Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP công thương – Viettinbank – chi nhánh sông nhuệ – Hà Nội - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngân hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọng của
toàn bộ nền kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc
hoàn thiện và mở rộng các hoạt động là hướng đi và phương trâm cho các
ngân hàng tồn tại và phát triển. Trong các hoạt động của ngân hàng có hoạt
động cho vay, tuy nhiên từ xưa đến nay, các ngân hàng chỉ quan tâm đến cho
vay sản xuất mà chưa quan tâm đến giai đoạn cuối cùng của sản xuất là tiêu
dùng. Nếu chỉ cho vay sản xuất nhiều mà khách hàng không tiêu thụ được do
dân không có nhu cầu về hàng hóa đó hoặc có nhu cầu nhưng không có khả
năng thanh toán thì tất yếu sẽ dẫn đến cung vượt quá cầu, hàng hóa bị tồn kho
và ứ đọng vốn.
Từ thực tế đó cho thấy khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công
ty, doanh nghiệp là cần vốn để sàn xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà
hiện nay, các cá nhân cũng là những người cần vốn hơn bao giờ hế. Cuộc
sống này ngày càng hiện đại, mức sống của người dân cũng được nâng cao,
cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà dần chuyển
sang “ăn no, mặc đẹp” và cũng còn biết bao nhiêu nhu cầu khác cần phải đáp
ứng. Giờ đây, tâm lý của người dân coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóa
trước khi thanh toán. Đáp ứng lòng mong mỏi của người dân, các ngân hàng
phát triển một hoạt động cho vay mới, đó là cho vay tiêu dùng, một mặt vừa
tạo thêm thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác giúp đỡ cho các cá nhân có
được nguồn vốn để cả thiện cuộc sống cho mình
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng chuyên phục vụ cho đối tượng khách
hàng là cá nhân. Các sản phẩm dịch vụ được cung cấp phổ biến bao gồm tiết
kiệm, kiểm tra tài khoản, cho vay cá nhân, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… và rất
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
nhiều dịch vụ khác. Một trong những sản phẩm chiếm tỉ trọng cao trong hoạt

Em xin trân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn…. và cán bộ tín dụng ở Ngân
Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương – Chi nhánh Sông Nhuệ - Hà Nội
đã đóng góp nhưng ý kiến quý báu giúp em hoàn thành chuyên đề này.
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
Chương I
Tổng Quan Về Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng
Của Ngân Hàng Thương Mại
1.1 khái niệm đặc điểm lợi ích cho vay tiêu dùng
1.1.1 khái niệm và đặc điểm
Với số dân hơn 80 triệu người, phần đông là dân số trẻ, năng động, thu nhập
không ngừng được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng đang tăng cao, nên không chỉ
các NH nước ngoài, NH liên doanh, NH trong nước mà nhiều định chế tài
chính cung ứng dịch vụ tiêu dùng hàng đầu thế giới vẫn đang tiếp tục vào VN.
Cho vay tiêu dùng là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của hộ
gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang
trải nhu càu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ…Bên cạnh nhưng chi tiêu về
nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu
dùng.
Cho vay tiêu dùng có những đặc điềm sau:
Một Là quy mô của hợp đồng cho vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ
chức cho vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi xuất
của các loại cho vay lĩnh vực thương mại và công nghiệp:
Hai là cho vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc và chu kỳ
kinh tế
Ba là nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với
lãi suất mà thông thường quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi xuất
mà họ phải chịu.
Bốn là mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất

hàng. Trong ý nghĩ của công chúng, ngân hàng không chỉ là tổ chức biết quan
tâm đến công ty doanh nghiệp mà ngân hàng còn quan tâm đến những nhu
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện đời
sống của người tiêu dùng. Từ đó uy tín của ngân hàng sẽ ngày càng được
nâng cao hơn.
Thứ hai cho vay tiêu dùng cũng là một hoạt động maketting rất hiệu
quả, nhiều người sẽ biết tới ngân hàng hơn. Từ đó mà ngân hàng cũng sẽ huy
động được nhiều nguồn tiền gửi từ dân cư.
Thứ ba cho vay tiêu dùng tạo điều kiện mở rộng đa dạng hóa kinh
doanh từ đó mà nâng cao thu nhập phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Đối với người tiêu dùng, nhờ cho vay tiêu dùng họ được hưởng tiện ích
trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho
những cá nhân chi tiêu mang tính chất cấp bách như nhu cầu chi tiêu về giáo
dục y tế. Tuy vậy nếu lạm dụng đi vay để tiêu dùng thì cũng rất tai hại vì nó
có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả
năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, còn rất nghiêm trọng hơn nếu
người nay mất khả năng chi trả thì có thể gặp phiền toái trong cuộc sống.
Cuối cùng đối với nền kinh tế cho vay tiêu dùng góp phần khơi thông
luồng chuyển dịch hàng hóa. Quá trình sản xuất luu thông hàng hóa nếu như
không có tiêu dùng thì tất yếu sẽ bị tắc nghẽn, hàng hóa không tiêu thụ được
dẫn đến doanh nghiệp bị ứ đọng vốn và đương nhiên quá trình sản xuất sẽ
không thể tiếp tục. Vai trò của ngân hàng lúc nay trở nên quan trọng hơn bao
giờ hết. Ngân hàng cho họ vay vốn đã tạo ra khả năng thanh toán cho họ trước
khi tích lũy đủ số tiền cần thiết. Khách hàng có tiền sẽ tìm đến doanh nghiệp
mua hàng và doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa, sau đó mới có khả năng
thanh toán nợ cho ngân hàng. Khi đã tiêu thụ được hàng hóa doanh nghiệp sẽ
mở rộng sản xuất và sẽ tìm đến ngân hàng để tiếp tuc vay vốn. Như vậy ngân

Đối với khoản cho vay tiêu dùng này ngân hàng thường chú ý tới một số
vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau:
- Loại tài sản được tài trợ: thiện trí của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài
sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu cấp thiết với họ lâu dài trong
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
tương lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thường chú ý đến điều
kiện này, nên thường muốn tài trợ nhu cầu mua sắm hoặc nhưng tài sản có giá
trị lớn có thời hạn sử dụng lâu dài. Vì rằng với loại tài sản như vậy người tiêu
dùng sẽ được hưởng những lợi ích từ chúng trong một khoảng thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay
phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, số tiền nay được
gọi là số tiền trả trước, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước
cần phải đủ lớn để một mặt, làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ
sở hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Một
khi không đảm nhận được rằng mình chính là chủ sở hữu của tài sản hình
thành từ tiền vay thì người đi vay sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ.
Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị, tức là giá trị của thị
trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước có một
vai trò rất quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro. Số tiền trả trước nhiều
hay ít thường phụ thuộc vào những yếu tố sau: (i) loại tài sản: đối với tài sản
có giá trị giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với tài
sản giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít; (ii) thị trường tiêu thụ tài sản khi đã
sử dụng: tài sản khi đã sử dụng nếu vẫn có thể được tiếp tục mua, bán dễ dang
thì số tiền trước có su hướng thấp, ngược lại nếu tài san đã qua sử dụng mà rất
khó có thể tìm thị trường tiêu thụ thì số tiền trả trước có su hướng cao hơn;
(iii) môi trường kinh tế; (iv) năng lực tài chính của người đi vay.
- Chi phí tài trợ: là chi phí người đi vay trả cho ngân hàng cho việc sử
dụng vốn. Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên

Theo phương pháp gộp lãi được tính trên cơ sở vốn gốc ban đầu cho toàn
bộ thời hạn vay. Trong khi đó, vào mỗi định kỳ, người đi vay phải thanh toán
một phần vốn gốc cho nên vốn gốc ban đầu được giảm dần trong thời hạn
vay. Với cách tính như vậy, lãi suất được dùng để tính lãi không phải là lãi
suất thực sự được áp dụng đối với người đi vay. Để bảo vệ quyền lợi của
người vay, khi tính toán theo phương pháp này pháp luật các nước yêu cầu
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
các ngân hàng phải quy đổi lãi xuất tính toán sang lãi xuất hiệu dụng và niêm
yết để người vay dễ dàng cân nhắc chi phí vay mượn mà mình phải trả cho
ngân hàng, từ đó quyết định lựa chọn hợp lý.
Công thức để quy đổi ra lãi xuất hiệu dụng như sau:
i= 2mL/V(n+1)
Trong đó i: là lãi xuất hiệu dụng
m : là số kỳ hạn thanh toán trong một năm
Tâm lý của người đi vay trả góp rất thích được tài trợ với thời hạn dài để
giảm số tiền thanh toán mỗi kỳ hạn. Thế nhưng công thức trên cho thấy n
càng lớn thì lãi xuất hiệu dụng càng có giá trị cao hơn. Có nghĩa là người đi
vay phải trả cho ngân hàng lãi xuất cao hơn nếu họ muốn vay với kỳ hạn dài
hơn.
- Phương pháp lãi đơn: theo phương pháp này vốn gốc người đi vay phải
trả từng định kỳ được tinh đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho
số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi định ky phải tính trên số tiền khách
hàng thực sự còn thiếu ngân hàng.
- Phương pháp giá hiện hành: theo phương pháp này số tiền phải trả
hàng kỳ trong tương lai đều quy về giá trị hiện tại.
- Thông thường người đi vay được quyền thanh toán tiền vay trước hạn
mà không bị phạt. Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp lãi đơn và
phương pháp giá hiện hành thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay phải thanh

1.2.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Cho vay tiêu dùng gồm:
1.2.3.1. cho vay tiêu dùng gián tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng
mua các khoản nợ phát sinh do các công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay
dịch vụ cho người tiêu dùng.
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau: cho phép ngân hàng dễ
dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng; cho phép ngân hàng tiết giảm được chi
phí trong cho vay; là ngồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và
các hoạt động ngân hàng khác; trong trường hợp có quan hệ với công ty bán
lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn so với cho vay tiêu dùng trưc
tiếp.
Bên cạnh một số ưu điểm trên chp vay tiêu dùng gián tiếp có một số
nhược điểm sau: ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã
được bán chịu; thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện
việc bán chịu hàng hóa ky thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính
phức tạp cao
Do rất nhiều nhược điểm kể trên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà
với cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn nếu ngân hàng nào tham gia vao hoat
động này đều có cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
1.2.3.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay mà ngân hàng trực tiếp tiếp
xúc cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay.
Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được những
sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này được đào tạo chuyên môn
và có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên quyết định tín
dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng hơn so với trường hợp

dài nên lãi xuất trên thị trường cũng có thể có những biến động lớn trong suốt
quá trình cho vay vốn. Nếu áp dụng một mức lãi xuất cố định trong suốt thời
hạn cho vay thì khi lãi suất trên thì trường tăng, ngân hàng có thể phải chịu
rủi ro vì cho vay với lãi suất quá thấp. Ngược lai nếu lãi suất trên thị trường
giảm, những khoản vay của ngân hàng với lãi xuất cao sẽ không còn hấp dẫn
được khách hàng, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
Trong trường hợp khoản vay được thực hiện bằng ngoại tệ thì các ngân
hàng có thể gặp rủi ro khi tỉ giá hối đoái thay đổi trong khi nguồn thu nhập
của người đi vay lại bằng nội tệ
1.3.2 quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng liên quan đến số lượng lớn
khách hàng. Mỗi người vay có khối lượng vay tương đối nhỏ và các ngân
hàng cần phải xử lý rất nhiều khoản vay này để tạo ra số dư lớn trong hoạt
động cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo. Với số lượng khách hàng
lớn như vậy, các nhà quản lý ngân hàng cần phải thực hiện các biện pháp
kiểm soát, quản lý rủi ro hiệu quả đối với quá trình cấp tín dụng tiêu dùng.
Quản lý rủi ro trong tín dụng tiêu dùng được hiểu là một chiến lược
quản lý danh mục cho vay trong đó đảm bảo sự cân đối giữa bảo toàn vốn và
tôi ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn. Hay nói cách khác quản trị rủi ro trong
hoạt động cho vay tiêu dùng là một quá trình liên tục nhận ra và nắm bắt
những cơ hội cho vay thich hợp và tránh những rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận
cho ngân hàng. Trong quản trị rủi ro với hoạt động cho vay, việc nắm bắt
thông tin về khách hàng và quản lý thông tin một cách thông nhất là yếu tố
then chốt giúp viêc cho vay đạt hiệu quả cao. Mặc dù đây là nguyên tắc khá rõ
ràng nhưng việc thực hiện theo nguyên tắc đó lại gặp rất nhiều khó khăn.
Quản trị rủi ro tín dụng tiêu dùng bao gồm những yếu tố nội dung chủ
yếu sau đây:

doanh
3_kiểm tra và xác minh thông tin
4_phân tích
a_báo cáo tài chính
b_lưu chuyển tiền mặt
5_đánh giá tài sản bảo đảm nếu cần
thiết
6_đánh giá cơ cấu khoản tín dụng
7_thương lượng với người xin vay
Phương pháp hệ thống điểm số
Hoạt động cho vay tiêu dùng trực tiếp từ ngân hàng liên quan đến một số
lượng rất đông các khách hàng. Mỗi khách hàng thường vay một số tiền nhỏ
hơn nhiều so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Muốn có một mức dư nợ lớn
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
trong hoat động cho vay tiêu dùng, các ngân hàng phải thực hiện một số
lượng cho vay gấp nhiều lần so với cho vay trong các lĩnh vực nói trên. Khi
số lượng khách hàng lớn thì yêu cầu về cơ chế kiểm soát an toàn và hiệu quả
đối với việc ra quyết định cho vay là hết sức cần thiết nhưng trong những
trường hợp như vậy ngân hàng thường sử dụng một phương pháp hỗ trợ rất
đắc lực để ra quyết dịnh tín dụng đó là hệ thống điểm số.
Hệ thống điểm số là tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến từng
khách hàng vay tiêu dùng. Mỗi tiêu thức có một điểm số khác nhau tùy theo
tình trạng của tiêu thức này và tầm quan trọng của nó trong hệ thống các tiêu
thức, dựa trên cơ sở các kết quả thống kê trong lich sử.
Trên thực tế hệ thống điểm số thường có rất nhiều yếu tố, được xây
dựng dựa trên nguyên tắc nói trên. Thông thường trong hệ thống điểm số
thường có 7 đến 12 tiêu thức khác nhau vd: tình trạng gia đình, độ tuổi, thời
hạn cư trú tài sản có tại ngân hàng vv…

7.số người sống dựa vào người vay
Không 3
Một 3
Hai 4
Ba 4
Nhiều hơn ba 2
8.loại tài khoản có tại ngân hàng
Cả tài khoản séc lẫn tài khoản tiết kiệm 4
Chỉ có tài khoản tiết kiệm 3
Chỉ có tài khoản séc 2
Không có tài khoản nào 0
Điểm cao nhất đối với một khách hàng theo hệ thống số điểm này là 43 điểm.
Còn điểm thấp nhất là 9 điểm.
Căn cứ vào số liệu thống kê trong quá khứ về khả năng rủi ro của các
khách hàng có số điểm giống nhau, các ngân hàng thường đưa ra nhiều mức
cho vay tối đa khác nhau đối với từng loại khách hàng có điểm số ở những
nhóm điểm khác nhau. Ví dụ sau đây là mức cho vay tối đa đối với từng
khách hàng có điểm số khác nhau của ngân hàng mỹ nói trên:
Biểu 3: mức cho vay tối đa theo điểm số của ngân hàng mỹ
Điểm số Số tiền cho vay tối đa
Điểm từ 28 điểm trở xuống 0
29 đến 30 điểm 500
31-33 điểm 1.000
34-36 điểm 2.500
37-38 điểm 3.500
39-40 điểm 5.000
41-43 điểm 8.000
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
17
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng

trong việc đua ra quyết định đối với ngân hàng.Tùy ngân hàng mà hệ thống
phân tích các yếu tố có thể khác nhau.
- Xác định giới hạn cho vay
Việc xác định giới hạn cho vay sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ rủi ro
của khoản vay sau này. Xác định giới hạn cho vay nhằm tránh mục đích tránh
để khách hàng rơi vào tình trạng vay nợ quá nhiều. Theo đánh giá của định
chế tài chính chuyên nghiệp, có ba dấu hiệu để nhận biết khách hàng đang vay
nợ quá nhiều:
+ Sử dụng 25% thu nhập của mình để thanh toán cho các khoản tín dụng
tiêu dùng
+sử dụng 50% thu nhập của mình để thanh toán cho các khoản vay mua
nhà trả chậm hoặc các khoản tín dụng tiêu dùng khác
+có từ 4 hợp đồng tín dụng tiêu dùng trở lên tại cùng một thời điểm
1.4 các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân
hàng thương mại
1.4.1 nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
(1) định hướng phát triển của ngân hàng, là điều kiện tiên quyết để
phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng. Nếu trong phát triển của ngân hàng
không quan tâm đến hoạt động này thì các khách hàng có nhu cầu về cho vay
tiêu dùng sẽ không được quan tâm. Ngược lại nếu ngân hàng muốn phát triển
hoạt động cho vay tiêu dùng thì họ sẽ đua ra những chiến lược cụ thể để thu
hút những người có nhu cầu đến với mình. Và khi đó cung cầu sẽ có điều kiện
thuận lợi để gặp nhau cũng có nghĩa là cho vay tiêu dùng cũng sẽ có nhiều cơ
hội để phát triển.
(2) năng lực tài chính của ngân hàng sẽ là một trong những yếu tố
được ngân hàng xem xét khi đưa ra những quyết định trong đó có những
quyết định về hoạt động cho vay tiêu dùng. Năng lực tài chính của ngân hàng
được xác định dựa trên các yếu tố số lượng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
19

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
gắt thì một chính sách tín dụng đúng đắn hợp lý sẽ thu hút khách hàng hiệu
quả, từ đó thực hiện thành công việc mở rộng cho vay tiêu dùng
(4) số lượng, trình độ cũng như đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ
tín dụng
Cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay tiêu dùng của các
ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay tiêu dùng có thực hiện được hay
không là do người điều hành, đó chính là cán bộ nhân viên của ngân hàng.
Bởi vậy, nếu muốn hoạt động cho vay ngân hàng phát triển cần quan tâm đến
đời sống của cán bộ nhân viên. Nếu như đạo đức người vay được xếp vào yếu
tố hàng đầu trong các yếu tố khách quan thì đạo đức của cán bộ tín dụng dược
xếp vào nhân tố hàng đầu trong các nhân tố chủ quan. Nếu cán bộ tín dụng
không có đạo đức nghề nghiệp thì có giỏi đến mấy cũng vô giá trị vì lợi ích cá
nhân họ sẵn sàng làm tổn hại đế lợi ích của ngân hàng. Tuy nhiên đạo đức
thôi không đủ cán bộ tín dụng cần trình độ chuyên môn cao hiểu biết rộng có
đạo đức nghề nghiệp tạo ấn tượng đẹp đối với ngân hàng .
(5) trình độ khoa học công nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng
Cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển
hoạt động cho vay tiêu dùng tai ngân hàng đó. Nếu một ngân hàng được trang
bị thiết bị hiện đại thì sẽ tăng tiện ích cho khách hàng và các dịch vụ của họ sẽ
được biết đến nhiều hơn. Ví dụ ngân hàng có thể đầu tư vào dịch vụ thẻ thanh
toán đặt các may rút tiền có thể giao dịch với họ thông qua dịch vụ internet…
thì ngân hàng có thể mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của mình thông
qua các tài khoản của khách hàng đã sử dụng dịch vụ trên của ngân hàng như
cho vay thấu chi, thẻ tín dụng… hơn nữa áp dụng khoa học công nghệ tiên
tiến ngân hàng sẽ quan lý thông tin dễ dàng hơn tiết kiệm được thông tin chi
phí giảm được các thủ tục rườm rà cho khách hàng.
1.4.2. nhóm nhân tố thuộc về khách hàng
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
21

