PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi sang cơ chế
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cho dù xây dựng kinh tế thị trường theo mô hình nào trong lịch sử thì Nhà nước
cũng phải thực hiện nhiệm vụ có tầm quan trọng bậc nhất là cung cấp khung khổ
pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị
trường. Trong đó có khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các
yếu tố sản xuất quan trọng nhất như lao động, vốn, đất đai, tài sản, khoa học công
nghệ…Về vấn đề này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị
quyết số 48/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Nghị
quyết đã đánh giá thực trạng của hệ thống pháp luật nước ta, nguyên nhân, định
hướng và các giải pháp thực hiện chiến lược .
Tín dụng nói chung và tín dụng NHTM nói riêng là chiếc cầu nối giữa cung và
cầu về vốn trong nền kinh tế.Tín dụng NHTM có vai trò quan trọng trong việc phát
triển kinh tế đối với nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế còn phát
triển chủ yếu dựa vào vốn. Tín dụng NHTM là một mối quan hệ kinh tế nên cần phải
có một hành lang pháp lý. Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM là
toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ
thể tham gia vào mối quan hệ tín dụng NHTM …. Tín dụng là mối quan hệ dựa
trên sự chuyển giao tài sản, mục đích sử dụng tài sản, thế chấp, cầm cố, xử lý thu hồi
nợ. Do đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đầy đủ , thống nhất, minh bạch để
tín dụng NHTM có thể vận hành một cách thông suốt, mang lại lơi ích cho nền kinh
tế.
Nhà nước ta trong gần ba mươi năm đổi mới đã đạt nhiều thành công trong việc
tạo lập hệ thống pháp luật cho nền kinh tế thị trường vận hành và phát triển. Trong
đó hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM cũng từng bước được hoàn
thiện. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng
của NHTM ở Việt Nam hiện nay còn thiếu nhiều quy định cần thiết, các quy
định còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu tính thống nhất, có quy định còn chưa
Đại Học Kinh Tế, 2001. Với công trình này, ngoài những lý luận cơ bản, một số
thực trạng về hoạt đông tín dụng tại các NHTM tại Việt Nam, tác giả đưa ra các giải
pháp mở rộng và phát triển các hình thức tín dụng Ngân hàng ở Việt Nam.
- Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt
Nam : Luận văn thạc sĩ - Trần Thị Ngọc Hạnh ; người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị
2
Loan. - TP.HCM : Trường Đại Học Kinh Tế, 2012. Trong nghiên cứu này tác giả đã
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như đề ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN - PGS, TS Hà Hùng Cường, 2008, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích thực trạng chung và các giải pháp hoàn thiện
hệ thống pháp luật nói chung của nước ta
- Thực trạng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt nam- TS Đinh Văn Ân, 2006, Cổng thông tin Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế Trung ương. Một số vấn đề về xây dựng pháp luật cho kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được tác giả phân tích .
Tuy nhiên các công trình trên chưa đi sâu phân tích thực trạng cũng như đề ra
các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của
các NHTM.
Trong luận văn của này, tác giả kế thừa những thành quả của những nghiên cứu
trước, đồng thời cố gắng làm rõ những lý luận cơ bản , hệ thống hóa các vấn đề về
thực trạng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM tại Việt Nam cũng
như đưa ra các giải pháp hoàn thiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là những vấn đề cơ bản thuộc
về khung pháp lý mà Nhà nước đã ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ tín dụng
giữa các NHTM và khách hàng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu và giới hạn
- Phương pháp phân tích so sánh và suy luận logic để tổng hợp các dữ liệu, sự
kiện nhằm xác định kết quả phù hợp.
- Phương pháp tổng hợp các phần nghiên cứu để đưa luận điểm khoa học.
- Phương pháp thống kê mô tả
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về NHTM và hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng
NHTM.trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Chương 2: Thực trạng hệ thống hành lang pháp lý điều chỉnh mối quan hệ tín dụng
NHTM ở nước ta
Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho
hoạt động tín dụng NHTM ở nước ta.
