Sáng kiến kinh nghiệm dạy học
LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG
TỔ- NHÓM TRONG CÁC TIẾT DẠY Ở TRƯỜNG THCS ?
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
- Bạn là một giáo viên rất yêu nghề?
- Bạn là một giáo viên có nhiều kinh nghiệm?
- Bạn là người thường xuyên sử dụng thủ pháp tổ- nhóm trong các tiết lên lớp?
- Bạn là người hiểu rõ những ưu điểm của hoạt động tổ nhóm?
- Bạn cũng hiểu rõ những hạn chế của hoạt động này?
- Vậy bạn đã có những biện pháp gì để phát huy những ưu điểm và khắc phục
những hạn chế củahoạt động này?
Đó là một vấn đề mà chắc hẳn nhiều giáo viên THCS đã và đang trăn
trở, và tôi cũng là một rong số đó. Với kinh nghiệm và thời gian có hạn, tôi
muốn trao đổi với các bạn đồng nghiệp một số sáng kiến nhỏ nhằm khắc phục
những hạn chế của hoạt động tổ-nhóm - hoạt động được xem là không thể thiếu
trong hoạt động dạy học hiện nay.
II. THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TỔ NHÓM TRONG
CÁC GIỜ DẠY TẠI TRƯỜNG THCS.
- Là một giáo viên mỗi chúng ta phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề. Trong đó việc dự giờ là một trong nững
hoạt động học tập rất bổ ích và tích cực trong hoạt động sư phạm của người
giáo viên. Khi đi dự giờ chắc hẳn các bạn và tôi không chỉ dự giờ những tiết
dạy thuộc lónh vực chuyên môn của mình mà còn dự những tiết dạy thuộc nhiều
lónh vực chuyên môn khác không ngoài mục đích học hỏi và rút kinh nghiệm.
Bản thân tôi đã rút ra rằng đa số các giáo viên rất tích cực khai thác những hoạt
động tổ nhóm khi lên lớp và nó cũng đã phát huy được nhiều mặt tích cực như:
+ Gúp lớp học có không khí sôi nổi.
+ Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
+ Tập hợp được nhiều ý kiến làm cho những phương án trả lời thêm
phong phú.
+ Tạo cơ hội để những học sinh khá giỏi giúp đỡ những học sinh yếu.
3. Môn Vật lý:
Đối với bộ môn này hoạt động tổ- nhóm được triển khai trong cả giờ lý
thuyết và nhiều hơn trong các giờ thực hành. Khi dự giờ môn vật lý tôi thấy
việc tổ chức hoạt động tổ- nhóm gặp nhiều khó khăn như: Thiết bò, đồ dùng thí
nghiệm thì hạn chế, học sinh đông, thời gian thí nghiệm ngắn. Mỗi nhóm ít nhất
cũng gần 10 em và đa số kết quả hoặc câu trả lời cho hoạt động làm thí nghiệm
đều chủ yếu đến từ những học sinh khá giỏi, còn những học sinh trung bình
hoặc yếu không tự tin hoặc là ngồi chờ người khác trả lời.
4. Môn Đòa lý:
Hoạt động tổ- nhóm ở bộ môn này thường chủ yếu là trả lời câu hỏi hoặc
phân tích bản đồ. Việc kết quả trả lời của cả nhóm chủ yếu là ý kiến của một
vài học sinh khá giỏi cũng xảy ra thường xuyên. Việc đứng lên hoặc lên bảng
Người thực hiện: Đào Xuân Thành – Trường THCS Hoàng Văn Thụ
Sáng kiến kinh nghiệm dạy học
trình bày củng chủ yếu là những học sinh này. Giả sử giáo viên muốn gọi
những học sinh trung bình, yếu cũng chẳng đủ thời gian.
5. Môn Ngữ văn :
Hoạt động tổ- nhóm ở bộ môn này cũng chủ yếu là thảo luận trả lời câu
hỏi và thường diễn ra ở phần tổng kết bài. Việc phát hiện câu trả lời và đại
diện nhóm để trả lời câu hỏi cũng chủ yếu đền từ nhũng học sinh khá, giỏi.