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
tỷ lệ lạm phát cao trước đó. Mặt khác nền kinh tế vĩ mô phát triển chậm chạp
cũng khiến thu nhập của người dân trở lên bấp bênh, các chi phí biến động
khó kiểm soát, do người tiêu dùng phải giảm các khoản vay của họ.
1.4.3.2.Quan điển thúc đẩy tiêu dùng trong nước của chính phủ sẽ tạo cơ
hội mở rộng thi trường tín dụng tiêu dùng
Khi chính phủ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế coi trọng việc xuất
khẩu thì bộ phận trong nước sẽ ít được quan tâm hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm
của các nước cho thấy phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào bên ngoài do
đó nhiều nước lựa chọn phát triển kinh tế bền vững hơn là phát triển dựa vào
tiêu dùng trong nước. Với quan điểm đó chính sách tích cực của chính phủ
đẩy mạnh tiêu dùng trong nước (chính sách thuế, chính sách thu nhập, chính
sách thương mại, y tế, giáo dục…) là cơ hội mở rộng tín dụng tiêu dùng.
1.4.3.3.môi trường pháp luật
Một hệ thống phát triển toàn diện là cơ sở bảo vệ thị trường tài chính an
toàn ổn định thúc đẩy định chế tài chính nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ
tài chính chất lượng cao cho dân cư bảo vệ quan hệ bình đẳng cho khách hàng
va ngân hàng….
1.5 Kinh nghiệm cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại của
một số nước và bài học đối với một số ngân hàng thương mại tại việt nam
1.5.1. hoạt động cho vay tiêu dùng tại một số nước
1.5.1.1. hoạt động cho vay tiêu dùng tại trung quốc
Dịch vụ tiêu dùng càng ngày càng trở nên phổ biến và được khuyến
khích phát triển tại NHTM trung quốc. Các nhà quản lý ngân hàng đã nhận
thấy cho vay tiêu dùng chính là tương lai của các ngân hàng thương mại họ
phải tập chung nguồn lực của mình nhiều hơn trong lĩnh vực này
1.5.1.2.Cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại châu âu.
Tại châu âu tín dụng tiêu dùng phát triển muộn hơn các loại hình tín
dụng khác. Nó đáp ứng nhu cầu ngày một lớn của người dân tại các quốc gia
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A

SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng
trầm trọng. Thẩm phán tòa án kinh tế sẽ xác định số tiền còn lại mà họ tiếp
tục phải chịu
Rủi ro và bảo đảm tín dụng
Tín dụng tiêu dùng được đánh giá mang nhiều rủi ro. Để đảm bảo cho khoản
tín dụng ngân hàng đòi hỏi khách hàng
Ký kết một hợp đồng bào hiểm chọn đời liên quan trực tiếp đến khoản vay cá
nhân này, nhằm đảm bảo chi trả khi khách hàng qua đời trong thời hạn hợp
đồng còn giá trị
1.5.2.Bài học kinh nghiệm rút ra đối với các NHTM tại việt nam
Tại đa số các nước ngân hàng ngày càng quan tâm phát triển đến loại hình tín
dụng tiêu dùng trong hoạt động tín dụng chung của họ. Hoạt động cho vay
tiêu dung ngày càng trở nên phổ biến và được khuyến khích phát triển. tính
đến nay, kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại các nước cho thấy đây là loại
hình rủi ro tương đối thấp, góp phần ổn định thu nhập cho ngân hàng, nhất là
các nước có khu vực công ty làm ăn kem hiệu quả.
_Những hiểu biết của người dân về các vấn đề liên quan đến hoạt động
cho vay tiêu dùng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chất lượng của hoạt động
này
_ Việc phát triển cho vay tiêu dùng đòi hỏi ngân hàng phải có quy định
quy trình giám sát và quản lý rủi ro tín dụng (trước trong và sau khi cấp tín
dụng) chặt chẽ tỉ mỉ, hệ thống đánh giá thông tin khách hàng đầy đủ, cập nhật
cho hình thức tín dụng này chủ yếu là các món vay nhỏ không có tài sản đảm
bảo
_Để phát triển hình thức tín dụng này và đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh an toàn của ngân hàng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa ngân hàng
trung ương các tổ chức tín dụng và các cơ quan quản lý hành chính khác
SV: Phùng Minh Đạt Lớp: TC12A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status