Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển,vai trò của ngành dịch vụ ngân hàng – tài
chính càng quan trọng.các ngân hàng thương mại trong nước từng bước nỗ lực để hoạt
động hiệu quả,tồn tại và phát triển. Đời sống dân cư nâng cao,nhu cầu về tiêu dùng tăng
cao với nhiều hình thức tiêu dùng khác nhau.vì thế NHTM cần phải phát triển hệ thống
dịch vụ đa dạng, tiện ích, định hướng theo nhu cầu của nền kinh tế trên cơ sở nâng cao
chất lượng và hiệu quả dịch vụ truyền thống và tiếp cận với hệ thống NH hiện đại.
Cho vay tiêu dùng là một dịch vụ khá mới mẻ ở việt nam dù nó phổ biến trên thế
giới.Các NH tại Việt Nam nói chung và ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội
nói riêng đang dần tiếp cận nguồn tài nguyên này.
Khoảng thời gian thực tập, em nhận thấy rằng hoạt động cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội là một lĩnh vực ít được chú ý và chưa
thực sự khai thác triệt để,hiệu quả. em đã chọn đề tài tốt nghiệp là: “Phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội”
Đề tài được trình bày gồm 3 phần chính:
Chương I: Cho vay tiêu dùng tại các NHTM
Chương II: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi
nhánh hà nội.
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài
gòn công thương chi nhánh hà nội..
CHƯƠNG I : LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một tổ chức quan trọng bậc nhất đối với nền kinh tế của các quốc
gia. Ngân hàng bao gồm nhiều loại như: Ngân hàng trung ương, ngân hàng phát triển,
ngân hàng chính sách nhưng được đề cập đến nhiều nhất, chiếm nhiều nhất về quy mô
cũng như số lượng phải kể đến các NHTM. Thường thường, khi đề cập đến ngân hàng là
chúng ta muốn nhắc đến NHTM.
Dựa vào cơ cấu tổ chức hay là loại hình sở hữu mà chúng ta có thể chia NHTM
thành các loại hình khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm chung nhất về NHTM thì được đưa

nhiên, ngày nay để tăng tính cạnh tranh, các NHTM vẫn đồng ý cho khách hàng rút
trước hạn nhưng sẽ bị phạt về lãi suất.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng và các ngân hàng tại ngân hàng: Để thuận tiện
trong thanh toán, các ngân hàng vẫn có tài khoản tại các ngân hàng và các tổ chức tín
dụng khác. Tuy nhiên quy mô của nguồn này thường là chiẩm tỷ trọng rất nhỏ.
* Huy động từ tiền vay. Đôi khi để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của ngân
hàng như nhu cầu thanh khoản, các NHTM cũng phải đi vay của các tổ chức tín dụng,
các ngân hàng khác. Các nguồn vay của ngân hàng là: Vay NHTW, vay các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng khác, vay thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá.
Vay NHTW: NHTM tiến hành vay NHTW thông qua các nghiệp vụ cơ bản như:
Chiết khấu thương phiếu, cho vay trong thanh toán bù trừ…
Vay các tổ chức tín dụng và các NHTM khác: Việc vay mượn ngân hàng trung
ương không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được và thủ tục cũng thường phức tạp vì
thế các ngân hàng vẫn thường xuyên thực hiện việc vay mượn lẫn nhau. Vay trên thị
trường liên ngân hàng có nhiều điểm thuận lợi hơn so với vay NHTW nhưng lãi suất trên
thị trường liên ngân hàng thường rất cao.
Phần lớn nguồn vốn trong ngân hàng thường là ngắn hạn, trong khi các hoạt động
sử dụng vốn thì đa số lại cần sử dụng các nguồn trung và dài hạn. Việc phát hành các
giấy tờ có giá sẽ giúp ngân hàng giải quyết vấn đề trên. Các giấy tờ có giá thường được
ngân hàng sử dụng là các kì phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và cả trái phiếu ngân
hàng.
* Một nguồn không thể không nhắc đến trong hoạt động huy động vốn của
NHTM là nguồn vốn chủ sở hữu. Ngân hàng có thể tăng vốn thông qua kênh vốn chủ
bằng các nguồn: Lợi nhuận giữ lại, phát hành thêm cố phiếu đối với các NHTM cổ phần,
sử dụng các khoản vay có thể chuyển đổi. Tuy nhiên, việc gia tăng vốn chủ sở hữu
thường không để nhằm mục đích kinh doanh mà để trang bị thêm cơ sở vật chất, mở
rộng mạng lưới chi nhánh và quy mô từ tăng vốn chủ thông thường không lớn. Nguyên
nhân là do nếu lợi nhuận giữ lại quá nhiều thì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của chủ sở hữu
ngân hàng, việc phát hành thêm cổ phiều không phải thích phát hành thêm bao nhiêu
cũng được mà phụ thuộc nhiều vào các cơ quan có thẩm quyền cũng như sự phát triển

* Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho người được bảo lãnh nếu họ không có khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ với bên thứ
ba.
Theo mục tiêu, bảo lãnh được phân thành: bảo lãnh tham gia dự thầu, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đảm bảo hoàn
trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
Bảo lãnh không phải là việc ngân hàng cho khách hàng sử dụng vốn ngay khi kí
kết hợp đồng bảo lãnh mà là ngân hàng tài trợ cho khách hàng thông qua uy tín của ngân
hàng. Chỉ khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba thì ngân
hàng mới phải tiến hành chi trả. Tuy nhiên, khi ngân hàng phải chi trả hộ khách hàng thì
món nợ này thường được xếp vào tài sản khó có khả năng thu hồi và cấu thành nên nợ
quá hạn.
* Cho thuê tài chính: Đây là hình thức ngân hàng mua các tài sản cố định rồi tiến
hành cho khách hàng thuê trong một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng thuê
mua. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản.
Cho thuê cũng là việc ngân hàng phải xuất tiền tại thời điểm hiện tại và kì vọng
thu về cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm này cũng giống với
cho vay nhưng khi cho thuê quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về ngân hàng, cho thuê
không có tài sản đảm bảo…
Thông thường ngân hàng chỉ tiến hành cho thuê với các loại tài sản cố định như
các phương tiện, máy móc, dây chuyền thiết bị… những tài sản có giá trị lớn mà thường
doanh nghiệp rất cần trong sản xuất kinh doanh nhưng lại khó có khả năng mua được.
1.1.2.3. Hoạt động Thanh toán quốc tế.
Ngày nay, với xu hướng hội nhập của kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu
đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với nền kinh tế của bất kì quốc gia nào.
Để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu thì sự tham gia của ngân hàng là điều không thể
thiếu, việc tham gia của ngân hàng vào hoạt động này sẽ xóa đi được các rào cản về địa
lý khi cung ứng các loại hình dịch vụ thanh toán đảm bảo cho hoạt động thương mại
quốc tế được thông suốt. Chính vì lí do đó mà hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng
trở nên phổ biến và đem lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng.

người bán theo yêu cầu của người mua. Khi bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như
đã thỏa thuận nếu bên mua không thực hiện được nghĩa vụ tài chính của mình thì ngân
hàng viết thư đảm bảo sẽ trả tiền thay cho khách hàng của mình.
Một số công cụ sử dụng trong thanh toán quốc tế là Hối phiếu, Séc, Kỳ phiếu,
Thẻ thanh toán
1.1.2.4. Các hoạt động khác:
Trao đổi và kinh doanh ngoại tệ: Nhiều khách hàng có nhu cầu trao đổi ngoại tệ.
Do đó, tùy theo yêu cầu của khách hàng ngân hàng sẽ tiến hành trao đổi ngoại tệ và thu
phí. Kinh doanh ngoại tệ cũng là lĩnh vực đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng thông
qua chênh lệch tỷ giá.
Bảo quản vật có giá: Ngân hàng giúp khách hàng thực hiện việc lưu giữ các tài
sản có giá như vàng, giấy tờ quan trọng…
Quản lý ngân quỹ: Do ngân hàng có kinh nghiệm trong quản lý và trong việc thu
ngân nên nhiều doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu nhờ ngân hàng quản lý giúp ngân
quỹ. Quản lý ngân quỹ cho khách hàng tức là ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi của
khách hàng đó thậm chí đầu tư phần tiền nhàn rỗi của khách hàng vào các tài sản sinh lời
ngắn hạn.
Tài trợ cho các hoạt động của Chính Phủ: Nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ các
quốc gia thường là rất lớn trong khi đa số ngân sách các nước đều ở trong tình trạng bội
chi. Vì vậy, Chính Phủ luôn muốn tiếp cận các khoản vay của ngân hàng. Các ngân hàng
thường phải chấp nhận cam kết sẽ tài trợ ở mọt mức nào đó cho các chính sách, hoạt
động của Chính Phủ để nhận được giấy phép thành lập.
Với việc ngày càng nhiều các tổ chức tín dụng xuất hiện và cung cấp một số sản
phẩm giống với ngân hàng thì để tăng tính cạnh tranh các ngân hàng cũng đang ngày
càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Hiện nay, đa số các NHTM đều cung cấp
dịch vụ bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn
và cung cấp các dịch vụ đại lý… Các loại hình dịch vụ này góp phần không nhỏ vào việc
tăng lợi nhuận cho ngân hàng, quảng bá hình ảnh của ngân hàng đối với các tổ chức, các
doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế.
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM

CVTD thường có tài sản đảm bảo. Do người vay không sử dụng tiền vay vào các
hoạt động kinh doanh,việc khách hàng trả nợ thường phụ thuộc vào các nguồn thu nhập
khác,khó để ngân hàng kiểm soát hơn.nên ngân hàng hạn chế rủi ro bằng cách đòi khách
hàng có tài sản đảm bảo.
mức thu nhập ổn định, trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để NHTM
quyết định cho khách hàng vay
- Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng:
Thường thì các khoản CVTD được định giá cao để bù chi phí lớn mà NH sẽ bỏ
ra và bù đắp rủi ro phát sinh. Mặt khác do số lượng các khoản vay tiêu dùng thường khá
lớn nên thu nhập từ hoạt động CVTD mang lại lợi nhuận khá cao cho NH.
- Rủi ro trong cho vay tiêu dùng:
CVTD là hình thức đem lại rủi ro cao nhất trong các loại hình cho vay của NH.
Sở dĩ có nhận định trên là do nguồn thu nhập để trả nợ cho khoản vay hoàn toàn độc lập
với việc sử dụng vốn vay. Các khoản CVTD có mục đích là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của các cá nhân chứ không phải là để sản xuất kinh doanh sinh lời.
Hơn thế nữa, khách hàng của các khoản vay tiêu dùng là các khách hàng cá nhân
nên khi khách hàng gặp những rủi ro như ốm đau, mất việc, tai nạ , hay tử vong… thì
ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro không thu được nợ. Thêm vào đó, khả năng vượt
qua khó khăn về mặt tài chính của cá nhân thường không tốt bằng của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng CVTD có rủi ro thấp. Giải thích cho quan
điểm này chính là vì giá trị của mỗi khoản vay thường là nhỏ không lớn như cho các
doanh nghiệp vay. Vì thế nếu trong trường hợp không thể thu được nợ thì tổn thất của
ngân hàng không lớn như khi không thu được nợ của doanh nghiệp. Xác suất để xảy ra
việc tất cả các khách hàng vay tiêu dùng đều không có khả năng trả nợ là gần như bằng
không, xác suất này thấp hơn rất nhiều so với việc một doanh nghiệp với một khoản vay
lớn không có khả năng trả nợ.
- Các khoản CVTD nhạy cảm cùng với chu kỳ kinh tế:
Nếu nền kinh tế mở rộng, tâm lí người tiêu dùng lạc quan về tương lai,họ sẽ có
mong muốn lớn thoả mãn cuộc sống, khi đó nhu cầu vay mượn NH sẽ tăng.
Ngược lại, nếu suy thoái,người dân thấy không tin tưởng vào tương lai,đặc biệt