III. NGUYÊN NHÂN :
Qua nghiên cứu từ các tiết dự giờ ở các bộ môn có triển khai các hoạt
động tổ- nhóm, xét tính hiệu quả và những hạn chế của phương pháp này tôi
thấy nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đó là :
1. Số học sinh ở mỗi lớp quá đông, trung bình là khoảng 35 đến 40 em và
như vậy khi chia nhóm các giáo viên thường chia theo tổ, hai bàn quay mặt với
nhau hoặc ít nhất cũng theo bàn học. Nếu chia theo bàn học thì vò trí ngồi của
các em cũng khá xa nhau tạo điều kiện cho những học sinh trung bình, yếu
hoặc lười biếng ỷ lại.
2. Thời gian dành cho thảo luận tổ- nhóm là quá ít. Những học sinh yếu
thời vừa tiết kiệm được thời gian thì giáo viên nên nghiên cứu để đưa ra những
câu hỏi mang tính gợi mở, những câu hỏi này nên ở dạng trắc nghiệm. Đối với
dạng câu hỏi trắc nghiệm những học sinh trung bình, yếu có thể suy nghó để
chọn đáp án đúng nhất. Điều này tạo cơ hội cho các em có thể tự tin hơn khi
tham gia thảo luận.
- Câu hỏi thảo luận có rất nhiều dạng, các dạng câu hỏi thảo luận phù
hợp với hoạt động tổ-nhóm là:
+ Dạng câu hỏi đúng sai: Giáo viên đưa ra một số câu liên quan đến mục
đích của câu hỏi thảo luận và yêu cầu học sinh xác đònh xem những câu đó
đúng hay sai.
+ Dạng trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời : Mỗi câu hỏi có nhiều
phương án trả lời . học sinh suy nghó để chọn phương án trả lời đúng nhất.
+ Dạng bài tập nối một mệnh đề hoặc câu hỏi ở cột A với mệnh đề hoặc
câu trả lời ở cột B. Giáo viên có thể đưa ra ở cột A một số câu hỏi và bên cột B
một số câu trả lời đã bò xáo trộn. Học sinh thảo luận để nối cho đúng.
+ Dạng bài tập nối thông tin, điền từ còn thiếu vào chỗ trống:
+ Dạng bài tập sửa lỗi câu, sửa thông tin sai.
- Sau đây tôi xin đưa ra một ví dụ về cách chuẩn bò câu hỏi thảo luận ở
dạng trắc nghiệm đối với hoạt động tổng kết bài trong tiết dạy truyện cổ tích
Em bé thông minh – Ngữ Văn 6: ( Học sinh được chia làm các nhóm 4 người ):
Câu hỏi 1: Yếu tố nào có vai trò quan trọng nhất trong các lần chiến thắng của
em bé thông minh?
a. Năng lực trí tuệ b. Hiểu biết
c. Nhạy cảm d. Kinh nghiệm
Câu hỏi 2: Tại sao em bé thông minh được hưởng vinh quang?
a. Nhờ may mắn và tinh ranh
b. Nhờ sự giúp đỡ của thần linh.
c. Nhờ sự yêu mến của vua.
d. Nhờ thông minh, hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân.
Câu hỏi 3: Xác đònh những nhận đònh sau là đúng hay sai với nội dung hoặc ý
hoàn thành trong phiếu thảo luận của mình). Sau đó học sinh phải giữ phiếu
thảo luận của mình lại để khi cần giáo viên bộ môn kiểm tra. (Đối với những
bộ môn có hoạt động tổ- nhóm ở tiết thực hành hoặc làm thí nghiệm thì phiếu
thảo luận được gọi là phiếu kết quả thí nghiệm hoặc thực hành). Một học sinh
trong nhóm làm thí nghiệm mỗi thành viên phải quan sát và ghi kết quả vào
phiếu của mình.
4. Đánh giá ý thức tham gia vào hoạt động tổ-nhóm của học sinh:
- Căn cứ vào phiếu thảo luận của học sinh sau một tháng giáo viên bộ
môn có thể lấy ngay một điểm miệng hoặc điểm thưởng. Đây là biện pháp
khuyến khích học sinh và cũng răn đe những học sinh không tích cực đồng thời
giúp giáo viên kiểm soát được học sinh trong các hoạt động này.( Việc này
cũng có thể giao cho tổ-nhóm trưởng tổng hợp, báo cáo về giáo viên bộ môn ).
Người thực hiện: Đào Xuân Thành – Trường THCS Hoàng Văn Thụ