Rèn viết đúng chính tả cho HS lớp 5 - Pdf 26

Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lớp 5
A- Phần mở đầu
I - Lý do chọn đề tài
Từ xa xa, nhân dân ta đã có câu Nét chữ, nết ngời có nghĩa là nét chữ
thể hiện tính cách con ngời. Thông qua nét chữ ngời ta có thể đánh giá ngời viết
là ngời nh thế nào?
Cho đến nay, câu nói trên vẫn đợc coi là đúng. Tuy nhiên chúng ta cần
phải hiểu nét chữ không phải đơn thuần là nét thanh, nét đậm mà nó bao hàm
cả việc viết đẹp, viết đúng chuẩn mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ
pháp.
Ngời xa nói Nét chữ, nết ngời không chỉ hàm ý nét chữ thể hiện tính
cách con ngời mà nó hàm ý rằng thông qua việc rèn luyện chữ viết mà giáo dục
nhân cách con ngời. Nh vậy việc rèn luyện cho học sinh viết chữ đẹp, viết đúng
chuẩn mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp vừa là mục đích vừa là
phơng tiện của quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
Xuất phát từ nhận thức trên, ở bậc Tiểu học, phân môn chính tả có vị trí
quan trọng trong cơ cấu chơng trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở
trờng nói chung. Nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng
chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa,
tiếng Việt chuẩn mực. Ngoài ra, phân môn chính tả còn rèn cho học sinh một số
phẩm chất nh tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dỡng cho học sinh lòng yêu quý
tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt.
Đối với ngời sử dụng tiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ đó là ngời
có trình độ văn hoá về mặt ngôn ngữ. Viết đúng chính tả giúp học sinh có điều
kiện sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn văn hoá,
trong việc viết các văn bản, th từ. Đồng thời viết đúng chính tả còn thể hiện sự
tôn trọng của ngời viết đối với ngời đọc và với chính bản thân mình.
Vấn đề chính tả của chữ Việt đã đợc bàn khá nhiều và đã đạt đợc những
thành tựu tốt. Song đến nay cha phải vấn đề đã đợc giải quyết hoàn toàn. Qua
các giờ dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh trong dạy và học

qua hình thức
+ Phiếu điều tra.
+ Nói chuyện, trao đổi với học sinh.
3- Phơng pháp trò chuyện :
Sử dụng phơng pháp này tôi đã trực tiếp trao đổi, hỏi ý kiến của giáo viên
trong khối để tìm hiểu thực trạng việc dạy học chính tả, những khó khăn của
học sinh cũng nh của giáo viên khi dạy chính tả, những lỗi chính tả mà học sinh
thờng mắc và những biện pháp sửa lỗi cho học sinh của giáo viên.
4- Phơng pháp quan sát:
- Quan sát và dự giờ dạy chính tả của đồng nghiệp.
- Quan sát học sinh thực hiện các bài chính tả.
5- Phơng pháp thực nghiệm :
Tôi đã trực tiếp dạy các tiết chính tả để tìm ra các lỗi mà học sinh hay
mắc, tìm nguyên nhân và có biện pháp thích hợp kịp thời sửa lỗi cho các em.
B - Nội dung nghiên cứu
Chơng I
Cơ sở lý luận
I- Cơ sở ngôn ngữ học
Mọi sự vật, hiện tợng luôn luôn vận động và phát triển theo những quy
luật nhất định. Các quy luật này đợc phát hiện, đợc ý thức và trở thành các
nguyên tắc. Hiện tợng chính tả, trong quá trình vận động và phát triển cũng có
2
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
quy luật riêng và đợc ý thức thành các nguyên tắc. Muốn hiểu và viết đúng
chuẩn mực chính tả thì trớc tiên ta phải nắm vững các nguyên tắc này.
Nguyên tắc cơ bản của chữ Việt là nguyên tắc ngữ âm học. Nghĩa là phát
âm thế nào thì viết thế ấy, giữa chữ viết và phát âm có sự nhất trí cao. Nh vậy,
ngay từ nội dung của nguyên tắc này ta cũng thấy vai trò của việc phát âm là
quan trọng. Nếu nh thầy đọc đúng( phát âm đúng) thì học sinh sẽ viết đúng và

