PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV, khoá VIII bàn về công tác văn
hoá giáo dục đã nêu rõ: “ đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học,
bậc học ; đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ độc thoại một chiều , từng bước áp dụng các phương pháp tiên
tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học ”
Để hình thành con người năng động, sáng tạo, thích ứng và tự chủ, biết
giải quyết những vấn đề nảy sinh, đáp ứng mục tiêu xã hội đặt ra cho dạy học
thì dạy học ngày nay không đơn thuần là việc truyền thụ những kiến thức có
sẵn, rập khuôn, máy móc mà phải biết tổ chức cho người học tự khám phá, tìm
tòi, phát hiện kiến thức.
Trong những năm gần đây đã có sự đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương
pháp, phương tiện hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá (KTĐG).
Song mức độ đổi mới và hoàn thiện chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, đặc
biệt là ở khâu KTĐG.
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học không
những cung cấp thông tin phản hồi ngược ngoài và ngược trong cho quá trình
dạy học mà điều quan trọng thông qua KTĐG nhằm phát hiện ra những lệch
lạc, khiếm khuyết từ quá trình dạy và học trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh
uốn nắn kịp thời.
Có rất nhiều hình thức KTĐG khác nhau: quan sát, vấn đáp, TNTL,
TNKQ Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng. Để nâng cao chất lượng
KT ĐG cũng như chất lượng dạy - học trên thế giới người ta đã kết hợp tất cả
các phương pháp KTĐG này.
Ở Việt Nam, việc KTĐG thành quả học tập của học sinh chủ yếu bằng
TNTL, rất ít bằng TNKQ.
Trong mỗi hình thức trắc nghiệm điều có ưu nhược điểm riêng. Trắc
nghiệm tự luận có ưu điểm là: đo được khả năng diễn đạt câu từ, hành văn, lập
luận Song nó bộc lộ nhiều nhược điểm đó là: làm bài mất nhiều thời gian
dẫn đến không KTĐG được nhiều nội dung và mục tiêu dạy học, đánh giá còn
tài nghiên cứu.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ chương I và chương II phần II “Sinh
học tế bào”, SH10 nâng cao, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học kiến
thức sinh học tế bào ở trường THPT.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Bộ câu hỏi TNKQ chương I “ Thành phần hoá học của tế bào” và
chương II “Cấu trúc tế bào” phần II “Sinh học tế bào” SH10 nâng cao - THPT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu áp dụng đúng quy trình xây dựng câu hỏi TNKQ sẽ xây dựng được
bộ câu hỏi TNKQ có giá trị góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương I và
chương II phần II “ Sinh học tế bào” SH10 nâng cao - THPT.
5. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về xây dựng câu hỏi TNKQ nói chung và
phần “ Sinh học tế bào ", SH10 nâng cao nói riêng.
5.2. Phân tích cấu trúc nội dung phần “ Sinh học tế bào”, SH10 nâng
cao – THPT. Cấu trúc nội dung cơ bản của chương I và chương II, để xác định
tổ hợp các câu hỏi TNKQ ở từng kiến thức, từng bài, từng chương.
5.3. Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ chương I và chương II phần II “Sinh
học tế bào”, SH10 nâng cao-THPT.
5.4. Thực nghiệm, xác định giá trị của bộ câu hỏi và giá trị của bài trắc
nghiệm tổng thể trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh, nâng cao chất lượng câu hỏi.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước
trong công tác giáo dục và các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 10- THPT phần
“ Sinh học tế bào”.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận về câu hỏi TNKQ, quy trình, nguyên tắc, kỹ
thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi TNKQ nói chung.
- 0 < DI
≤
0,2 : Độ phân biệt thấp.
- 0,21
≤
DI
≤
0,49 : Độ phân biệt trung bình.
- 0,5
≤
DI
≤
1 : Độ phân biệt cao.
6.4.3. Xác định độ tin cậy của tổng thể câu hỏi trắc nghiệm:
R
2,1
=
1−K
K
1-
2
.
)(
δ
K
XKX −
(3)
Trong đó:
K: Số lượng câu hỏi của bài trắc nghiệm của bài trắc nghiệm tổng
thể.
Phần I: Mở đầu
Phần II: Tổng quan tài liệu
Phần III: Kết quả nghiên cứu
Chương I: Cở sở lý luận của đề tài.
Chương II: Kết quả xây dựng câu hỏi TNKQ.
Chương III: Kết quả thực nghiệm.