thoả thuận,,lấy nhu cầu chi tiêu và thu nhập làm căn cứ, khách hàng vay và trả nợ nhiều
kỳ tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng.
1.2.3.2. Phân loại theo hình thức vay:
Căn cứ vào tiêu thức hình thức cho vay thì CVTD gồm:
- Cho vay trực tiếp
- Cho vay gián tiếp.
- Cho vay trực tiếp:
Ngân hàng và khách hàng trực tiếp thoả thuận cho vay và thu nợ.
Ưu điểm:
+ Tận dụng tối đa kiến thức, kinh nghiệm, tầm nhìn ………của cán bộ tín dụng
nên các khoản vay thường có chất lượng cao hơn..
+ linh hoạt hơn vì quan hệ trực tiếp với khách hàng nên các vấn đề phát sinh sẽ
được xử lí tốt hơn và dễ tìm được phương án làm thỏa mãn cho quyền lợi hai bên.
+ Tốt hơn cho việc quảng bá hình ảnh.
+ Cho vay gián tiếp
Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay mà trong đó NH mua các khoản nợ phát sinh
của các DN đã bán chịu hàng hóa hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng,
hình thức này NH cho vay thông qua các DN bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không
trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Ưu điểm:
+ Tăng doanh số cho vay và mở rộng dễ dàng đồng thời giảm được chi phí cho
vay
+ Mở rộng mối quan hệ với khách hàng,mức độ rủi ro thấp.
Nhược điểm:
+ Không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên ngân hàng thiếu sự kiểm
soát,quy trình và kĩ thuật cho vay cũng khá phức tạp.
1.2.3.3.. Phân loại cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo tiền vay
Nếu căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay thì CVTD bao gồm:
- Cho vay với hình thức bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng
lâu dài của khách hàng

với:
M
cv
: Mức cho vay tối đa
G
ĐH :
Giá trị đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá
T
LH
: Thời gian lưu hành còn lại của giấy tờ có giá
L
CV
: Lãi suất cho vay
Đôi với tài sản khác, thời hạn căn cứ theo loại,tính chất, điều kiện bảo quản của tài sản.
Mức cho vay xác định từ giá trị, mức tiêu thụ , độ bền của tài sản và tối đa không quá
80% giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm cầm đồ.
8 0 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay.
Hình thức này áp dụng với tài sản giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài:sửa chữa,
mua nhà, mua quyền sử dụng đất; mua ô tô… thường là khoảng 50-60% tài sản mua.
NH và khách hàng chỉ ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ khi khách hàng
đã nộp tiền vào tài khoản của mình mở tại NH.
1.2.3.4. Phân loại cho vay tiêu dùng căn cứ vào một số tiêu chí khác
Ngoài ra CVTD còn được phân loại phân loại dựa trên việc kết hợp hai tiêu thức
mục đích khoản vay và phương tiện thanh toán.
•Cho vay mua, xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở: đây thường là các khoản vay dài
hạn và được đảm bảo bằng chính tài sản đó.
•Cho vay qua thẻ tín dụng
•Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm và giấy tờ có giá
•Cho vay cán bộ công nhân viên
•Cho vay du học

Phần bù kỳ
hạn với các
khoản cho
vay dài hạn
+
Lợi
nhuận
cận
biên
1.2.5 Quy trình nghiệp vụ của cho vay tiêu dùng
Bước 1: hướng dẫn về điều kiện tín dụng và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Lập hồ sơ đầy đủ bao gồm:CMTND,sổ hộ khẩu,chính quyền địa phương xác nhận về
chữ ký tạm trú ,thường trú, các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật, giấy đề nghị
vay vốn,giấy xác nhận là cán bộ nhân viên,giấy tờ chứng minh thu nhập………..
Bước 2:thu thập điều tra thông tin liên quan đến khách hàng.
Kiểm tra xác minh thông tin khách hàng thông qua:
 Hồ sơ vay vốn trước đây của khách hàng
 Trung tâm thông tin tín dụng
 Bạn hàng và đối tác làm ăn.
 Các cơ quan quản lý trực tiếp khách hàng xin vay.
Bước 3: Phân tích tín dụng.
Theo các nội dung sau:
- Năng lực pháp lý của của KH:
đạo đức khách hàng. đánh giá đạo đức khách hàng chính xác nhất có thể để tránh
những rủi ro đạo đức có thể có.
•Độ tin cậy.
Mục đích khoản tín dụng: cấp cho các mục đích sử dụng hợp lí.
Khả năng hoàn trả của khách hàng: được đánh giá qua nhiều tiêu thức như tuổi đời,
điều kiện gia đình,số dư tài khoản, địa vị,sức khoẻ…
•Các đảm bảo tín dụng.