3- Cách thực hiện
ở tiểu học hiện nay có thể dạy chính tả bằng hai phơng pháp: tích cực và
tiêu cực. Theo phơng pháp tích cực, giáo viên cho học sinh nhìn cách viết đúng,
nghe cách nói đúng để rồi bản thân sẽ viết đúng và nói đúng. Theo phơng pháp
3
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
tiêu cực, giáo viên tìm ra các lỗi chính tả của học sinh, rồi trên cơ sở đó chữa để
các em không còn phạm lỗi nh vậy nữa.
Từ hai phơng pháp trên, giáo viên thực hiện linh hoạt các kiểu bài chính
tả khác nhau :
- Tập chép (dành cho lớp 1 và 2)
- Chính tả nhớ - viết.
- Chính tả nghe - đọc.
- Bài tập chính tả.
Với nhiều loại bài tập chính tả nh :
- Bài tập điền phụ âm đầu, vần, thanh vào từ hoặc câu.
- Bài tập so sánh chính tả.
- Bài tập tìm các tiếng có cùng vần, thanh hoặc phụ âm đầu
Chơng II
Thực trạng việc dạy chính tả ở Tiểu học
I- Mục đích điều tra thực trạng
Thông qua việc điều tra, tôi có thể nắm đợc thực tế của việc dạy học
phân môn chính tả. Từ đó tìm ra nguyên nhân và có biện pháp thích hợp để sửa
các lỗi chính tả cho học sinh.
II- Phơng pháp điều tra
1-Trò chuyện với học sinh
2- Dự giờ, trao đổi với giáo viên
3- Kiểm tra vở, chấm bài chính tả của học sinh
4-Thực nghiệm, dạy các giờ chính tả

sinh :
* Phát hiện :
* Sửa lỗi:
Những chuyển biến của học sinh sau khi đợc đồng chí sửa lỗi:

Những khó khăn khi dạy phân môn chính tả ?Nguyện vọng và kiến nghị của đồng chí ?
.

Phiếu điều tra
Họ và tên học sinh :
Lớp : Trờng :
Trong các phân môn sau, con thích học phân môn nào nhất ?
( ) Tập đọc
( ) Từ ngữ
( ) Ngữ pháp
( ) Chính tả
( ) Tập làm văn
( ) Kể chuyện
5
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
Vì sao con thích phân môn đó ? .
Con có bị mắc lỗi chính tả hay không ?
Nếu có, con thờng mắc những lỗi gì ?
Cô giáo có giúp con sửa lỗi chính tả không ?
Cô giúp con bằng cách :
Từ khi cô giúp, con có còn mắc lỗi nữa không ?

khăn trong việc học chính tả. 50 % học sinh nói thích học vì chữ các em đang
xấu, em muốn viết đẹp hơn. Em Nguyễn Minh Hiếu - lớp 5B, trờng Cát Linh:
Em thích học chính tả. Môn chính tả giúp em viết đẹp hơn, chữ em đang xấu
6
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
* Bên cạnh đó còn có ý kiến khác:
- Em Vũ Hải Nam - lớp 5B trờng tiểu học Cát Linh: Em thích học chính
tả vì chính tả chỉ cần viết, không cần phải nghĩ nhiều.
- Em Nguyễn Tuấn Trung - lớp 5C trờng tiểu học Cát Linh: Em không
thích học chính tả vì em thờng bị điểm kém, em bị mắc rất nhiều lỗi.
3. Thống kê lỗi chính tả mà học sinh thờng mắc.
Tôi đã sử dụng những bài chính tả sau để khảo sát học sinh :
Bài 1- Bác lái đò
Tôi làm nghề lái đò đã năm năm nay. Nhà tôi là chiếc thuyền gỗ lênh
đênh trên mặt nớc. Tôi nắm vững nơi nào nớc chảy xiết, nơi nào có đá ngầm.
Lúc đêm đến, trong khi con thuyền lớt nhẹ trên dòng sông phẳng lặng, tôi nhìn
chỗ này cây la tha, chỗ nọ nhà nổi lên nối tiếp nhau cũng đoán biết đợc thuyền
đã đến nơi nào.
(Trích trong sách Luyện phát âm- chính tả- Giáo trình trờng CĐSP Hà Nội)
Các loại lỗi Lớp 5B Trờng TH Cát
Linh ( 51 học sinh)
Lớp 5C Trờng TH
Cát Linh
(52 học sinh)
- Thừa, thiếu nét 11 11
- Thiếu chữ 12 14
- Sót dấu, sai dấu thanh 16 14
- Viết hoa tuỳ tiện 9 7
- Không viết hoa đầu câu 5 8