Phần IV: Kết luận và kiến nghị
Phần phụ lục:
Phụ lục I: Bộ câu hỏi TNKQ chương I và chương II Phần “Sinh học tế
bào”, SH 10 nâng cao - THPT.
Phụ lục II: Đáp án của bộ câu hỏi TNKQ.
Phụ lục III: Mẫu phiếu hướng dẫn làm bài.
Phụ lục IV: Độ khó và độ phân biệt của từng câu hỏi.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. TRÊN THẾ GIỚI :
Ở Mỹ, từ đầu thế kỉ XIX người ta đã dùng phương pháp T chủ yếu để
phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỉ XX
E.Thođaicơ là người đầu tiên đã dùng T như một phương pháp “khách quan và
nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học
và sau đó là đối với một số loại kiến thức khác.
Đến năm 1940 ở Hoa Kỳ đã xuất bản nhiều hệ thống T dùng để đánh giá
thành tích học tập của học sinh.
Năm 1961 Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình T chuẩn.
Năm 1963 đã xuất hiện công trình của Ghecberich dùng máy tính điện tử
xử lí các kết quả T trên diện rộng.
Vào thời điểm đó ở Anh đã có Hội đồng quốc gia hàng năm quyết định
các T chuẩn cho trường trung học.
Trong thời kì đầu việc sử dụng phương pháp T ở các nước phương Tây
đã có một số sai lầm như đã sa vào quan điểm hình thức, máy móc trong việc
đánh giá năng lực trí tuệ, chất lượng kiến thức của học sinh hoặc quan điểm
thống câu hỏi TN trong mỗi môn học và tìm cách sử dụng hợp lý trong quá
trình dạy học ở từng bộ môn là con đường có nhiều triển vọng.
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 . CÂU HỎI VÀ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC:
1.1. Khái niệm về câu hỏi trong dạy học:
Aristotle là người đầu tiên đã phân tích câu hỏi dưới góc độ logic ông
cho rằng: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái
chưa biết “ [6.Tr 23]
Khái niệm câu hỏi cũng được diễn đạt dưới dạng khác như: Câu hỏi là
dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh
cần được giải quyết. [6.Tr 23]
Trong dạy học, câu hỏi được sử dụng như là một công cụ dùng để tổ
chức hướng dẫn quá trình nhận thức, quá trình kiểm tra, tự kiểm tra và tự học.
Đó là những yêu cầu được đặt ra (trong câu hỏi) mà người học cần phải giải
quyết.
1.2 . Các loại câu hỏi trong dạy học:
Tuỳ theo bản chất, mục đích, cách sử dụng mà người ta chia câu hỏi
thành nhiều loại khác nhau: [4] ,[6]
1.2.1. Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện, hiện tượng, quá trình…
-Câu hỏi yêu cầu mức hiểu khái niệm.
- Câu hỏi yêu cầu mức vận dụng khái niệm.
- Câu hỏi yêu cầu mức sáng tạo.
1.2.2. Dựa vào sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng quan sát
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng phân tích
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng tổng hợp
Chúng tôi có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Trắc nghiệm
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
Diễn giải Tiểu luận Luận văn Đúng- Sai MCQ Ghép nối
Điềnkhuyết
1.3.1. Trắc nghiệm tự luận ( TNTL )
* Khái niệm:
Là dạng T dùng những câu hỏi mở đòi hỏi học sinh tự xây dựng câu trả
lời. Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải
hoặc một tiểu luận [2]
* Ưu điểm:
TNTL có những ưu điểm sau: Đòi hỏi thí sinh tự trả lời và diễn đạt bằng
ngôn ngữ của chính mình, giáo viên ít tốn thời gian cho việc soạn thảo câu hỏi,
thí sinh có thể tự do diễn đạt ý tưởng phát huy khả năng sáng tạo, cách thức
giải quyết vấn đề, rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh.
* Nhược điểm:
TNTL có số lượng câu hỏi ít, giá trị nội dung không cao, chấm bài tốn
thời gian, cho điểm gặp khó khăn, tính khách quan không cao nên độ tin cậy
thấp.
1.3.2. Trắc nghiệm khách quan ( TNKQ )
* Khái niệm về TEST – TNKQ:
Trên thế giới người ta đã sử dụng câu hỏi TEST vào quá trình dạy học từ
những năm 1930 của thế kỷ XX. Đã có nhiều nhà lý luận đi sâu vào nghiên
cứu về Test và đưa ra định nghĩa “Test là bài tập làm trong một thời gian ngắn
nhất, mà thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng và chất lượng, có
thể coi là dấu hiệu về sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý.”