lí kịp thời như chuyển thành nợ quá hạn hoặc phát mại tài sản.
1.2.6. Vai trò của cho vay tiêu dùng.
Đối với người tiêu dùng:
Xã hội ngày càng phát triển , các nhu cầu của con người cũng vì thế mà ngày
càng nâng cao. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể ngay lập tức có đủ khả năng về tài
chính để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Thường trước khi có đủ tiềm lực tài chính con
người phải có một thời gian tích lũy khá dài. Trong khi đó, những tài sản phục vụ con
người đúng thời gian và mục đích thì độ thỏa dụng sẽ cao hơn. CVTD giúp con người
thỏa mãn những nhu cầu tại thời điểm hiện tại, nâng cao mức sống của con người. Khi
mức sống được nâng cao, nhu cầu được thỏa mãn, người lao động sẽ phấn trấn hơn
trong công việc và làm tăng năng suất lao động.
Đối với người sản xuất:
CVTD phát triển đồng nghĩa với việc người tieu dùng sẽ có khả năng mua sắm
được nhiều hàng hóa hơn. Đó là điều kiện thuận lợi để các nhà sản xuất thu được lợi
nhuận nhiều hơn. Từ đó tạo tiền đề để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với các NHTM:
Hiện nay, chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay tại các ngân hàng vẫn là cho vay với
các khách hàng doanh nghiệp. Đây là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho các
ngân hàng. Việc xuất hiện sản phẩm cho vay tiêu dùng làm đa dạng hóa sản phẩm của
ngân hàng, tận dụng được nguồn vốn của ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh của ngân
hàng.
Hơn thế nữa, CVTD sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh. Như vậy, hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp của ngân hàng cũng
sẽ có cơ hội phát triển.
Đối với nền kinh tế:
CVTD tạo điều kiện tăng trưởng thúc đẩy kinh tế; góp phần xóa đói giảm nghèo
và với thủ tục tương đối đơn giản, nhanh gọn nên góp phần đẩy lùi nạn cho vay nặng
lãi..
CVTD thúc đẩy sản xuất phát triển , thu hút vốn đầu tư của ngước ngoài vào khu vực
sản xuất nội địa

nợ, số lượng tài sản thanh khoản.
Năng lực tài chính của ngân hàng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới CVTD.
Năng lực tài chính càng lớn thì khả năng ngân hàng đáp ứng được các nhu cầu của khách
hàng càng lớn và ngược lại. Nếu năng lực tài chính của ngân hàng yếu thì sẽ khó lòng
Tổng dư nợ cho vay năm nay
Tổng dư nợ cho vay năm trước
x 100%
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Hơn thế nữa, CVTD cũng khá là rủi ro, một
NHTM có tiềm lực tài chính không đủ sẽ khó có thể thực hiện tốt loại hình cho vay này.
1.4.1.2. Chính sách tín dụng của NH
Chính sách tín dụng quyết định quy chế tín dụng, về cơ cấu tín dụng của một NH.
Nó định hướng tới mở rộng hay thu hẹp dịch vụ. Tùy theo chính sách tín dụng của ngân
hàng trong từng thời kì ưu tiên cho loại hình cho vay nào,. Khi ngân hàng quyết định sẽ
mở rộng hoạt động cho vay thì CVTD cũng sẽ vì thế mà có khả năng tăng trưởng mạnh
nhưng trong thời kì khó khắn, khi ngân hàng thu hẹp hoạt động tín dụng thì CVTD cũng
sẽ vì thế mà có xu hướng giảm.
Chính sách tín dụng linh hoạt, đúng đắn, đơn giản hóa các thủ tục cho vay thì
cũng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động CVTD phát triển.
1.4.1.3. Trình độ cán bộ tín dụng.
Con người luôn là một nhân tố quan trọng cấu thành nên thành công của bất kì hoạt
động nào. Các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp đều được thực hiện bởi đội ngũ nhân
viên ngân hàng. Trình độ của cán bộ tín dụng càng cao thì hoạt động cho vay của ngân
hàng sẽ càng an toàn. Cán bộ tín dụng có trình độ càng cao, am hiểu về pháp luật, có khả
năng phân tích tốt tình hình tài chính và thẩm định kế hoạch vay vốn của khách hàng…
thì sẽ đưa ra được nhận định đúng đắn, giảm thiểu rủi ro thiệt hại cho ngân hàng.
Tuy nhiên, trình độ chuyên môn giói chưa đủ mà các cán bộ tín dụng cần phải có
đạo đức nghề nghiệp. Xác định rõ làm việc vì lợi ích chung của toàn ngân hàng, không
câu kết với khách hàng để chiếm dụng vốn của ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng.
1.4.1.4. Hoạt động Marketing của NH.
Chiến lược Marketing trong hoạt động cho vay tín dụng bao gồm chiến lược về giá,

