. Bài cáo không chỉ
thông báo cho nhân dân biết được về nền độc lập mới giành được mà còn muốn khẳng định
nền độc lập đó với các dân tộc khác. Vậy nên tác phẩm có giá trị như một bản tuyên ngôn
độc lập của dân tộc.
Khi giảng hai câu đầu:
18
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Ta có tiền giả định là: Phàm là người, ai cũng muốn có cuộc sống hòa bình, được yên
ổn làm ăn. Muốn thế mọi người phải lấy chữ nhân nghĩa mà đối đãi với nhau. Là người đúng
đầu của một nước, mục đích mà họ hướng tới phải là chăm lo cho cuộc sống của nhân dân.
Tiền giả định trên giúp ta hiểu được tinh thần nhân nghĩa lấy dân làm gốc của tác giả, đồng
những chiến công vĩ đại được lưu lại sử sách muôn thuở.
Cũng xuất phát từ văn bản, giáo viên giúp học sinh nhận ra việc tác giả sử dụng một
chuỗi liệt kê dồn dập vối những chiến thắng cụ thể nhằm mục đích khẳng định truyền thống
chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất từ muôn đời của nhân dân ta.
Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập sau nhiều năm chịu ách đô hộ của
giặc phương Bắc thì bài cáo như bản hùng ca ca ngợi chiến tích của nhân dân ta, ca ngợi tinh
thần chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm của dân tộc. Đồng thời đây cũng là một sự khẳng
định độc lập và quyền tự chủ của đất nước ta và tinh thần quyết tâm đánh bại âm mưu xâm
lược của kẻ thù.
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du. (SGK Ngữ văn 9)
Nguyễn Du (1756-1820), sinh ra và lớn lên trong một thời đại mà lịch sử đầy biến
động, bản thân ông và gia tộc của ông cũng trải qua bao nhiêu thăng trầm. Cuối thế kỉ XVIII
đầu thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam vẫn là xã hội phong kiến nhưng không còn ở thời kì hưng
thịnh của nó như thế kỉ XV, XVI mà đi vào thoái trào, khủng hoảng và bế tắc. Giai cấp phong
kiến thống trị trong giai đoạn này tỏ ra không còn năng lực quản lý và lãnh đạo nhà nước, mà
lao vào cảnh ăn chơi truỵ lạc và tranh giành quyền lợi, sinh ra đâm chém lẫn nhau. Truyện
Kiều là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại mà nhà thơ của chúng ta đang sống, trong đó
ông muốn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa quyền sống của con người, nhất là người phụ nữ
với sự áp bức bất công của chế độ phong kiến trong lúc suy tàn.
Trong tay sẵn có đồng tiền
Dầu rằng đổi trắng thay đen khó gì
Hay:
Tiền lưng sẵn có việc gì chẳng xong
20
Không nắm được điều đó HS sẽ khó nắm bắt được cái đau đớn của Nguyễn Du
thương xót cho thân phận người phụ nữ:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
bởi họ “tại gia thì tòng phụ, xuất giá tòng phu mà phu tử thì tòng tử”. Trong xã hội ấy
không hiếm những thân phận như Thuý Kiều, như Đạm Tiên.
Thuý Vân vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Qua đó cũng thấy được sự giằng xé trong tâm lý
Thuý Kiều.
* Văn xuôi Trung đại:
Trở lên, tiểu luận đã phân tích một số tác phẩm thơ Trung đại để thấy sự vận dụng
bình diện Ngữ nghĩa học Dụng pháp (vấn đề ngữ cảnh rộng) trong giảng dạy. Tiếp theo tiểu
luận sẽ tiếp khảo sát sự vận dụng này trong phân tích tác phẩm văn xuôi Trung đại.
Trong các tác phẩm văn xuôi Trung đại, “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ
(SGK Ngữ văn 9) là một ví dụ có thể làm rõ sự vận dụng ở khía cạnh này.
Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh năm mất), sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà
Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính,
gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Người đọc ít nhiều nắm bắt được bối cảnh xã hội thời nội
chiến, hình ảnh chinh phu - chinh phụ, những bà mẹ mòn mỏi đợi con, những người vợ đau
đáu chờ chồng trở về, những đứa con khao khát gặp cha, cha ra trận không biết mặt con và
cả những nghi ngờ, hiểu lầm dẫn tới những cái chết oan khiên. Đó là hiện thực, là bi kịch cần
sự thấu hiểu, cảm thông và lòng tin vào sự thuỷ chung của tình vợ chồng. Qua nhân vật Vũ
Thị Thiết ta thấy được số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
b. Vấn đề hàm ý và suy ý:
Vấn đề hàm ý và suy ý trong một tác phẩm văn học có thể được hiểu ở hai góc độ. Từ
góc độ thứ nhất có thể hiểu: từ hàm ý của tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm, ta có thể suy
ý, rút ra những đặc sắc nội dung lẫn nghệ thuật gì. Từ góc độ thứ hai, ta xét mối quan hệ
giữa hàm ý và suy ý ở phạm vi hẹp hơn là nội bộ văn bản. Lúc này, ta thực hiện việc phát
hiện và đánh giá mối quan hệ đó có vai trò và ý nghĩa gì với tổ chức toàn văn bản.
22
* Ở góc độ thứ nhất, cần lưu ý, khi dạy các văn bản văn học Trung đại mang đậm giá
trị hiện thực, phê phán tố cáo xã hội đương thời là HS phải biết được nhà văn không thể
tường minh ý định của mình mà bằng cách này hay cách khác thể hiện điều đó. GV cần
hướng HS tìm hiểu, phát hiện ra được hàm ý của nhà văn và từ đó rút ra suy ý.
Chẳng hạn với Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Nguyễn Du xây dựng hình tượng Thuý Kiều, bên cạnh đó còn hàng loạt các nhân vật
mà nhà văn muốn thể hiện thái độ và quan điểm của mình như Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, hay tố
+ Người ta ra trận có thể lập được công danh, được đeo ấn phong hầu, vinh quy trở về
làng
+ Chiến trận rất nguy hiểm, có khi ảnh hưởng tới tính mạng con người.
+ Người đi lính khi mùa dưa chín thì thay phiên nhau trở về thăm gia đình
+ Rất nhiều người chinh phụ mòn mỏi chờ chồng, mùa rét thì may áo gửi cho chồng
ngoài chiến trận, ngày ngày trông ngóng tin chồng.
Qua đó suy ra hàm ý của Vũ Nương: nàng không màng vinh hoa phú quý, chỉ cần
chồng được bình an trở về, khi đi xa ngày ngày được bíêt tin chàng. Ở nhà, mọi người sẽ rất
nhớ mong và mùa rét sẽ gửi áo cho chàng, nhìn cảnh mà nhớ thương người đang ở phương
xa. Trương Sinh qua đó thấy được tình cảm, sự quan tâm của vợ dành cho mình. Ngoài chiến
trận chàng sẽ hết sức cẩn trong.
Hay như lời của mẹ chồng nàng trước khi nhắm mắt: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi
trời. Mẹ không phải không muốn chờ chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng
cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết
chuông rền mà số khí cũng kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không
khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn
được. Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn,
xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tiền giả định của phát ngôn
này là:
+ Con người sống chết là do trời định
+ Người già cả cái chết đến trong nay mai, không ai đoán định trước được
24
+ Người xưa dùng đồng hồ nước để đo thời gian, khi nước chảy nhỏ giọt hết cũng là
lúc chuông báo sáng để bắt đầu một ngày mới.
+ Con người có nhiều ước muốn, dự định nhưng không phải khi nào cũng thực hiện
được
+ Con cái phải tận hiếu với cha mẹ, về bên linh cữu khi cha mẹ mất
+ Ông trời không phụ lòng người tốt
+ Vũ Nương đã làm trọn chữ hiếu với mẹ chồng
Hàm ý: Thời gian qua nhanh, đời người cũng có lúc kết thúc. Mẹ không thể chờ