Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Sacombank
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAO THANH TOÁN:
2.1.1 Lịch sử hình thành sản phẩm bao thanh toán (BTT)
Nghiệp vụ BTT có lịch sử phát triển lâu dài, xuất phát từ hoạt động đại lý
hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã, phát triển ở Anh
vào thế kỷ 15 dưới hình thức ứng trả trước một phần cho người ủy nhiệm (nhà cung
ứng sản phẩm), và phát triển mạnh từ thế kỷ 19 thông qua các nhà đại lý thanh toán
ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện, hóa chất, sợi tổng hợp…Với lịch
sử lâu đời nên định nghĩa nghiệp vụ BTT cũng hết sức đa dạng.
Theo công ước về BTT quốc tế của UNIDROIT 1988, nghiệp vụ BTT được
định nghĩa như là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong
giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng. Theo đó, tổ chức tài trợ
thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng (gồm cho
vay và ứng trước tiền), quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các
khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
Còn hiệp hội BTT thế giới FCI thì định nghĩa BTT là một loại hình dịch vụ
tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín
dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa
người cung cấp dịch vụ BTT (factor) với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn
gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa (seller). Theo như thỏa
thuận factor sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ
của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa (buyer) hay còn gọi là con nợ trong
quan hệ tín dụng (debtor).
Ngoài ra, đối với một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác thì nghiệp vụ
BTT được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ
tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt
để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng (clients) đồng thời nhận lấy rủi ro tín
dụng. Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn
mức tín dụng và thu hộ.
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -21-
Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Sacombank
việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ
và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức
năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên
quan đến các khoản phải thu, thu nợ của các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không
thanh toán của bên mua hàng.
Đối với một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác thì nghiệp vụ này được
định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu hay việc cung cấp tài trợ tài chính
ngắn hạn thông qua việc trả các khooản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải
thiện dòng ngân lưu của khách hàng (client) đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng (rủi
ro khi người mua không thanh toán, người mua không nhận hàng…). Các dịch vụ đi
kèm gồm có: quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và
thu hộ.
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 của
Thống đốc NHNN, BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên
bán hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán
hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.
BTT là sự tổng hợp tính chất của các hoạt động tài trợ cho người bán, tài trợ
dựa trên hóa đơn, tài trợ thương mại hay chiết khấu hóa đơn.
Về cơ bản, BTT là hình thức cho vay ngắn hạn, trong đó người cho vay được
đảm bảo bằng cách nắm giữ quyền được đòi khoản phải thu của người đi vay.
Nói tóm lại, BTT được hiểu là sự chuyển nhượng nợ của người mua
hàng (con nợ) từ người bán hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vị
BTT (chủ nợ mới). Đơn vị BTT đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không
trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua. Đơn vị BTT có thể trả
trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng với một
khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được tiền hàng
đều do người tài trợ gánh chịu.
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -23-
Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Sacombank
Ngoài ra, nghiệp vụ BTT còn bao gồm một số dịch vụ như quản lý tài khoản
người bán sẽ phải trả một cái giá quá đắt. Thông thường để tạo diều kiện cho người
bán đồng thời khuyến khích người bán sử dụng dịch vụ BTT, các tổ chức BTT đưa
số lượng thanh toán còn lại tử 10 – 30% của các khoản phải thu vào tài khoản tiền
gửi của người bán. Người bán cũng được hưởng lãi suát từ khoản tiền gửi này cho
đến khi người mua thanh toán. Khi người mua thanh toán và tổ chức BTT nhận
được khoản thanh toán này thì khi đó tổ chức BTT sẽ thu hồi khoản tín dụng ứng
trước cộng với lệ phí BTT (bao gồm lệ phí hợp đồng, lệ phí dịch vụ, lệ phí rủi ro)
và lãi suất tín dụng ứng trước nếu có. Số còn lại cộng với lãi suất từ các khoản tiền
gửi sẽ được trả cho người bán.
