Một số vấn đề về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu - Pdf 26

1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
A.Đặt vấn đề......................................................................................................................................................1
B. Nội dung........................................................................................................................................................1
I. Một số vấn đề về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu.........................................................................1
A. Đặt vấn đề
Quyền sở hữu là một trong những loại quyền dân sự cơ bản được pháp luật
ghi nhận và bảo vệ. Bên cạnh việc ghi nhận các quyền của chủ sở hữu và người
chiếm hữu hợp pháp tài sản, pháp luật sở hữu còn ghi nhận các biện pháp pháp lý
để bảo vệ quyền sở hữu chống lại các hành vi xâm phạm. Bảo vệ quyền sở hữu là
biện pháp Nhà nước tác động bằng pháp luật tới hành vi xử sự của con người nhằm
thông qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của mình.
Ở Việt Nam, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua nhiều biện pháp khác
nhau, do nhiều ngành luật điều chỉnh. Trong các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu,
biện pháp dân sự có ý nghĩa thực tế nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về
mặt vật chất cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Bảo vệ quyền sở hữu
bằng biện pháp dân sự là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, Tòa án hoặc
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản
trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
B. Nội dung
I. Một số vấn đề về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu
1. Quyền sở hữu:
Điều 164 BLDS quy định:
1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
“ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài
sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm

Tranh luận chiếm hữu là một tình trạng hay là một quyền sẽ có nguy cơ sa
vào tranh luận về mặt học thuật. Vấn đề có ý nghĩa đặt ra là: cách quy định chiếm
hữu là một bộ phận của quyền sở hữu như BLDS có ích lợi gì không? Dù chiếm
hữu là một tình trạng hay một quyền thì vẫn cần phải có những quy định để bảo vệ
sự chiếm hữu đó. Có nghĩa là để đảm bảo sự ổn định của các quan hệ pháp luật dân
sự thì nên công nhận tình trạng chiếm hữu thực tế. Nếu không ta sẽ phải chứng
minh tình trạng sở hữu tuyệt đối – một điều rất khó thực hiện và nhiều khi làm đảo
lộn, thậm chí làm đảo lộn các quan hệ pháp luật dân sự. Qua tìm hiểu pháp luật của
các nước trên thế giới (Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc…) chúng ta thấy các
nước đều quy định theo hướng đó và do vậy, các quy định về chiếm hữu là một chế
định riêng so tách khỏi chế định sở hữu.
 Quyền sử dụng:
Điều 192 BLDS quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.
Nói một cách dễ hiểu thì quyền sử dụng là quyền khai thác những lợi ích mang
lại từ tài sản.
 Quyền định đoạt:
1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
Điều 195 BLDS quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở
hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”.
Quyền định đoạt có thể thực hiện bằng hai cách: quyết định về mặt thực tế
hoặc quyết định về mặt pháp lý của tài sản.
2. Bảo vệ quyền sở hữu:
Quyền sở hữu là một trong các quyền cơ bản, quan trọng nhất của công dân,
nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những quy định để bảo vệ
quyền sở hữu. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế
của công dân”.
Theo lý luận truyền thống của luật dân sự thì bảo vệ quyền sở hữu được hiểu

khác chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của họ. Hành vi xâm phạm trước tiên làm phát sinh quan hệ giữa chủ thể quyền và
người xâm phạm. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hơn ai hết là người biết
rõ mức độ và hậu quả của hành vi xâm phạm. Việc tự bảo vệ gắn liền với quyền lợi
thiết thân của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vì vậy, tự bảo vệ cũng chính
1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
là việc thực hiện hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp.
Như chúng ta đã biết, đặc trưng lớn nhất của quyền dân sự là nguyên tắc tự
định đoạt. Cũng chính vì lý do này mà luật dân sự được xếp vào luật tư ở những
nước có sự phân biệt hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư. Theo BLDS thì
chủ sở hữu có quyền tự thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu hợp pháp của chính mình. Ví dụ: chủ sở hữu nhà ở xây tường bao xung
quanh nhà của mình để bảo vệ nhà của mình khỏi bị xâm phạm từ bên ngoài, chủ
vườn cây ăn quả rào vườn và thuê người bảo vệ, trông nom vườn cây của mình…
Quyền của chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu,
quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản của mình không phải là tuyệt đối, mà có
giới hạn của nó. Giới hạn đó chính là “ không được xâm phạm đến lợi ích công
cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác ”. Các hành vi như: giăng dây điện
quanh ao cá, vườn cây để chống trộm, làm hố chông quanh gốc cây ăn quả … dẫn
đến làm người khác bị chết (kể cả kẻ trộm), đều bị coi là hành vi trái pháp luật,
phải bồi thường thiệt hại và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu
tố cấu thành tội phạm.
Việc tự bảo vệ là một yêu cầu cần thiết trong mọi phương thức bảo vệ quyền
sở hữu. Dù tự bảo vệ hay yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình bảo
vệ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp phải cung cấp các chứng cứ, tài liệu là cơ sở để giải quyết. Các biện
pháp bảo vệ quyền sở hữu chỉ được thực hiện có hiệu quả nếu chủ thể thực sự tự