A.V.PETROPSKI. 1970 hoặc “Test là thử nghiệm mang tính tích cực”.
Theo Trần Bá Hoành 1990: “Test có thể tạm dịch là trắc nghiệm, là một
+ Có ít phương án để lựa chọn ( Đúng–Sai ) vì thế khó xác định được
điểm yếu của học sinh do yếu tố đoán mò, xác suất đúng / sai là 50%, có độ tin
cậy thấp.
Loại T này thường chỉ đòi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, khả năng
phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém rất thấp.
• Loại câu trắc nghiệm ghép- nối:
- Khái niệm: Là dạng câu hỏi T mà trong đó gồm những câu hỏi có 2
dãy thông tin, một bên là câu hỏi, bên kia là câu trả lời, học sinh phải ghép với
nhau trở thành thông tin hoàn chỉnh.
- Ưu điểm: Loại này thích hợp với các câu hỏi sự kiện, khả năng nhận
biết kiến thức hay tìm những mối tương quan (giữa cấu tạo và chức năng, đặc
điểm với cấu trúc…)
- Nhược điểm: Khó có thể đánh giá học sinh ở mức độ tư duy cao do học
sinh có thể đạt điểm bằng cách loại suy chứ không phải bằng kiến thức.
• Loại câu trắc nghiệm dạng điền khuyết:
- Khái niệm: Là loại câu T trong đó câu dẫn có để một vài chỗ trống học
sinh phải điền vào chỗ trống những từ thích hợp.
Có 2 dạng: Có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, hay là những câu
phát biểu với một hay nhiều chỗ trống, thí sinh phải điền vào bằng một từ hay
một nhóm từ thích hợp.
- Ưu điểm:
+ Làm mất khả năng đoán mò cuả học sinh và có cơ hội trình bày những
câu trả lời phát huy óc sáng tạo.
+ Giáo viên dễ soạn câu hỏi, thích hợp với các môn tự nhiên.
- Nhược điểm:
+ Nhược điểm lớn nhất của loại trắc nghiệm này việc chấm bài mất
nhiều thời gian.
+ Hơn nữa giáo viên sẽ khó cho điểm và tính khách quan không cao, đối
với những câu trả lời của học sinh không đúng với đáp án mà vẫn có lý
* Trắc nghiệm nhiều lựa chọn ( MCQ ).
Do đó bộ câu hỏi như là một mẫu hình tiêu biểu mà qua đó có thể thực hiện
được các mục tiêu dạy học. Khi học sinh được trắc nghiệm tiếp cận với những
yêu cầu có trong nội dung câu hỏi T, họ phải sử dụng các thao tác tư duy, phân
tích, so sánh, tổng hợp…cùng với những kiến thức đã có để tìm ra phương án
đúng. Để tìm được câu trả lời đúng học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà
cần phải hiểu rõ vấn đề. Nhất là đối với câu hỏi TNKQ-MCQ có khả năng gây
nên những thắc mắc, những khó khăn trong tư duy, kích thích học sinh có nhu
cầu hiểu biết để giải quyết yêu cầu của câu hỏi.Từ đó, không chỉ hình thành
được kiến thức mới cho người học mà còn rèn luyện cho họ năng lực tư duy,
óc suy đoán nhanh nhậy.
+ Sử dụng ở khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện, nâng cao:
Hình thành kiến thức cho học sinh ở khâu nghiên cứu tài liệu mới có vai trò
quan trọng trong quá trình dạy học, song kiến thức của học sinh có trở nên
vững chắc hay không, lại nhờ vào khâu ôn tập, củng cố và hoàn thiện, nâng
cao. Sử dụng câu hỏi TNKQ là biện pháp có hiệu quả để nâng cao trình độ
trước khi bước vào kì thi.
Bộ câu hỏi được soạn thảo dựa vào các mục tiêu dạy học, phủ kín và
phân bố số lượng câu hỏi theo mức độ quan trọng của từng mục tiêu, nên
người ôn tập có thể coi việc trả lời bộ câu hỏi như là kế hoạch chi tiết cho quá
trình ôn tập.
Việc giải quyết các câu hỏi theo hệ thống các câu hỏi là điều kiện để cho
người đọc rà soát, ôn lại kiến thức mà mình đã học. Như vậy sẽ củng cố lại
những kiến thức cơ bản trong 1 thời gian ngắn. Mặt khác khi gặp những câu
hỏi T khó họ phải huy động tìm lời giải đáp, giúp cho người học vừa ôn lại
kiến thức, vừa nâng cao được trình độ .