4
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN
1.1Tổng quan về NHTM :
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính của nền kinh tế mà hoạt động
cốt lõi, mang bản chất ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thanh toán
Từ khi ra đời từ thế kỷ thứ 15 cho đến nay, thuật ngữ ngân hàng không cố định
mà có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Khi mới hình thành khái niệm
ngân hàng dùng để chỉ các tổ chức chuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để
cho vay. Sự phát triển của nền kinh tế đã cho ra đời nhiều loại hình tổ chức khác
nhau có phương thức kinh doanh tiền tệ đa dạng phong phú nên thuật ngữ “Ngân
hàng” trở nên hạn hẹp, không bao trùm hết được, vì vậy xu hướng trên thế giới sử
dụng thuật ngữ “ Định Chế tài chính” có phạm vi rộng hơn, bao quát hơn
Định Chế tài chính được hiểu là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là
các tài sản tài chính, các hình thức trái quyền như cổ phiếu, trái phiếu các khoản
vay…
vực nhạy cảm, có liên quan đến hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế . Ngân
hàng được ví như hệ thần kinh của nền kinh tế, bởi bất kỳ một biến động nào của
hệ thống ngân hàng cũng có ảnh hưởng theo hai chiều ngược lại đối với toàn bộ
nền kinh tế. Mặt khác hoạt động ngân hàng có tính lan truyền rất cao. Vì vậy
những quy định khắt khe trong kinh doanh ngân hàng là cần thiết nhằm tạo ra
một môi trường lành mạnh, không chỉ có lợi cho từng tổ chức tín dụng/ ngân
hàng mà còn cho sự ổn định chung của hệ thống và nền kinh tế
Những điều kiện cơ bản quy định trong kinh doanh ngân hàng gồm có :Quy định
về mức vốn pháp định khi thành lập ngân hàng; Quy định về các mức đảm bảo
6
an toàn trong kinh doanh ngân hàng; Quy định về phạm vi hoạt động được phép
của ngân hàng
Thứ hai: đối tượng kinh doanh của ngân hàng là các tài sản tài chính
Thực chất kinh doanh ngân hàng là việc sản xuất, buôn bán, quản lý , lưu thông
và sử dụng tiền cùng các tài sản tài chính
Tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất hàng hóa dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các giấy tờ có giá…Các loại tài
sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể là những dữ liệu trong máy
tính sổ sách. Cụ thể hơn, tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa
vào nội dung vật chất của nó (giống như bất động sản gồm nhà cửa, đất đai) mà
dựa vào các quan hệ trên thị trường, chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu, các giấy
tờ có giá khác
Thứ ba : Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất trung gian
Tính chất trung gian (intermediaries) trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ
việc ngân hàng làm trung gian giữa người gửi tiền (Depositor) và người vay tiền
(Borrowers) . Có thể phân tích tính chất này trên nhiều khía cạnh khác nhau cụ
thể, Đó là :
Trung gian về mệnh giá : ngân hàng là tổ chức tín dụng thu thập nhiều khoản tiền
tiết kiệm nhỏ lẻ…của nhiều tầng lớp, chủ thể trong nền kinh tế , hình thành nên
quỹ cho vay và có thể cung cấp những khoản tín dụng quy mô lớn cho các chủ
Hoạt động của các ngân hàng liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trong
phạm vi một nước mà liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế
đối ngoại; do vậy kinh doanh trong hệ thống ngân hàng chịu sự chi phối của
nhiều yếu tố trong nước như : môi trường pháp luật, môi trường kinh tế… đặc
biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó
có công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định
đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Mặt khác , xu thế hội nhập quốc
tế buộc các ngân hàng phải hiểu rõ về tập quán kinh doanh của các nước, thông lệ
quốc tế, trong đó các quy định của ủy ban Basel (Ủy ban giám sát hoạt động ngân
hàng) là không thể thiếu được
Thứ năm: hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh đặc biệt có rủi ro hệ
thống cao
Mặc dù ngân hàng là một doanh nghiệp , nên mục đích sau cùng là hướng tới lợi
nhuận, tuy nhiên hoạt động của ngân hàng có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế ,
đặc biệt, hoạt động cấp tín dụng không chỉ đơn thuần vì túi tiền của riêng ngân
hàng mà quan trọng hơn nó được xem là đòn bẩy phát triển kinh tế, chính vì thế
chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của pháp luật
8
So với các ngành kinh doanh khác, kinh doanh ngân hàng có mức độ tập trung rất
cao.Đặc trưng này thể hiện tất cả các quốc gia trên thế giới, không loại trừ Việt
nam. Mỗi một ngân hàng thường có một tổ chức rộng rãi với hội sở và mạng lưới
nhiều chi nhánh lan tỏa khắp nơi. Điều này vừa tạo thuận lợi vừa gây khó khăn
cho ngân hàng trong quá trình quản trị mạng lưới hoạt động của mình sao cho
hiệu quả nhất
Như mọi ngành dịch vụ khác, sản phẩm của ngân hàng là sản phẩm vô hình,
khách hàng không thể cân đọng đo đếm mà chỉ “cảm nhận” được chất lượng của
nó. Vì vậy, sự thành công trong kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào
long tin dân chúng. Do tài chính, tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu
tác động bới rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý truyền thống
văn hóa … vì vậy , sự thay đổi dù nhỏ nhất của bất kỳ một nhân tố nào cũng đều
dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại
được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận
của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với
chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM tạo tiền phụ
thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với
NHTM. do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền
vào nền kinh tế lớn.