ở Hà Nội việc phát âm các phụ âm trên là tơng đối chuẩn. Tuy nhiên còn một
số học sinh do phát âm sai dẫn đến viết sai chính tả.
VD: Do học sinh phát âm sai giữa l/ n nên viết sai chính tả
- Tôi làm nghề lái đò Tôi nàm nghề nái đò
- Tôi nắm vững Tôi lắm vững
- Đất cao lanh Đất cao nanh
Để phát hiện ra nguyên nhân này sau khi viết xong chính tả, trong phần
chữa bài, tôi có yêu cầu học sinh mắc phải lỗi trên phát âm lại (đọc lại) từ mà
mình viết sai.
b- Lỗi chính tả do không hiểu biết đầy đủ về các nguyên tắc chính tả và
nội dung ngữ nghĩa của từ.
Loại lỗi này thờng gặp khi viết các phụ âm đầu : d/ gi, ch/ tr, ng/ ngh, s/
x, học sinh không hiểu nghĩa của từ dẫn đến viết sai chính tả.
VD : Do không nắm vững quy tắc chính tả khi viết ch/ tr
tr đi với thanh huyền và nặng (trình độ, lập trờng, trịnh trọng, triệu
phú) còn ch thì không đi với hai thanh đó nên học sinh viết tròn trĩnh thành
chòn trĩnh, triều đại thành chiều đại hay do không nắm vững quy tắc
ngh thờng đi với các âm i, e, ê nên học sinh viết nghệ nhân thành ngệ
nhân, nghĩ ngợi thành ngĩ ngợi. Trờng hợp học sinh không hiểu nghĩa của
từ dẫn đến viết sai chính tả.
8
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
VD :
a- Điền vào chỗ trống tr hay ch?
Nh e mọc thẳng, con ng ời không ịu khuất. Ng ời xa có câu: úc
dẫu áy, đốt ngay vẫn thẳng. e là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến,
e lại là đồng í iến đấu của ta. e vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta
đánh giặc.
Có một số học sinh do không hiểu nghĩa của từ nên đã điền âm ch vào

Hiện tợng bị đầy lỡi, ngắn lỡi dẫn đến tr ờng hợp học sinh phát âm
không chuẩn và viết sai chính tả. Ví dụ: Nói ngọng bảo thành bạo, nghĩ
9
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
ngợi thành nghí ngợi, mải mê thành mãi mê đến khi viết các em viết
nh mình phát âm. Đây là trờng hợp lỗi của 3 em học sinh lớp 5C trờng tiểu học
Cát Linh ( Em Nguyễn Anh Quân, Trần Minh Sang, Nguyễn Xuân Dơng).
Trên đây là những điều tra mà tôi thu thập đợc trong thời gian giảng dạy.
Qua phần điều tra tôi thấy rằng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh của giáo viên
cha đợc quan tâm đúng mức. Trong thực tế học sinh còn nhiều em mắc lỗi
chính tả.
Chơng III
Những đề xuất
Xuất phát từ cơ sở lý luận cũng nh thực trạng của việc dạy học chính tả
hiện nay, tôi thấy cần thiết phải có các hình thức tổ chức và biện pháp sửa lỗi
chính tả cho học sinh một cách kịp thời dựa trên các nguyên nhân mắc lỗi của
chính bản thân các em.
Cách chữa lỗi thờng nhắc đến là tập phát âm cho đúng. Cách thứ hai là
nhớ từng từ một và cách thứ ba là dùng mẹo.
Sau đây là một số biện pháp mà tôi sử dụng để sửa lỗi cho học sinh trong
quá trình tôi giảng dạy lớp 5 và qua một số gợi ý tham khảo về cách sửa lỗi
chính tả cho học sinh mà giáo viên có thể tiến hành trong khoảng thời gian dài
hay ngắn tùy vào điều kiện của lớp mình. Thực hiện các biện pháp này tôi dựa
chủ yếu trên tinh thần: Yêu cầu học sinh tự sửa lỗi chính tả, tự tìm ra kiến thức
bằng chính hành động của mình, tự đặt mình vào tình huống, nghiên cứu cách
xử lý, tự đánh giá, tự kiểm tra sản phẩm ban đầu ., còn giáo viên là ng ời h-
ớng dẫn, tổ chức cho học sinh học tập. Việc sửa lỗi đợc tiến hành mọi lúc, mọi
nơi, trong tất cả các môn học dới hình thức đơn giản, nhẹ nhàng học mà chơi,
chơi mà học, và luôn luôn tập trung chú ý tới ba đối tợng học sinh giỏi, khá,