Qua đó cho thấy, BTT thể hiện ưu thế của nó hơn các khoản tín dụng khác. Nó
tạo điều kiện thuận lợi cho người bán trong vấn đề vốn kinh doanh. Phần lãi từ tài
khoản tiền gửi đã giảm bớt lãi suất vốn vay – một khoản tiền gửi thực chất là chưa
có nguồn. Đó là điều vô lý. Nhưng không có nó thì không xảy ra hành vi mua bán
các khoản thanh toán nữa, phải chăng đây là một nghệ thuật NH. Hơn thế nữa, tài
khoản tiền gửi là cơ sở bảo đảm an toàn cho NH (tổ chức BTT) một khi sự cung
ứng không bảo đảm đủ điều kiện của hợp đồng thương mại.
• Nghiệp vụ chiết khấu : Với hình thức này, người bán có thể bán tất cả các
chứng từ thanh toán và vận chuyển cho tổ chức BTT và nhận tiền ngay tức khắc.
Nhưng tỷ lệ chiết khấu khá cao (từ 10 – 30%) và phụ thuộc vào khả năng thanh toán
của người mua. Hay nói cách khác tỷ lệ này bao hàm cả lệ phí rủi ro và lãi tín dụng
kể từ ngày mua cho tới ngày định kỳ thanh toán.
Để được chiết khấu các khoản thanh toán, người bán phải thực hiện các biện
pháp cần thiết để chống lại các rủi ro có thể xảy ra và phải nộp lệ phí cho dịch cụ
này. Do đó nghiệp vụ chiết khấu không ưu việt như nghiệp vụ ứng trước tài chính
và không phải thong dụng trong hoạt động BTT. Tuy vậy nó cũng có ưu thế hơn
nghiệp vụ chiết khấu của tín dụng chứng từ, vì đây là nghiệp vụ chiết khấu không
bảo lưu, trong khi chiết khấu hối phiếu trong hoạt động tín dụng thư được phép truy
đòi người phát hành hối phiếu.
c/ Bảo hiểm rủi ro tín dụng
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -25-
T
h
a
å
m
ñ
ò
n
h
t
í
n
d
u
ï
n
g
9
.
T
h
u
t
o
a
ù
n
2
.Y
e
â
u
c
a
à
u
t
í
n
d
u
ï
n
g
i
t
í
n
d
u
ï
n
g3
.
T
h
a
å
m
ñ
ò
n
h
t
h
a
ï
n
1
0
.
T
h
a
n
h
t
o
a
ù
n
Ñôn vò BTT XK
1
1
T
h
a
ï
n4
T
h
a
å
m
ñ
ò
n
h
H
Ñ
5
.
T
r
a
û
l
ô
ø
i
n
g
2
.Y
e
â
u
c
a
à
u
t
í
n
d
u
ï
n
g
Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh tốn tại Sacombank
• Quy trình thực hiện:
(1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bán
hàng hố.
t
í
n
d
u
ï
n
g
7
.
C
h
u
y
e
å
n
n
h
ư
ơ
ï
n
g
h
o
ù
c
1
1
T
h
a
n
h
t
o
a
ù
n
ư
ù
n
g
t
r
ư
ơ
ù
c3
.
h
u
n
ơ
ï
k
h
i
đ
e
á
n
h
a
ï
n
1
0
.
T
h
a
a
n
h
t
o
a
ù
n
1
0
T
h
u
n
ơ
ï
k
h
i
đ
e
á
n
h
i
t
í
n
d
u
ï
n
g
2
.
Y
e
â
u
c
a
á
u
t
í
n
d
u
(7) Người bán chuyển nhượng hố đơn, chứng từ bán hàng và các chứng từ
khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị BTT.
(8) Đơn vị BTT ứng trước một phần tiền hàng cho hợp đồng BTT.
(9) Khi đến hạn thanh tốn, đơn vị BTT tiền hành thu hồi nợ từ người mua.
(10)Người mua thanh tốn tiền hàng cho đơn vị BTT.