pháp này là hiệu quả bảo vệ không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng
chế nhà nước. Yêu cầu của chủ thể không được bảo đảm bằng cơ chế mang tính
quyền lực Nhà nước mà hoàn toàn trông chờ, phụ thuộc vào sự tự nguyện và thiện
chí của bên xâm phạm. Do vậy, nếu bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí
chấm dứt hành vi xâm phạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì biện pháp này không
mang lại hiệu quả.
Các hành vi tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp trong thực
tế rất đa dạng. Hiệu quả của các biện pháp này đến đâu phụ thuộc vào chính khả
năng của bản thân chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vấn đề đặt ra là khi chủ
sở hữu không có năng lực hành vi dân sự để có thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu,
quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản, thì pháp luật dự liệu như thế nào ?
BLDS Việt Nam đã có một cơ chế để xử lý vấn đề này, đó chính là chế định giám
hộ. Theo Điều 65 BLDS, người giám hộ có nghĩa vụ:
“1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp
pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự;
3. Quản lý tài sản của người được giám hộ;
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”.
Tất nhiên, bù lại, người giám hộ sẽ được thanh toán các chi phí cần thiết cho
việc quản lý, bảo vệ tài sản của người được giám. Nếu người giám hộ có hành vi vi
phạm pháp luật (như lợi dụng việc giám hộ để chiếm đoạt tài sản của người được
giám hộ), thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong trường hợp này,
1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
việc giám hộ bị chấm dứt để thay thế bằng một quan hệ giám hộ mới, với mục đích
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Một biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu rất có hiệu quả của chủ sở hữu là biện
pháp đăng ký quyền sở hữu. Cơ sở pháp lý của quyền này là Điều 167 - BLDS.
Tuy nhiên, để xác định những loại tài sản nào phải đăng ký thì không chỉ dựa vào

của nhà C treo trên tường.
Các ví dụ trên xảy ra rất phổ biến trong thực tế. Trong các trường hợp trên,
A và C với tư cách là chủ sở hữu có quyền gì đối với B và D không? Theo các quy
định của BLDS Việt Nam, thì A và C, với tư cách là chủ sở hữu có quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm, có quyền yêu cầu B và D – những người có hành vi cản
trở việc thực hiện quyền sở hữu của mình – phải chấm dứt hành vi vi phạm. Tức là
A có quyền yêu cầu B phải ngừng việc đào móng sát tường nhà của mình để tìm
biện pháp khác; C có quyền yêu cầu D phải dẫn nước thoát theo đường ống khác
để nước không chảy và ngấm sang tường nhà mình.
Tuy nhiên, tường nhà của A đã bị sụt và nứt, bức tranh quý của nhà C đã bị
hư hỏng. A và C có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo cách thức và mức do
hai bên thoả thuận.
Đây chính là cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế thường thông qua con
đường các bên tự thỏa thuận. Như đã nói ở trên, xuất phát từ nguyên tắc tự định
đoạt, nên các bên hoàn toàn có quyền tự bàn bạc, thu xếp với nhau mà không cần
thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cơ chế này tỏ ra rất hữu hiệu
trong rất nhiều trường hợp, vì nó có những lợi ích cơ bản sau đây:
1
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MODULE 1
- Thứ nhất, các bên không phải mất thời gian, chi phí để khởi kiện tại Toà án
hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Thứ hai, xét về mặt tình cảm, như đã nói ở trên, với truyền thống “ dĩ hòa
vi quý ” của người Việt Nam, thì phương thức tự dàn xếp này nếu thành công sẽ
giữ gìn được mối quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa các bên, duy trì được tình làng
nghĩa xóm;
- Thứ ba, nếu dàn xếp được, thì thông thường là các bên sẽ tự nguyện chấm
dứt hành vi vi phạm, khắc phục và bồi thường thiệt hại, khỏi phải thông qua cơ chế
thi hành bản án, quyết định dân sự - một vấn đề rất nhức nhối hiện nay khi các bản
án, quyết định dân sự còn tồn đọng, không được thi hành trên thực tế còn đang
chiếm một tỷ lệ rất lớn;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status