vần trên: lóa mắt, lõa xõa, loại, loai choai, loài, loan báo, loạn, lở loét, .Ngoài
ra còn có các từ: lý luận, luật lệ, luyến tiếc,
Để cho học sinh đỡ căng thẳng thì phần tìm từ giáo viên có thể tổ chức
thành trò chơi ngắn( khoảng 2 phút) thi tìm từ nhanh( chơi tại chỗ).
b) Về mặt láy âm, vần l và n đối lập nhau:
* Vị trí 1:
- L láy vần rộng rãi trong tiếng Việt, láy vần với rất nhiều âm đầu: lõm
bõm, lạch cạch, lỉnh kỉnh, liên miên, lã chã, lạo xạo, liêu xiêu, lăn tăn, lai rai,
lèo nhèo, lom khom, lơ ngơ, lởn vởn, luýnh quýnh, .
- N thì không láy âm với âm đầu nào khác mà chỉ điệp âm đầu thôi: no
nê, nao núng, nờm nợp, náo nức, nơng náu, nuôi nấng,
- Không có hiện tợng L láy với N
Khi đa ra quy tắc này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh khá giỏi tìm
trong bài những từ chứa hiện tợng chính tả trên.
Ví dụ: lẫn lộn, nở nang, lở loét, lo lắng, niềm nở, nức nở, nể nang,
Việc học sinh tự tìm ra các từ chứa hiện tợng chính tả đã học giúp các em
nhớ rất lâu, khi viết không bị lẫn lộn.
* Vị trí 2: ở vị trí này, trong bài học không có từ chứa hiện tợng chính tả
cần nói đến. Vì vậy, giáo viên có thể khéo léo cung cấp quy tắc chính tả này
thông qua các môn học khác. Đó là:
- N chỉ láy với gi và láy với nguyên phần vần mà không có âm đầu:
gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não,
- L láy với những âm khác gi : khéo léo, khoác loác, lăng nhăng, lặt
vặt, lai rai, lăn tăn, lộp độp, leng keng, làu bàu, lắp bắp,
c) Về những từ đồng nghĩa:
Có khoảng 40 từ đồng nghĩa thành cặp l - nh
Ví dụ: lặt nhặt, lầm nhầm, lỡ nhỡ, lố lăng, nhố nhăng, lanh lẹn, nhanh
nhẹn, lem luốc,
11
Trờng Tiểu học Cát Linh