1.1.4 Các nghiệp vụ NHTM
Nghiệp vụ nội bảng là những nghiệp vụ trực tiếp tác động đến hai phía (nợ và
có) trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Bất kỳ một nghiệp vụ nào trong số
các nghiệp vụ này xuất hiện đều làm cho cân đối kế toán của ngân hàng thay đổi.
Hầu hết các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng nằm trong số này
Nghiệp vụ ngoại bảng thông thường bao gồm các hoạt động không dung đến
nguồn vốn, vì vậy khi những nghiệp vụ thuộc dạng này phát sinh, chúng không
ảnh hưởng đến bảng cân đối của ngân hàng nhưng vẫn có thể mang lại những
nguồn thu nhập cho ngân hàng, như các dịch vụ thu hoa hồng phí, tư vấn kinh
doanh ngoại tệ, bảo quản vật có giá, bảo lãnh, chấp nhận….
Phần dưới đây chúng ta sẽ đi sâu vào cách phân loại phổ biến nhất, đó là phân
loại theo cách hạch toán trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng
1.1.4.1 Nghiệp vụ nội bảng
Bảng 1 : Bảng cân đối kế toán (tóm lược) của một NHTM
Tài sản Tài sản nợ và vốn
10
1.Dự trữ tiền 1. Tiền gửi khách hàng
Tiền mặt Tiền gửi giao dịch
Tiền gửi tại ngân hàng trung ương Tiền gửi phi giao dịch
Tiền gửi tại các TCTD 2. Vay thị trường tài chính
2. Cho vay khách hàng 3.Vốn chủ sở hữu
Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì : ”Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ
chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng
trong một thời hạn nhất định với một chi phí nhất định ” và ” Tín dụng ngân
hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó có thể
là quan hệ cho vay của ngân hàng đối với hoặc quan hệ gởi tiền của khách hàng
vào ngân hàng ”. Một số sách chỉ cho rằng tín dụng ngân hàng tập trung vào
quan hệ cho vay của ngân hàng đối với khách hàng.
Còn theo Luật các TCTD 2010 thì không có giải thích từ tín dụng mà chỉ giải
thích cụm từ cấp tín dụng: ” Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân
sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo
nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Thông
thường trong các giáo trình , các nhà soạn sách thường đồng nhât tín dụng với
cho vay, còn các nghiệp vụ chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng sẽ được giảng ở các phần khác không thuộc phần tín dụng.
Tín dụng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, được thể hiện
trên các phưong diện:
-Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng
thời đầu tư phát triển kinh tế.
Do quá trình tái sản xuất xã hội là thưòng xuyên và liên tục nên nhu cầu về vốn
thường xuyên ở mức độ cao. Trong khi đó lại có tổ chức, cá nhân có nguồn vốn
nhàn rỗi tạm thời trong một thời gian nhất định. Bên cần vốn thì có thể vay được
vốn với chi phí thấp và kịp thời để hoàn thành công việc của mình, bên có vốn thì
12
thu được khoản lợi trong thời gian mình không dùng tới khoản vốn đó. Hoạt động
tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành
những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả cho các doanh
nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cho mọi tầng
lớp dân cư khi cần vốn.
Thông qua tín dụng ngân hàng các nguồn vốn được tập trung và các nguồn vốn
xuất trong nước phát triển và làm mối quan hệ giữa các nước trở nên tốt đẹp.
1.1.4.2.3 Đầu tư
Đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau tín dụng bởi nó mang lại khoản thu nhập
lớn và đáng kể của ngân hàng. Tuy nhiên cũng như tín dụng, đầu tư là nghiệp vụ
sinh lời nhưng hoạt động bị giới hạn do có độ rủi ro tiềm tàng cao. Các ngân hàng
có thể tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng
khác, kể cả việc góp vốn vào các công ty con, công ty liên kết, quỹ đầu tư hoặc
mua các loại chứng khoán vốn, chứng khoán nợ trên thị trường như mua trái
phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty, cổ phiếu, các loại
tín phiếu, của các tổ chức tài chính khác….
