Luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá và môi trường không khói thuốc lá - Pdf 26

Luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá và môi trường không khói thuốc

Công tác tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá không ngừng được tăng cường
trong những năm qua, ở khắp nơi trên thế giới. Từ lâu, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra nhiều
khuyến cáo về việc phòng, chống tác hại của thuốc lá. Ở nhiều nước và vùng lãnh thổ đã ban
hành các quy định về cấm hút thuốc lá nơi công cộng, cơ quan, công sở với mức phạt nghiêm
khắc để răn đe người có hành vi hút thuốc lá không đúng nơi quy định. Tại Việt Nam, bên
cạnh những văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống tác hại của thuốc lá, công tác tuyên
truyền bằng nhiều hình thức đã được tăng cường, tỉ lệ người hút thuốc nơi công cộng đã
giảm đáng kể, góp phần thực hiện Công ước khung của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát
thuốc lá có hiệu lực đối với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 17/3/2005.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra và mục tiêu hướng tới, ở Việt Nam, tỉ lệ người hút thuốc
lá còn khá cao, nhất là độ tuổi thanh, thiếu niên. Nguyên nhân là cùng với việc tuyên truyền thì
các biện pháp thực thi những quy định hiện hành chưa tốt. Nếu chỉ vận động mà không xử
phạt thì thói quen hút thuốc lá của nhiều người vẫn tiếp tục duy trì. Đặc biệt, ngành công
nghiệp sản xuất thuốc lá vẫn tiếp tục phát triển với mức thuế (thuế tiêu thụ đặc biệt) còn quá
thấp, giá bán lẻ thuốc lá vẫn phù hợp (thậm chí là không đáng kể) so với thu nhập của nhiều
người. Trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện hành chưa tập trung
một cách chính thức (như các lĩnh vực khác) trong phòng, chống tác hại của thuốc lá. Chính
vì vậy, việc ban hành một đạo luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá để góp phần quan
trọng hướng tới một môi trường không khói thuốc là hết sức cần thiết.
1. Những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng, chống
tác hại của thuốc lá
1.1. Các văn bản còn tản mạn, thiếu hệ thống
Trong số hàng chục văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng chống tác hại
của thuốc lá, có văn bản chỉ quy định rất giản đơn đối với hành vi vi phạm. Chẳng hạn, Quyết
định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh
trong việc cưới, việc tang và lễ hội, chỉ có một Điều 4 khuyến khích thực hiện các hình thức
“tổ chức đám cưới không hút thuốc lá”. Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong số 50 điều, thì chỉ có điều 16 quy định mức
phạt (cảnh cáo hoặc phạt tiền) đối với hành vi hút thuốc lá, thuốc lào ở nơi công cộng; hoặc

1.2. Tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật chưa cao
Một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sẽ có tính khả thi cao nếu bên cạnh sự
“bắt buộc tuân thủ” với đối tượng điều chỉnh của văn bản đó còn có thêm những “sự đồng bộ”
khác. Đó là điều kiện xã hội, thói quen, tập quán, môi trường, điều kiện vật chất… Nhưng đối
với văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thì những “sự đồng bộ”
đó hầu như chưa có, nên văn bản ít tính khả thi. Xin được nêu một số ví dụ (xem hộp):

Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản có tính quy phạm pháp luật về phòng chống
tác hại của thuốc lá:
- Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 278/CT ngày 03/8/1990 về việc cấm nhập
khẩu và lưu thông thuốc lá điếu của nước ngoài trên thị trường Việt Nam.
- Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng có Chỉ thị số 27-CT/TW
ngày 12/01/1998 về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ
hội. Chỉ thị yêu cầu các cấp, các ngành đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động,
giáo dục thuyết phục (trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên) phải
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Trong đó có yêu
cầu “không sử dụng thuốc lá”.
- Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 368/TTg ngày 22/6/1995 về thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, đoàn thể
và doanh nghiệp nhà nước. Trong đó có quy định “các hội nghị không sử dụng
thuốc lá, rượu bia để giải khát”;
- Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 63/TC- HCSN ngày 07/8/1995
hướng dẫn thi hành Chỉ thị 368/TTg, trong đó có quy định về việc không hút
thuốc lá trong hội nghị.
- Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Y tế số 04/CT-BYT ngày 19/5/1995 về việc không hút
thuốc lá;
- Bộ Y tế có Quyết định của Bộ trưởng số 2019/QĐ-BYT ngày 30/6/2000 “Quy