Ví dụ: Nó khóc nức nở.
Sự việc đã vỡ lở.
Ngoài vờn, những bông hoa đua nở.
(Dựa vào ngữ cảnh trên học sinh sẽ giải nghĩa đợc các từ : nức nở, vỡ lở,
đua nở)
Khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết các em sẽ liên tởng đến
ngữ cảnh và suy luận ra cách viết chữ. Làm sao trong một tiết học chính tả, phải
tạo điều kiện cho học sinh trở đi trở lại với những từ cần ghi nhớ nhiều lần.
Chẳng hạn, lần thứ nhất vào bài học, yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt ngữ
cảnh để hiểu nghĩa từ và nhớ ngữ cảnh. Lần thứ hai, yêu cầu học sinh lựa chọn
các từ trong ngữ cảnh vừa cung cấp để điền từ vào một ngữ cảnh khác. Lần thứ
12
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
ba, yêu cầu học sinh đặt câu với từ vừa học, tìm từ ghép, từ láy với tiếng có vấn
đề chính tả Nh vậy trong một tiết học, học sinh đã đợc mắt nhìn, tay viết chữ
có vấn đề chính tả nhiều lần.
Ví dụ:
Lần 1: Em hãy đọc thầm các câu sau đây và tìm các từ có phụ âm đầu là
l và n
Không thể lẫn chị Chấm với bất cứ ngời nào khác. Chị có một thân hình
nở nang rất cân đối. Hai cánh tay béo lẳn, chắc nịch. Đôi lông mày không tỉa
bao giờ, mọc lòa xòa tự nhiên, làm cho đôi mắt sắc sảo của chị dịu dàng đi.
Lần 2: Tìm những chữ bỏ trống bắt đầu bằng l và n để điền vào câu
sau:
- Khi viết chính tả, chúng ta không đợc .giữa l và n.
- Lý Đức là một vận động viên thể dục thể hình. Cơ thể anh ta rất
cân đối.
- Lần 3: Em hãy tạo từ ghép có tiếng lộn và nở
- Lộn: lẫn lộn, lộn xộn,

theo. Có nh vậy, các em dựa vào bài mẫu của giáo viên và sẽ tiếp tục phân tích
các từ khác với sự trợ giúp của cô giáo.
Bài tập về nhà cũng yêu cầu học sinh làm kiểu này với các từ lo lắng, lở
loét, niềm nở, nức nở, nắng nôi, nể nang, lanh lợi, lành lặn, nông nổi, .và yêu
cầu học sinh tìm thêm một số từ khác để phân tích cho thành thạo.
4- Hớng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ xảo
chính tả
Yêu cầu luyện tập nhằm củng cố, trau dồi kỹ năng viết đúng chính tả tiếng
Việt nói chung cho học sinh một cách có hệ thống ( qua các bài tập giúp học
sinh ghi nhớ về quy tắc chính tả, phân biệt cách viết các cặp phụ âm đầu, vần,
thanh dễ lẫn do đặc điểm phát âm địa phơng). Đây cũng là bớc vừa rèn kỹ năng
vừa củng cố hoặc ôn tập kiến thức chính tả theo chơng trình của mỗi lớp. ở phần
này, để khẳng định cho học sinh trong việc làm các bài tập, giáo viên có thể làm
mẫu và tăng cờng gợi ý, hớng dẫn học sinh về cách làm, tránh thả nổi hoặc
làm thay học sinh. Giáo viên lu ý học sinh gắn từ ấy với phần bài tập đọc đã
học và ngữ cảnh.
Nhìn chung qua các kiểu bài tập về chính tả, mỗi bài phải đáp ứng nhiệm
vụ chữa một vài lỗi chính tả cụ thể, theo một mức độ cụ thể.
a) Viết chính tả
Ví dụ: Bài viết Luật bảo vệ môi trờng
Sau khi học sinh viết bài chính tả trên, giáo viên yêu cầu học sinh làm bài
tập 2- SGK Tiếng Việt 5 tập 1- trang 104
* Tìm từ chứa tiếng có âm đầu là l hoặc n
M: lấm: lấm tấm .
nấm: nấm rơm .
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ chứa các tiếng cho sẵn có chứa âm
đầu l hoặc n
Thông qua bài tập trên giúp học sinh phân biệt so sánh l và n để viết
đúng các tiếng có phụ âm đầu viết là l và n.
* Giáo viên có thể đa thêm bài tập điền l hoặc n cho học sinh thực