1.1.4.3 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn
1.1.4.3.1 Tiền gởi
Đây là các khoản tiền của các tổ chức, của dân cư gửi vào ngân hàng với
những mục tiêu an toàn, hưởng lãi, hoặc hưởng các tiện ích của dịch vụ thanh
toán qua ngân hàng. Nguồn tiền gửi được xem là nguồn vốn chủ yếu của các
ngân hàng nhất là NHTM nên tính ổn định của nguồn tiền gửi có ý nghĩa hết sức
quan trọng với các NH.
1.1.4.3.2 Vay trên thị trường tài chính và liên ngân hàng
Đây là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng,
thông qua các hoạt động như tái chiết khấu, vay qua đêm, với mục tiêu chủ yếu là
14
tăng khả năng thanh toán cho các ngân hàng.Trên thực tế một số ngân hàng nhỏ
do thiếu khả năng huy động nguồn tiền gửi có thể dung vốn vay để sử dụng vào
hoạt động tín dụng. Trong khi các ngân hàng qui mô lớn, có thương hiệu lâu đời
dùng nguồn huy động của mình để cho vay lại các ngân hàng nhỏ. Đây là một
hạn chế trong hoạt động đi vay và cho vay của các ngân hàng cần được quản lý.
1.1.4.3.3 Vốn tự có
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất vừa cho thấy qui
mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảo bảo các khoản nợ của ngân hàng
đối với khách hàng. Mặc dù chiếm tỉ trọng tương đối nhỏ trong tổng số hoạt động
qua hiện tượng lúc thiếu vốn ( cách đây vài năm ) lúc thừa vốn ( hiện nay ).
Theo trang vi.wikipedia.org ngày 15/3/2014 thì danh sách các NHTM Việt Nam
( Bao gồm cả các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, chi nhánh NH Liên doanh )
như tại Phụ lục 1
1.2 Hành lang pháp lý cho tín dụng NHTM trong nền kinh tế thị trường :
1.2.1 Khái niệm hành lang pháp lý :
Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM là toàn bộ các văn bản quy
phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia vào mối quan
hệ tín dụng của các NHTM
1.2.2 Khái niệm ,đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
1.2.2.1 Khái niệm :
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc
phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự chặt chẽ , trong đó chứa
đựng các quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo
đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là hình thức pháp luật được
sử dụng phổ biến nhất hiẹn nay trên thế giới.
1.2.2.2 Đặc điểm :
Từ khái niệm này ta thấy văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau :
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục
được pháp luật quy định.
Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước có thể ban hành hoặc phối hợp ban
hành nhiều văn bản khác nhau, nhưng không phải văn bản nào cũng được xem là
văn bản pháp quy mà chỉ có những văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành
16
với những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, tên gọi, ngôn ngữ , thẩm quyền
được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 hoặc Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
năm 2004 mới được gọi là văn bản quy phạm pháp luật.
- Nội dung của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung,
dân cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày và phải được đăng trên công báo cấp tỉnh
chậm nhất là 5 ngày; cấp huyện có hiệu lực sau 7 ngày và phải được niêm yết
chậm nhất là 3 ngày; cấp xã có hiệu lực sau 5 ngày và phải được niêm yết chậm
nhất là 2 ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thông qua
hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định
ngày có hiệu lực muộn hơn.
Các trường hợp văn bản hết hiệu lực được quy định tại điều 81 Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Về mặt nguyên tắc, văn bản quy phạm
pháp luật chỉ có giá trị pháp lý từ thời điểm có hiệu lực trở đi đến tương lai theo
đúng quy luật thời gian. Tuy nhiên, vì một số lý do nhất định, một văn bản có
thể có giá trị tác động đối với những hành vi, những vụ việc xảy ra trước ngày
văn bản đó có hiệu lực . Đó gọi là hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm
pháp luật hay gọi cách khác là hiệu lực hồi tố. Điều này được quy định tại điều
79 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Còn theo điều 51
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân năm 2004 thì không quy định hiệu lực hồi tố đối với văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân . Văn bản quy
phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết
định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2.3.2 Phạm vi, đối tượng áp dụng
Văn bản chỉ có giá trị áp dụng trong phạm vi và đối tượng áp dụng của mình,
đa số tất cả văn bản đều có quy định về nội dung này tại phần đầu văn bản. Do
đó, trước khi áp dụng bất kỳ quy định nào trong văn bản, nên xem lại thật kỹ
phần phạm vi và đối tượng áp dụng, để tránh được các rủi ro đáng tiếc. Văn bản
quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành thì có hiệu
lực trong phạm vi cả nước được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức mà văn
bản đó quy định. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi nhất định đơn vị hành chính địa
phương đó, áp dụng cho các cá nhân, tổ chức tham gia các quan hệ xã hội được
văn bản đó điều chỉnh.