1.4.2.2 Các nhân tố vĩ mô:
Chu kỳ của nền kinh tế:
Hoạt động của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào cũng phụ thuộc rất lớn vào chu kỳ của
nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng và ngược lại.
Nếu trong thời kỳ nền kinh tế đang suy thoai
Dân cư:
Độ tuổi, trình độ,nhận thức,xu hướng tiêu dùng……..của dân cư ảnh hưởng đến
mức tiêu dùng,do đó ảnh hưởng đển khoản tiền họ vay của ngân hàng. Xu hướng tiêu
dùng thay đổi theo độ tuổi của con người, vì ai cũng có những thời điểm có nhu cầu tiêu
dùng lớn, thậm chí vượt ra khỏi mức thu nhập gấp nhiều lần. Theo tuổi tác thì độ tuổi
tiêu dùng nhiều nhất là từ 25-35, càng trở về sau thì mức độ tiêu dùng cũng giảm đi.Xu
hướng tiêu dùng có sự khác biệt theo trình độ dân trí. Đối với những người có trình độ
hiểu biết, đặc biệt là về lĩnh vực NH thì xu hướng sử dụng các khoản vay để phục vụ cho
mục đích tiêu dùng thường lớn hơn và diễn ra với tần suất nhiều hơn so với những người
khác.Thói quen tiêu dùng của người dân tại mỗi địa phương cũng có những ảnh hưởng
nhất định tới việc mở rộng CVTD của các NHTM.
Các nhân tố thuộc về cạnh tranh:
Cạnh tranh giữa các NH để thúc đẩy sự cố gắng thay đổi tốt lên giữa các NH.Đối
thủ của hoạt động CVTD của NH là: các công ty tài chính,bảo hiểm, các hiệu cầm đồ,
các tổ chức cùng hệ thống NH đều cung cấp dịch vụ CVTD. Hoạt động của đối thủ cạnh
tranh là căn cứ mà NH xem xét , xây dựng kế hoạch CVTD một cách hợp lý về thời hạn,
hạn mức, lãi suất… Ngoài ra ngân hàng nên chú trọng đến các yếu tố thuộc về đơn vị hỗ
trợ hoạt động của ngân hàng bao gồm các công ty bán lẻ hoặc sản xuất hàng hóa,các
công ty quảng cáo, công ty tin học….
Các nhân tố khác: Các quy định của pháp luật về CVTD ảnh hưởng lớn đến danh mục
cho vay của NH.tình hình an ninh, trật tự xã hội... cũng ảnh hưởng nhất định đến việc mở
rộng CVTD của NH.
Khoa học ngày càng phát triển nên NH cần phải nắm bắt sự thay đổi của môi trường
kỹ thuật,kịp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động kinh doanh.

quản trị Ngân hàng Sài Gòn Công Thương đã đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
cho thành lập chi nhánh tại Hà Nội.
Ngày 18/01/1994 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký quyết định cho
thành lập chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn Công Thương tại Hà Nội.
Chi nhánh Hà Nội trực thuộc Ngân hàng Sài Gòn Công Thương có trụ sở tại 29A -
Đoàn Trần Nghiệp - Hai Bà Trưng - Hà Nội. Trong quá trình hoạt động, chi nhánh đã
được bổ sung thêm nhiều cán bộ trẻ có năng lực chuyên môn, thành lập thêm các phòng
giao dịch.
• Những năm đầu đi vào hoạt động với chỉ 19 tỷ dư nợ cho vay và 46 khách
hàng,3 đơn vị xuất nhập khẩu.Tính đến nay ,9 tháng đầu năm 2008 đã có trên
1595 khách hàng vay vốn,với doanh số cho vay là 1264 tỷ đồng,dư nợ trên
1033 tỷ đồng,và nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu có doanh số hàng triệu
đô la.
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của SaiGonbank chi nhánh Hà Nội:
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà
Nội
• Giao dịch trực tuyến:
Tra cứu số dư
Đăng kí mở thẻ.
Cho vay:
Cho vay sản xuất,thương mại,dịch vụ
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG KẾ TOÁN –
NGÂN QUỸ
PHÒNG KINH
DOANH
PHÒNG HÀNH
CHÍNH NHÂN SỰ
PHÒNG GIAO DỊCH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status