(11)Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía người mua, đơn vị BTT thanh tốn nốt
tiền chuyển nhượng khoản phải thu cho người bán.
b/ Bao thanh tốn xuất nhập khẩu: là nghiệp vụ BTT dựa trên hợp đồng
xuất nhập khẩu hàng hố, các khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các
nước khác nhau. Đơn vị bao thanh tán cấp tín dụng cho bên bán hàng thơng qua
việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hố, trong đó bên
bán hàng và bên mua hàng vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.
• Quy trình thực hiện:
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -28-
Đơn vò BTT XK
Nhà XK
(Người bán)
Nhà NK
(Ngườimu
a)
Đơn vò BTT NK
1. HĐ bán
hàng
7. Giao
hàng
1
1
T
h
a
ï
n4
T
h
a
å
m
đ
ò
n
h
H
Đ
1
3
.
T
h
a
n
h
t
o
r
ư
ơ
ù
c
8
.
C
h
u
y
e
å
n
n
h
ư
ơ
ï
n
g
H
Đ
B
T
T
6
n
g
2
.
Y
e
â
u
c
a
á
u
t
í
n
d
u
ï
n
g
3.Yêu cầu tín
dụng
8.Chuyển nhượng
5.Trả lời tín
dụng
12.Thanh toán, báo cáo chuyển
2.1.3.2 Theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro :
a/ Bao thanh toán truy đòi: là hình thức BTT, trong đó đơn vị BTT có quyền
truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả
năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu.
Vì vậy, trong BTT truy đòi, tổn thất chỉ thực sự xảy ra trong trường hợp khoản
phải thu không được thanh toán và người bán không thể bù đắp khoản thiếu hụt.
b/ Bao thanh toán miễn truy đòi: là hình thức BTT, trong đó đơn vị BTT chịu
toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán
khoản phải thu.
Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong
trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng không
đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên
mua hàng.
2.1.3.3 Theo thời hạn:
a/ Bao thanh toán ứng trước (BTT chiết khấu): là loại hình BTT trong đó
đơn vị BTT chiết khấu các khoản phải thu trước ngày đáo hạn và ứng trước tiền cho
đơn vị bán hàng (có thể đến 80% trị giá hoá đơn).
b/ Bao thanh toán khi đến hạn: là loại BTT theo đó đơn vị BTT sẽ trả cho các
khách hàng của mình (người bán hàng) số tiền bằng giá mua của các khoản bao
thanh toán khi đáo hạn.
2.1.3.4 Theo phương thức bao thanh toán:
a/ Bao thanh toán từng lần: đơn vị BTT và ben bán hàng thực hiện các thủ
tục cần thiết và ký hợp đồng BTT đối với các khoản phải thu của bên bán hàng.
b/ Bao thanh toán theo hạn mức: đơn vị BTT và bên bán hàng thoả thuận và
xác định một hạn mức BTT duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
c/ Đồng bao thanh toán: hai hay nhiều đơn vị BTT cùng thực hiện hoạt động
BTT cho một hợp đồng mua bán hàng, trong đó một đơn vị BTT làm đầu mối thực
hiện việc tổ chức đồng BTT.
2.1.4 Lợi ích khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -30-
Rất nhiều chủ thể kinh tế rơi vào tình trạng càng phát triển kinh doanh lại càng
thiếu tiền. Khi đó, BTT sẽ là phương tiện rất hiệu quả giúp họ vượt qua khó khăn.
Người mua nào cũng mong muốn mua hàng từ một người bán đưa ra giá thấp nhất
mà lại có nguồn hàng dồi dào nhất. Nhưng chính điều đó lại đẩy người bán vào tình
thế khó xử, càng phát triển lại càng phải bán chịu nhiều hơn. Thật không may là
phần lớn người bán không thể nào xoay xở được với tất cả các khoản bán chịu này.
Dù việc buôn bán có phát đạt đến thế nào thì tới một lúc người bán cũng nhận thấy
rằng mình đang rơi vào một tình thế rất nguy hiểm.
Các tổ chức BTT sẽ giảm thiểu rủi ro này bằng cách chuyển các hóa đơn chưa
thu được tiền thành tiền mặt, nhờ đó mà người bán có thể tiếp tục cấp tín dụng
thương mại cho người mua mà không cần phải lo rủi ro thanh khoản nữa. Hệ quả
trực tiếp của việc này là người bán nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình
nhờ sẵn sàng chấp nhận khoảng thời gian bán chịu hấp dẫn người mua hơn.