của tín dụng NHTM
Tín dụng NHTM là mối quan hệ dựa trên sự chuyển giao tài sản, mục đích sử
dụng tài sản, thế chấp, cầm cố, xử lý thu hồi nợ Với những văn bản pháp luật
đầy đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh
doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực này. Đây là cơ sở pháp lý để Ngân hàng xử lý
các khiếu nại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra. Điều đó giúp Ngân hàng tăng
cường hoạt động cho vay .Do đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đầy đủ ,
thống nhất, minh bạch để tín dụng NHTM có thể vận hành một cách thông suốt,
19
mang lại lơi ích cho nền kinh tế. Do đó hành lang pháp lý cho tín dụng NHTM
có vai trò rất quan trọng.
- Là một trong những công cụ để cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế
quản lý hoạt động tín dụng NH thương mại.
NHTM cũng là một doanh nghiệp trong nền kinh tế. Tín dụng NHTM cũng là
một hoạt động kinh tế, chưa kể đó là một hoạt động kinh doanh rất quan trọng
trong nền kinh tế. Do đó, NHTM và hoạt động tín dụng NHTM phải được quản
lý . Cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ , tín dụng và ngân hàng ở
nước ta là NHNN Việt Nam . Vị thế của NHNN được xác bằng pháp luật và
đến lượt nó, NHNN phải ban hành các văn bản pháp luật để hướng dẫn, kiểm
tra, thanh tra hoặc xử lý các NHTM trong lĩnh vực tín dụng NHTM.
- Là công cụ điều chỉnh mối quan hệ tín dụng giữa NHTM và các khách hàng
Tín dụng NHTM là một hoạt động kinh doanh. Mối quan hệ trong tín dụng này
là giữa bên cho vay và bên vay. Hành lang pháp lý sẽ quy định, tư cách pháp lý,
điều kiện, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, cách xử lý khi có các trường hợp
phát sinh xảy ra, các thủ tục khi tiến hành mối quan hệ. Tín dụng còn là mối
quan hệ lồng ghép mối quan hệ khác như bảo đảm tài sản, bảo lãnh nên càng
phải có một hành lang pháp lý đầy đủ để điều chỉnh các mối quan hệ này. Hơn
nữa tiền của NHTM là tiền của công chúng nên các bên tham gia tín dụng
NHTM phải tuân thủ các quy tắc xử sự nhất định để tránh thất thoát, lãng phí
của cải của xã hội
hành từ thời gian đó. Mặt khác, tín dụng NHTM là một thực thể luôn biến đổi,
các chủ thể của mối quan hệ này luôn có nhu cầu thực hiện các nghiệp vụ mới .
Do đó, phải có đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật để đủ bao quát điều
chỉnh . Hành lang pháp lý đầy đủ phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu
cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của mối quan hệ này .
Khả năng này là rất khó nhưng đó là mục tiêu của những người làm luật, những
người làm chính sách.
1.2.6.2 Tính đồng bộ
Bất kỳ một quy phạm hay văn bản quy phạm pháp luật nào cũng được tạo
ra và tác động không phải trong sự độc lập, riêng rẽ mà trong một tổng thể
những mối liên hệ và những sự ràng buộc nhất định. Tín dụng NHTM là một
mối quan hệ phức tạp đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật phải có đồng
thời, không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo. Tất cả các văn bản quy
phạm pháp luật phải có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phải có một trung
tâm thẩm định trước khi ban hành
1.2.6.3 Tính thống nhất
21
Hành lang pháp lý phải có tính nhất quán, thể hiện ở chỗ các văn bản pháp
luật trong cùng một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau đều phải bảo đảm
thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể theo một quan điểm xuyên
suốt. Tính hệ thống có nghĩa là phải có ranh giới các đối tượng, phạm vi áp
dụng, tránh hiện tượng cùng một mối quan hệ nhưng có nhiều văn bản cùng
điều chỉnh. Tính hệ thống cũng có những khía cạnh tương đồng với tính nhất
quán. Tuy nhiên, tính nhất quán của pháp luật hàm chứa khía cạnh nội dung và
chính sách trong lúc đó tính hệ thống được thể hiện nhiều qua cấu trúc, cách sắp
xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của quy phạm pháp luật.
