MỞ ĐẦU
Trong thực tế hiện nay tình trạng xâm phạm quyền sở hữu xảy ra rất đa
dạng và phong phú. Có rất nhiều vụ việc bảy sinh gây bức xúc cho nhiều
chủ sở hữu và việc bảo vệ quyền sở hữu đang là vấn đề được nhiều người
quan tâm. Do đó, việc tìm hiểu về các phương thức bảo vệ quyền sở hữu có
ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết những vấn đề nêu trên. Mục đích nghiên
cứu đề tài: “Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu” là nhằm làm rõ thế nào
là bảo vệ quyền sở hữu, các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo Bộ luật
Dân sự hiện nay, những ưu điểm của các phương thức đó, hạn chế của các
phương thức bảo vệ quyền sở hữu và một số phương hướng hoàn thiện.
Nhận thấy tầm quan trọng của đề tài này nên em đã quyết nghiên cứu và làm
rõ đề tài trên. Mong thầy, cô nhận xét và giúp đỡ để bài viết của em thêm
hoàn chỉnh.
1
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu
1. Quyền sở hữu
Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong
một chế độ sở hữu nhất định, quyền sở hữu có thể được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau:
Theo nghĩa khách quan: quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật
do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, trong đó ghi nhận và đảm bảo cho
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình. Nếu hiểu theo
nghĩa này thì hệ thống pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam bao gồm
nhiều ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật sẽ có vai trò riêng trong việc bảo
vệ quyền sở hữu của các chủ thể.
Theo nghĩa chủ quan, chủ thể của quyền sở hữu có các quyền do pháp luật
quy định. Điều 164, BLDS 2005 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy
định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba
nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức
phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định đẻ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác; hoặc người đó phải phục tùng
những hạn chế nhất định đối với tài sản của mình hoặc tự do thân thể nhằm
đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khác.
Luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số hành vi nhất
định xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định mức hình phạt
tương xứng với những loại hành vi phạm tội đó.
3
Luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thức
kiên dân sự trước tòa án để chủ sở hữu có thể thông qua đó mà đòi lại tài sản
của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp; yêu cầu người khác
chấm dứt hành vi cản trở hoặc yêu cầu ngăn chặn khi chủ sở hữu thực hiện
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản; đòi người khác bồi
thường thiệt hại.
Như vậy, mỗi ngành luật đều có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền
sở hữu nhưng mỗi ngành luật không bảo vệ quyền sở hữu một cách tách biệt
mà bổ sung, phối hợp lẫn nhau.
II. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự
Trong thực tế sự xâm phạm quyền sở hữu rất đa dạng và phong phú. Vì
vậy Điều 255 BLDS 2005 đã ghi nhận các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu.
Một trong những phương thức bảo vệ quyền sở hữu đó là việc pháp luật
quy định và công nhân: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự
bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm giữ hợp pháp bằng
những biện pháp theo quy định của pháp luật” (Điều 255 BLDS 2005).
Quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu còn gắn liền với việc ngăn cản bất kì người
nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình. Chủ sở hữu còn được
quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
không co căn cứ pháp luật.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ
bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
pháp ngoài ý chí của những người này thì có quyền đòi lại tài sản từ người
chiếm hữu bất hợp pháp.
Thứ hai, đối với bị đơn: Phải là người đang chiếm hữu bất hợp pháp đối
với tài sản. Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước
nhưng lúc này người chiếm hữu tài sản đó đã trở thành chủ sở hữu của tài sản
do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:
5
Khoản 1 Điều 247 BLDS 2005 quy định: “Người chiếm hữu, người được
lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai
trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản
thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”
Thư ba, tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất
hợp pháp. Nếu tài sản không còn tồn tại do đã bị mất hoặc bị tiêu hủy thì lúc
này không thể áp dụng được phương thức kiện đòi alij tài sản. Vật hiện còn
được hiểu là còn nguyên trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng đã
bị giảm sút giá trị hoặc đã được làm tăng giá trị.
Thứ tư, không rơi vào các trường hợp pháp luật quy định không phải trả lại
tài sản tại Điều 257 và 258 BLDS 2005.
Điều 257 BLDS 2005 quy định: “ Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản
không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình có được động
sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định
đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở
hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường
hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”. Theo đó, nếu người ngay
tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị
mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể
khởi kiện đòi lại tài sản.