Đại biểu quốc hội - nhiêm vụ và quyền hạn - Pdf 26

A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khi giành được độc lập, xoá bỏ ách thống trị của thực dân phong kiến, lần
đầu tiên quyền làm chủ của người dân nước ta đã được thừa nhận và quy định trong Hiến
pháp 1946:" Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là
của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo". Kế thừa và phát triển các tư tưởng tiến bộ của bản Hiến pháp đầu tiên, các bản
Hiến pháp tiếp theo của nước ta đều khẳng định:" Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước của dân, do dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân". Tuy nhiên nhân dân không thể trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước mà phải bầu ra
người đại diện cho mình để thực thi quyền lực Nhà nước, người đó là đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Do đó trong bài viết của mình em xin làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa đại biêu
Quốc hội và cử tri. Chính vì vậy, khi đề cập tới mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội và cử
tri, trước hết chúng ta phải xác định đây là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa hai chủ thể:
người đại diện quyền lực nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước và
người dân làm chủ, uỷ quyền cho người đại diện của mình trong cơ quan quyền lực Nhà
nước.
B. NỘI DUNG
I .Đại biểu quốc hội - nhiêm vụ và quyền hạn
Lịch sử phát triển của Quốc hội gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong đó,
Quốc hội ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn
luôn gắn bó máu thịt với nhân dân.
Quốc hội nước ta được tổ chức theo mô hình một viện nhằm bảo đảm thật sự là một tổ
chức tập trung quyền lực của Nhà nước, thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân. Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, đứng đầu các cơ quan nhà nước
khác. Nhiệm kì hoạt động của các cơ quan nhà nước do Quốc hội quy định theo nhiệm kì
của Quốc hội. Các cơ quan nhà nước ở trung ương được Quốc hội bầu, hoặc có thể bị bãi
miễn phụ thuộc vào sự tín nhiêm của Quốc hội.
Quyền lực to lớn đó của Quốc hội được nhân dân uỷ thác để quản lí đất nước và bảo
vệ lợi ích của nhân dân thông qua quốc hội thực hiện quyền lực của mình.

động của mình với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương.
2. Quyền hạn của đại biểu Quốc hội.
Quyền hạn quan trọng nhất của Đại biểu Quốc hội là tham gia thảo luận và quyết định
các vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc nhiệm vụ quyền hạn của quốc hội tại các kì
họp quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền sáng kiến lập pháp, có quyền chất vấn Chủ tịch nước,
Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án
tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết về các dự án
luật, các nghị quyết, các dự án, các báo cáo...
Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự các kì họp hội đồng nhân dân các cấp nơi mình
được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết.
Ngoài ra Luật tổ chức quốc hội năm 2001 còn có quy định mới: Đại biểu quốc hội có
quyền kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín
nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
II. Mối quan hệ giữa đại biểu quốc hội và cử tri.
1. Biểu hiện mối quan hệ giữa đại biểu quốc hội và cử tri.
Theo điều 97 của Hiến pháp 1992 quy định:" Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho
ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ma còn
đại diện cho nhân dân cả nước. Đại biểu Quốc hội phải liên kết chặt chẽ với cử tri, chịu sự
giám sát của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với
Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri
về hoạt động của mình và của Quốc hội, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem
xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyêt khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ
công dân thực hiện các quyền đó".
Để cụ thể hoá Điều 97 của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội đã quy định:" Đại biểu
Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc
với cử tri" (Điều 51). Như vậy, Luật tổ chức quốc hội đã phát triển mối quan hệ giữa đại
biểu Quốc hội với cử tri nhưng cũng phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri. Ngoài ra, mỗi
năm ít nhất một lần đại biểu quốc hội phải báo cáo truớc cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ
đại biểu của mình. Cử tri có thể trực tiếp thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo

xúc cá nhân hoặc nhóm cử tri, Hội nghị tiếp xúc cử tri lại được chia thành Hội nghị tiếp xúc
cử tri theo định kỳ trước và sau kỳ họp Quốc hội tại địa phương nơi đại biểu quốc hội ứng
cử, Hội nghị tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm vệc và hội nghị tiếp xúc cử tri theo lĩnh vực
mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Qua đó báo cáo tình hình tiếp xúc cử tri của các Đoàn đại
biểu Quốc hội cho thấy hình thức Hội nghị tiếp xúc cử tri đang được dùng phổ biến, mà chủ
yếu là tiếp xúc định kỳ trước và sau kỳ họp Quốc hội. Từ đó có tình trạng ở nhiều nơi, thành
phần tham dự tiếp xúc cử tri là các đại cử tri nhất là các đồng chí đại diện lãnh đạo các ơ
quan, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, cơ sở, các đồng chí cán bộ hưu trí đến nhiều. Còn
đối tượng cử tri trẻ, doanh nghiệp, cán bộ nghiên cứu, cử tri ở cơ sở, cử tri trực tiếp sản xuất,
thì rất ít. Đấy là hạn chế làm chúng ta chưa lắng nghe được ý kiến của đông đảo cử tri.
Hững cử tri tại nơi đại biểu Quốc hội làm việc và nghiên cứu qua tiếp xúc dều rất phấn
khởi bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình với mong muốn đại biểu Quốc hội sẽ là cầu nối
để cử tri có thể thực hiện quyền làm chủ của mình. Từ đó cho thấy việc đa dạng hóa các hình
thức tiếp xúc cử tri là rất cần thiết và cấp bách để từng bước nâng cao chất lượng của công
tác tiếp xúc cử tri nói riêng và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đại biểu và Quốc hội và
cử tri nói chung.
Ngoài việc, tiếp xúc cử tri hiện nay vẫn là tiếp xúc một chiều đại biểu Quốc hội chủ
động tiếp xúc khi có nhu cầu mà có sự chủ động nào từ phía cử tri. Cung có ý kiến cho rằng
việc hàng tháng các đoàn đại biểu Quốc hội đều có chương trình tiếp công dân để bày tỏ ys
kiến của mình. Chúng tôi cho rằng phải quan niệm việc tiếp xúc cử tri là công việc thường
xuyên của đại biểu Quốc hội. Các đại biểu là do cử tri bầu ra nên quyền yêu cầu được gặp
gỡ, tiếp xúc với đại biểu phải được ưu tiên cho các cử tri. Khi cử tri có yêu cầu tiếp xúc thì
Văn phòng giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm giúp đại biểu Quốc hội sắp xếp
sắp xếp để đại biểu Quốc hội bố trí gặp gỡ cử tri.
2.2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với cử tri.
Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri là gắn bó hữu cơ, nhưng để mối quan hệ
này thực chất và có hiệu quả thì vai trò tổ chức, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức hữu quan
là rất quan trọng, có tính chất cầu nối để thúc đẩy mối quan hệ này có cả chiều rộng và chiều
sâu. Như Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban

kinh phí phục vụ cuộc tiếp xúc.
2.3 . Việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri
Việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri là một nhiệm vụ rất quan trọng của các cơ
quan, tổ chức hữu quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác tiếp xúc cử tri, tác
động lớn đến mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri. Luật và các văn bản hướng dẫn
chỉ quy định đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri
và giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri. Trong thời gian qua, hầu hết ý kiến,
kiến nghị của cử tri cả nước đều được Đoàn đại biểu Quốc hội tập hợp đầy đủ, phân loại
theo thẩm quyền giải quyết và theo từng lĩnh vực cụ thể. Các ý kiến thuộc thẩm quyền giải
quyết của địa phương thì được gửi cho các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa
phương để nghiên cứu, giải quyết. Các ý kiến thuộc thẩm quyền của các cơ quan Trung
ương thì Đoàn đại biểu Quốc hội gửi tới Ban dân nguyện của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để
chuyển tới các Bộ, ngành nghiên cứu giải quyết, trả lời. Nhìn chung, các Bộ, ngành đều
nghiêm túc trả lời bằng văn bản, trúng vấn đề mà cử tri quan tâm. Văn bản trả lời của các
bộ, ngành là cơ sở để các Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị với cấp uỷ, chính quyền trong
việc lãnh đạo, điều hành công việc ở địa phương; đồng thời là thông tin để các vị đại biểu
Quốc hội báo cáo với cử tri. Tuy nhiên, vẫn còn có một số văn bản trả lời ý kiến, kiến nghị
cử tri còn chung chung, chưa đáp ứng được vấn đề cử tri kiến nghị, cá biệt có vấn đề không
được trả lời, để cử tri kiến nghị nhiều lần; nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri chậm được giải
quyết, hoặc những điều đã hứa vởi cử tri chưa được các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết
một cách đầy đủ, kịp thời, còn tình trạng hứa nhưng “không giải quyết”.
2.4. Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm với cử tri
Hiện nay, Quốc hội khoá XI với số lượng 120 đại biểu Quốc hội chuyên trách tại các
cơ quan của Quốc hội và tại các địa phương, có thể nói số lượng đại biểu Quốc hội hoạt
động kiêm nhiệm vẫn chiếm đa số.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status