bầu không khí không có khói thuốc lá; giảm tổn thất do khói thuốc lá gây ra cho
mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội.
- Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Điều 16 của Nghị định này quy định mức
phạt là cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với hành vi hút thuốc lá, thuốc lào ở nơi công
cộng; bán thuốc lá, thuốc lào cho trẻ em dưới 16 tuổi; phạt tiền từ 4 triệu đến 6
triệu đồng đối với hành vi vi phạm các quy định về ghi nhãn hiệu trên sản phẩm
thuốc lá, quy định về nội dung lời cảnh báo và vị trí ghi lời cảnh báo trên vỏ bao
thuốc lá; phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi sản xuất
thuốc lá có hàm lượng chất tar, nicotin vượt quá mức quy định và áp dụng biện
pháp khắc phục hậu quả.
- Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 467/QĐ- TTg ngày 17/4/2001 về việc
thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình phòng chống tác hại của thuốc lá. Theo
Quyết định này, Bộ trưởng Bộ Y tế làm Chủ nhiệm chương trình. Bộ phận
thường trực của Chương trình đặt tại Bộ Y tế;
- Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 ban
hành Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước. Điều 4 của
Quy chế này “Cấm hút thuốc lá trong phòng làm việc”.
- Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005
ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ
hội. Tại điều 4 của Quy chế này khuyến khích thực hiện các hì nh thức “tổ
chức đám cưới không hút thuốc lá”.
- Điều 16 Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế quy định: “1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng
với với một trong các hành vi sau: a) Hút thuốc lá, thuốc lào ở nơi công cộng như: trong rạp
chiếu phim, phòng họp, phòng làm việc, bệnh viện, thư viện, phòng đợi của nhà ga, bến xe,
sân bay, bến cảng, trên các phương tiện giao thông công cộng hoặc ở những nơi công cộng
có quy định cấm; b) bán thuốc lá, thuốc lào cho trẻ em dưới 16 tuổi; 2. Phạt tiền từ 4.000.000
đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm các quy định về ghi nhãn hiệu trên sản
phẩm thuốc lá, quy định về nội dung lời cảnh báo và vị trí ghi lời cảnh báo trên vỏ bao thuốc

ung thư phổi”; “Hút thuốc lá có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính”. Trong khi đó, nhiều
nước trên thế giới và Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị, cảnh báo tác hại của thuốc lá trên vỏ
bao cần được thực hiện bằng hình ảnh, biểu hiện hậu quả những căn bệnh do hút thuốc gây
ra.
1.3. Pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá chủ yếu là “chống” mà ít chú
trọng đến công tác “phòng”
Hầu hết các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ và địa phương đều
tập trung “chống” tác hại của thuốc lá. Từ khuyến khích không sử dụng thuốc lá trong đám
cưới, đám tang đến cấm hút thuốc lá trong phòng làm việc; tại các hội nghị; cấm hút thuốc lá
tại công sở, trường học, bệnh viện, nhà ga, sân bay, rạp hát, rạp chiếu phim, trên phương tiện
công cộng...
Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 của Chính phủ về “Chính sách quốc gia
phòng, chống tác hại của thuốc lá trong giai đoạn 2000 - 2010” cũng đã nêu một số biện pháp
cơ bản, nhưng chưa đủ, chưa đồng bộ, thiếu chi tiết và chỉ mang tính định hướng, không có
tính quy phạm pháp luật một cách rõ ràng.
Chỉ thị số 46/CT-UB-NCVX ngày 28/8/1995 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
về việc “mở cuộc vận động không hút thuốc lá” cũng có nhiều quy định cấm bên cạnh việc
vận động tuyên truyền. Ví dụ: “Nghiêm cấm hút thuốc lá trong các hội nghị, hội thảo, phòng
họp. Các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang phải gương mẫu chấp
hành. Từ ngày 01/101995, cơ quan tài chánh không quyết toán chi mua thuốc lá tiếp khách và
hội nghị”.
Chỉ thị số 09/CT-UB ngày 13/4/2001 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng nêu rõ:
“Uỷ ban nhân dân thành phố yêu cầu: các ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các
quận, huyện, thị xã, các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thành lập “Ban vận động
không hút thuốc lá”; xây dựng ngay kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, tổ chức triển
khai tích cực, đồng bộ”. Hải Phòng chọn Quận Lê Chân là địa phương thí điểm triển khai
cuộc vận động cộng đồng không hút thuốc lá của thành phố. Tổ chức nghiên cứu các biện
pháp cai nghiện thuốc lá, phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
Trong khi đó, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương không cao. Hầu hết
các địa phương ban hành Chỉ thị có nội dung gần giống như Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status