Các tổ chức BTT cam kết tận dụng sự thông thạo trong lĩnh vực tín dụng, thu
hồi nợ, cung ứng nguồn tiền mặt hay tài trợ giúp cho người bán nâng cao được hiệu
quả hoạt động, vừa tăng doanh số vừa giảm được mất mát do không thu hồi được
nợ, đồng thời cải thiện rõ rệt dòng lưu chuyển tiền tệ. Nhờ mọi rắc rối kể trên đã
được chuyển sang cho tổ chức BTT nên người bán có thể toàn tâm toàn ý tập trung
vào việc sản xuất hay cung ứng hàng hóa.
Nói tóm lại, người bán càng thêm có nhiều cơ hội làm ăn nhờ:
- Sẵn sàng bán chịu cho người mua mà không sợ ảnh hưởng đến dòng lưu chuyển
tiền tệ;
- Tăng doanh số;
- Tăng tồn trữ hàng tồn kho;
- Cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ;
- Tận dụng thế mạnh của chiết khấu thương mại;
- Nâng hạng tín nhiệm;
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -32-
Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Sacombank
- Tìm kiếm nhiều cơ hội mới.
- Các đơn vị BTT cung cấp dịch vụ này cùng lúc cho nhiều khách hàng nên xét
về quy mô sẽ giảm được chi phí cố định liên quan đến các khách hàng đó;
- Đơn vị BTT lớn nhất và nhiều kinh nghiệm nhất sẽ đứng ra làm đơn vị cung
cấp thông tin về tín dụng quy mô nhất, bổ sung vào các dịch vụ tương tự hiện có
của các trung tâm dữ liệu tín dụng thương mại tư nhân và quốc doanh. Đơn vị này
cũng sẽ hưởng được lợi ích kinh tế theo quy mô nhờ trao đổi thông tin với các trung
tâm trên;
- Trong trường hợp BTT chỉ là một nghiệp vụ của ngân hàng thì ngân hàng
cũng đã đa dạng hóa được danh mục dịch vụ cung ứng, đem lại tiện ích mới cho
khách hàng và nguồn thu không nhỏ cho ngân hàng.
2.1.4.4 Đối với quốc gia sử dụng dịch vụ bao thanh toán
- Tạo sức cạnh tranh và thu hút giao thương quốc tế trong điều kiện quốc gia
đó còn hạn chế về luật và tài chính, tạo tâm lý yên tâm cho nhà sản xuất, đẩy mạnh
hoạt động sản xuất đặc biệt là xuất nhập khẩu của quốc gia.
- Đối với hệ thống tài chính tiền tệ, BTT là điều kiện tốt nhất để điều tiết sự
lưu thông tiền tệ, ổn định tình hình tài chính thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Từ đó
kiểm soát được các khoản phải thu trong tương lai và hạn chế được các khoản nợ
xấu, nâng cao uy tín cho quốc gia.
- Ngoài ra BTT còn mang lại một khoản phải thu nhất định chonền kinh tế
quốc gia.
- Chính phủ các nước có thể tham gia tài trợ thông qua các liên minh BTT
quốc tế nhằm tăng cường các quan hệ giao thương quốc tế và củng cố vị thế trong
hoạt động ngoại thương.
2.2 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN Ở VIỆT NAM
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -34-
Chương 2: Thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Sacombank
2.2.1 Sự phát triển của bao thanh toán trên thế giới
Trên thế giới đến nay đã có hơn 1.147 đơn vị BTT và hoạt động đạt doanh số
hơn 1030 tỷ EUR BTT trong nước, 104 tỷ EUR BTT xuất – nhập khẩu, và đã có
khoảng 60 quốc gia tham gia vào hiệp hội BTT thế giới với tổng số thành viên là
Biểu đồ 6: Biểu đồ doanh số BTT thế giới giai đoạn 2001 - 2006
SVTH: Nguyễn Thanh Tú -35-