- Con thuyền nênh đênh trên mặt biển.
- Chỉ một nát bố tôi đã chặt phăng cây gỗ.
- Noáng một cái công việc đã xong.
- Chúng ta phải chăm nuyện tập thể thao.
- Nó đến nhng ló không nên tiếng.
d) Giáo viên đa ra những chữ viết sai lỗi chính tả theo cách viết thờng gặp
của học sinh và yêu cầu các em chữa chung cả lớp, đồng thời giải thích tại sao
mà sai. Việc giải thích chủ yếu do giáo viên hớng dẫn, gợi ý học sinh giỏi làm.
Ví dụ: Phát hiện những lỗi sai, giải thích tại sao sai và sửa lỗi
- Ai lấy đều chăm chú dõi nhìn theo con thuyền đang nênh đênh đi về h-
ớng lam. Trời nặng gió, sóng năn tăn, mọi ngời đều yên tâm, không áy láy, no
nắng gì.
- Chỉ một lát, chú tôi chặt gẫy cây chà nà, tôi giãy lảy kêu lên, lớc mắt rơi
nã chã, tiếc công vun bón. Cả ngày tôi thật buồn và ảo lão, nhng đã nỡ rồi, biết
khi lào trồng lại đợc.
e ) Các em tự mình đặt ra những câu trong đó có sự đối lập giữa l và n
Ví dụ: Đặt câu trong đó có nó, ló.
15
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
Đặt câu trong đó có lắng, nắng.
Trên đây là một số kiểu bài tập tôi đã đa ra cho học sinh thực hành.
Trong một tiết dạy, giáo viên không thể đa hết các loại bài tập này, do vậy giáo
viên cần khéo léo lựa chọn các dạng bài tập cần thiết nhất để chữa trên lớp. Các
dạng khác có thể cho học sinh về nhà làm hoặc làm vào những giờ hớng dẫn
học buổi chiều hay bổ sung vào các tiết học khác.
5- Tăng cờng yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả
Các em tự chữa lấy bài chính tả của mình là chính; học sinh dùng bút chì
gạch chân dới những chữ viết sai và viết lại đúng ra lề cùng dòng, sau đó học
sinh tính lỗi và ghi nhỏ ở ngoài lề số lỗi mình mắc phải trong bài của mình. Học

16
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
7- Tổ chức trò chơi trong tiết học
Việc tổ chức trò chơi trong lớp học là một trong những phơng pháp đổi
mới các hình thức dạy học hiện nay. Trò chơi học tập nhằm giải quyết những
nhiệm vụ giáo dục và giáo dỡng của nhà trờng Mầm non và Tiểu học dới hình
thức vui chơi hấp dẫn. Nếu những trò chơi này đợc tổ chức tốt, các em sẽ rất
hứng thú và vui thích tham gia vào trò chơi, quá trình học tập của các em trở
nên nhẹ nhàng, thoải mái. Trò chơi học tập sẽ tạo điều kiện để trẻ sử dụng và
củng cố những kiến thức mà các em tiếp thu đợc trong học tập cũng nh trong
cuộc sống hàng ngày, đồng thời mở rộng những khái niệm mà trẻ đã biết.
Những trò chơi hấp dẫn sẽ tạo điều kiện để hình thành ở trẻ những phẩm chất
cần thiết cho việc lĩnh hội các kiến thức mới nh tính linh hoạt, sự nhanh trí, óc
thông minh sáng tạo và khả năng quan sát. Nếu đợc hớng dẫn một cách cụ thể
và đúng đắn, có hệ thống, trò chơi học tập sẽ giúp cho quá trình nhận thức và
ngôn ngữ của trẻ đợc phát triển thuận lợi.
Với phân môn chính tả, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi dới
dạng các bài tập và hình thức thi đua giữa các tổ, đội , cá nhân, . Trong các
giờ sinh hoạt lớp hay hoạt động tập thể, giáo viên có thể tổ chức các buổi sinh
hoạt với chủ đề: Tiếng Việt em yêu hay nét chữ , nết ngời .
Ví dụ:
* Điền l hay n vào chỗ trống:
- Đàn chim sẻ ép mình qua kẽ sậy
Tia ắng hồng đốt cháy hạt s ơng trong
Con trâu đen đứng chúi mũi bên đồng
Cứ iếm mãi ắng vàng trên cỏ biếc.
( Nắng xuân - Đoàn Văn Cừ)
- Rất đẹp hình anh úc ắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo eo