1.2.6.4 Tính khả thi, công khai, minh bạch
Tính minh bạch của pháp luật là một đòi hỏi rất quan trọng. Cũng có quan
điểm cho rằng tính minh bạch của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật được công
bố, được phổ biến rộng rãi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Nhà nước
tham gia vào các quá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý
xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách
đó, nhà nước thực hiện các nhiệm vụ :
1.3.1Nhiệm vụ của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
1.3.1.1 Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển;
Nhà nước phải đảm bảo sự ổn định về kinh tế chính trị và xã hội, xây
dựng cơ sở hạ tầng vật chất và cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống chính sách quản
lý kinh tế vĩ mô. Đó là sự ổn định về kinh tế chính trị và xã hội, hệ thống luật
pháp, hệ thống chính sách. Đó còn là ổn định về tài chính, tiền tệ, thị trường,
giá cả ít biến động, lạm phát thấp, cạnh tranh lành mạnh. giảm thiểu mâu thuẫn
xã hội, hạn chế thất nghiệp,đảm bảo đời sống nhân dân, tạo môi trường xã hội
thuận lơi, tạo niềm tin của nhân dân.Nhà nước phải xây dựng hệ thống cơ quan
hành chính công và hệ thống cơ quan sự nghiệp dịch vụ công cộng (giáo dục,
khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao); cung cấp và phát triển
các dịch vụ công cộng. Nhà nước phải bảo đảm tính bền vững và tích cực của
các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường. Nhà nước tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách
và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng một số biện pháp cần thiết khi thị
trường trong nước hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế
giới có biến động lớn. Nhà nước phải bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền
vững của nền tài chính quốc gia.
Nhà nước định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, qui hoạch, kế
hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường.
23
Thông qua công tác qui hoạch, kế hoạch phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh
của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển
kinh tế - xã hội. Việc xây dựng luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi và trách
nhiệm cho các chủ thể trong nền kinh tế và sẽ là căn cứ xử lý những hành vi vi
bệnh viện công… cũng tạo cơ hội cho người nghèo có thể tiếp cận
1.3.1.3 Bảo vệ môi trường.
Kinh tế thị trường có thể gây ra các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường
do đó nhà nước phải có chính sách sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử
dụng và giảm thiểu chất thải; xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; đầu tư
bảo vệ môi trường , xây dựng và phát triển ngành công nghiệp môi trường; hỗ
trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện
với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành
phần môi trường cho phát triển.
Trong lý thuyết ”Điều chỉnh nền kinh tế của nhà nước” J.M.Keynes cho
rằng nhà nước cần phải can thiệp sâu để điều tiết nền kinh tế. Trong các biện
pháp có sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ. Ông cho rằng
phải kích thích niềm tin. Tính lạc quan của các nhà đầu tư , tăng thêm khối
lượng tiền lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích vay vốn đầu tư vào
sản xuất kinh doanh. Đổi lại, nhà nước phải chấp nhận lạm phát có mức độ.
Ông cũng khuyến khích việc chi tiêu của nhà nước kể cả bằng cách in tiền để
bù đắp sự thiếu hụt ngân sách nhà nước , dùng công cụ thuế để điều tiết kinh tế
như giảm thuế cho sản xuất kinh doanh, tăng thuế thu nhập của người lao động
để tập trung nguồn vốn cho ngân sách nhà nước để mở rộng đầu tư.
Đối với nước ta, Nhà nước có nhiệm vụ rất quan trọng là quản lý kinh tế
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường và cơ
chế thị trường không làm giảm nhẹ sự quản lý của nhà nước.Vấn đề là phương
thức quản lý của nhà nước như thế nào để vừa đảm bảo đầy đủ các quy luật
khách quan của bản thân nền kinh tế thị trường vừa đảm bảo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đó là hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Do đó bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, định
hướng và hỗ trợ phát triển, Nhà nước còn phải làm thật tốt các nhiệm vụ phân
phối lại thu nhập quốc dân theo hướng công bằng, dân chủ và làm tốt nhiệm vụ
bảo vệ môi trường.