+ Sử dụng TNKQ trong khâu tự học:
Vấn đề tự học là rất cần thiết đối với mỗi học sinh do sự phát triển ngày
càng mạnh mẽ của KHKT, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng, mà những kiến thức
trên lớp do thầy cô cung cấp không thể đáp ứng được. Trong quá trình tự học
thì câu hỏi TNKQ là bộ công cụ rất có hiệu quả. Học sinh có thể tự đọc sách,
Cột câu hỏi và cột trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời
dư ra để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn.
- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây
thêm khó khăn cho sự lựa chọn.
2.4. Quy tắc xây dựng câu hỏi T nhiều lựa chọn ( MCQ ): [4. Tr. 27]
- Quy tắc lập câu dẫn:
+ Diễn đạt trong câu dẫn cần thể hiện rõ những nhiệm vụ mà các thí sinh
phải làm, phải đưa ra đầy đủ các thông tin cần thiết cho thí sinh để họ xác định
được yêu cầu trong câu hỏi.
+ Thường dùng một câu hỏi, hay câu nhận định không đầy đủ hoặc chưa
hoàn chỉnh để lập câu dẫn, đôi khi người ta có thể viết câu dẫn dưới dạng đưa
ra nhiều tổ rồi sau đó tổ hợp lại thành các phương án chọn.
+ Trường hợp nhiều câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên cùng
một lượng thông tin như: một đoạn văn, một đồ thị, một sơ đồ, một số các câu
trả lời sẵn… thì cần phải chọn câu dẫn sao cho có thể đảm bảo chắc chắn có sự
liên quan với những thông tin đã đưa ra đó. Câu nọ phải độc lập với câu kia,
chứ không có sự phụ thuộc vào nhau.
+ Khi lập câu dẫn càng cần phải tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc
tạo đầu mối dẫn đến câu trả lời như “Những câu nào sau đây” trong khi một
trong các phương án lựa chọn là tổ hợp của hai hay nhiều câu.
+ Những từ chung cho các câu lựa chọn nên chuyển lên phần cấu trúc
của câu dẫn.
+ Nên ít dùng hoặc tránh dùng thể phủ định trong câu hỏi, nếu cần thiết
phải dùng thì nhấn mạnh bằng cách gạch chân, in nghiêng hoặc in đậm thể phủ
định, nhằm thu hút sự chú ý của thí sinh, tránh hiểu nhầm yêu cầu của câu hỏi.
+ Nội dung của câu dẫn phải nằm trong nội dung và mục tiêu cần đánh giá
- Quy tắc lập phương án chọn: [3]
Đó là những phương án đưa ra để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở câu dẫn
thông thường có từ 3-5 phương án lựa chọn, trong đó có một câu chọn là đúng
và chính xác nhất, còn những câu kia là câu gây nhiễu.
Mục đích của việc xây dựng kế hoạch cho nội dung cần trắc nghiệm là:
- Nhằm đạt cao nhất về nội dung (đo được cái cần đo)
- Hệ thống câu hỏi tương xứng với thời gian phân bố và tầm quan trọng
của từng đơn vị kiến thức.
Do vậy, cần phải có kế hoạch chung, kế hoạch chi tiết phân bố cụ thể
trên từng nội dung tương ứng với các mức độ mục tiêu dạy học cụ thể.
Để đạt được mục tiêu cần có sự phân tích cấu trúc nội dung toàn bộ
chương trình tìm ra mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giảng dạy và học tập.
Sau đó xác định tầm quan trọng và thời gian phân bố cho từng nội dung đó,
xác định các trọng số cụ thể theo thứ tự nội dung tổng quát, chi tiết.Từ việc
phân tích ở trên chúng ta có thể lập ra một kế hoạch chi tiết cho toàn bộ câu
hỏi.
Bước 3 : Soạn thảo câu hỏi.
- Căn cứ vào các quy tắc nêu ở trên về xây dựng các câu hỏi TNKQ cho
từng loại (Đúng sai, ghép nối, điền khuyết, MCQ) và dựa vào kế hoạch đã vạch
ra, xây dựng từng câu hỏi theo mục tiêu dạy học.Tuy nhiên để có được lượng
câu hỏi theo đúng kế hoạch đặt ra, khi soạn thảo cần xây dựng lượng câu hỏi
nhiều hơn thế. Để đến khi kiểm định câu hỏi qua thực nghiệm sẽ giúp ta loại
được những câu không đạt yêu cầu mà vẫn đảm bảo tính hệ thống của bộ câu
hỏi
- Khi soạn thảo câu hỏi, người soạn luôn tự hỏi: soạn câu ấy để làm gì?
Đánh giá được ai? Mức trí lực nào? Độ khó áng chừng khoảng bao nhiêu? Học
sinh phải mất bao nhiêu thời gian để trả lời câu hỏi ấy?
- Khi soạn xong cần có sự rà soát nhiều lần để tránh những sơ suất do chủ
quan
Bước 4 : Thực nghiệm kiểm định các câu hỏi:
- Các câu hỏi dù có soạn thảo cẩn thận, công phu đến đâu cũng chỉ là ý
tưởng chủ quan của người soạn. Muốn biết được các chỉ tiêu của từng loại câu
hỏi đạt đến đâu? Có khiếm khuyết đó như thế nào? Chất lượng câu hỏi so với
yêu cầu đặt ra có đạt không?
Số tiết
I. Thành phần
hoá học của tế
bào6
Bài 7: Các nguyên tố hoá học và nước của tế
bào
Bài 8: Các bon hiđrat và lipit
Bài 9: Prôtêin
Bài 10: Axít nuclêic
Bài 11: Axít nuclêic (tiếp theo)
Bài 12 :Thực hành:Thí nghiệm nhận biết một số
thành phần hoá học của tế bào
Tiết 7
Tiết 8
Tiết 9
Tiết 10
Tiết 11
Tiết 12
II. Cấu trúc của
tế bào 8
Bài 13:Tế bào nhân sơ
Bài 14:Tế bào nhân thực
Bài 15: Tế bào nhân thực (tiếp theo)
Bài 16: Tế bào nhân thực (tiếp theo)
Bài 17: Tế bào nhân thực (tiếp theo)
Bài 18:Vận chuyển các chất qua màng sinh chất
Bài 19:Thực hành: Quan sát tế bào dưới kính
Tiết 25
Tiết 26
Tiết 27
IV. Phân bào 5
Bài 28: Chu kỳ tế bàovà các hình thức phân bào
Bài 29: Nguyên phân
Bài 30: Giảm phân
Bài31: Thực hành: Quan sát các chu kì của nguyên
phân
Bài 32: Ôn tập
Tiết 28
Tiết 29
Tiết 30
Tiết 31
Tiết 32
Để đảm bảo việc xây dựng câu hỏi có tính hệ thống và bám sát các nội
dung và mục tiêu dạy học. Cần phân tích tính hệ thống của chương trình tế bào
học.
2.2.2. Nội dung:
•Tính hệ thống, tính kế thừa, tính lô gic của phần “ Sinh học tế
bào” SH 10 – nâng cao-THPT:
Mở đầu của SH 10 là phần “Giới thiệu chung về thế giới sống” giúp cho
học sinh có cái nhìn tổng quát về sinh giới. Sinh giới rất đa dạng và phong phú,
từ những dạng sống đơn giản và nhỏ bé nhất như vi rút (kích thước tính bằng
nm) đến những dạng động vật có vú to lớn cấu tạo cơ thể phức tạp, nhưng
chúng đều có những đặc điểm chung.Tất cả các cơ thể sống bất luận hình dạng
và kích thước như thế nào, đều được cấu tạo từ tế bào. Chính vì vậy sau khi
học sinh có cái nhìn tổng thể về sinh giới, về cơ thể sinh vật, sinh học 10 đã đi
sâu nghiên cứu về đơn vị cấu tạo nên cơ thể đó là tế bào. Phần “ sinh học tế
bào” giúp học sinh tìm hiểu về tế bào: Thành phần hoá học của tế bào, cấu trúc
+ Cấu trúc, thành phần cấu tạo của tế bào nhân sơ và chức năng:
Thành phần cấu tạo của tế bào nhân sơ và chức năng.
+ Thành phần cấu tạo, cấu trúc, chức năng của TBNC.
Các hợp chất
hữu cơ chủ yếu
Monosaccarit
Cácbon hiđat
Li pit
Prôtêin
Axit nuclêic
Đisaccazit
Mỡ, dầu ,sáp
Poly caccarit
Phot pholipit
Steroit
ADN
ARN
mARN
tARN
rARN
Lục lạp (ở TBTV)
Tế bào nhân
sơ
Thành tế bào
Màng sinh
chất
Tế bào chất
Lông và roi
Tế bào nhân
thực