Đáp án: Cái lợc
II- Sửa lỗi chính tả vần u/ iu; vần ơu/ iêu
Trong thực tế phát âm học sinh thờng lầm lẫn giữa một số từ nh lu lạc và
liu lạc; trừu tợng và trìu tợng; con hơu và con hiêu; chai rợu và chai riệu dẫn
đến khi viết chính tả cũng viết nh phát âm.
Để sửa lỗi sự lầm lẫn này, giáo viên giúp học sinh rút ra nhận xét khi dạy
bài chính tả có dạng bài tập phân biệt vần ơu/ iêu/ u/ iu.
*Các âm tiết có vần u không nhiều, chỉ ở những trờng hợp sau:
Bu ( bu điện, bu phẩm).
Hu ( hu trí).
Lu (lu đày, lu trữ).
Lựu ( lựu đạn, quả lựu).
Cứu, cừu, cửu, cựu.
Su( su thuế), ( tuổi ) sửu.
Tựu ( trờng) , tửu (quán).
Ngoài các trờng hợp trên đều là vần iu.
* Các âm tiết có vần ơu không nhiều, chỉ có ở những trờng hợp sau:
Rợu, con hơu, khớu( con khớu), bớu( bớu cổ) , bơu( ốc bơu) , bơu( bơu
đầu), tờu( con khỉ).
Ngoài các trờng hợp trên, đều là vần iêu( yêu).
Phần nhận xét này học sinh cần ghi nhớ một cách máy móc từng trờng
hợp một.
* Bài tập cho học sinh: Điền vào chỗ trống:
18
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
- u hay iu: ngợng ngh ., m trí, quả l .đạn, cái r .
- u hay ơu: con kh ., con ốc b ., xe cấp c .
- iêu hay iu: đ .hát, đ bộ, th th ngủ, phì nh , gió thổi h h .
- êu, iu, iêu, u hay ơu: chiếc khăn th ., buồn th .buồn th ., buổi

dấu ngã thì nó sẽ là dấu ngã.
- Dấu không đi với dấu hỏi: mê mẩn, ngơ ngẩn, khẳng khiu, bảnh bao,
trong trẻo, quanh quẩn, .
- Dấu hỏi đi với dấu hỏi: đủng đỉnh, lỉnh kỉnh, bủn rủn, lẩn thẩn, lỏng lẻo,

- Dấu sắc đi với dấu hỏi: sáng sủa, rẻ rúng, nhảm nhí, hối hả, gắt gỏng, b-
ớng bỉnh, đắt đỏ, .
19
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
- Dấu huyền đi với dấu ngã: nhỡ nhàng, mỡ màng, não nùng, dễ dàng,
bão bùng, hãi hùng,
- Dấu ngã đi với dấu ngã: lõa xõa, lõm bõm, lẵng nhẵng,
- Dấu nặng đi với dấu ngã: nũng nịu, thõng thẹo, rộng rãi, .
* Hớng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ xảo
chính tả
a- Viết chính tả: Ngoài việc học sinh viết những bài chính tả trong sách
giáo khoa và làm các bài tập phân biệt dấu hỏi, dấu ngã, có thể giáo viên cho
học sinh viết thêm một số bài su tầm nh:
Chính tả : Lê ở nhà
Ba bảo Lê ở nhà để ba đi họp tối, Lê phải trông em. Em bé đang ngủ say.
Lê đợi mãi chẳng thấy ba trở về. Lê cảm thấy cũng buồn ngủ, nhng Lê vẫn cố
thức. Có tiếng gõ cửa, ba về cho Lê quả bóng đỏ có những sọc trắng. Ba bảo Lê:
Con của ba ngoan lắm. Con đã biết giữ nhà rồi đấy!.
Sau khi đã nắm đợc quy tắc chính tả về hỏi, ngã, giáo viên cho học sinh
viết bài chính tả này để các em vận dụng những điều đã học vào bài viết. Đồng
thời qua bài chính tả giáo viên có thể kiểm tra xem các em nắm bài đến đâu để
kịp thời sửa lỗi cho các em.
b- Bài tập
+ Điền hỏi hoặc ngã vào những chữ viết nghiêng

mực để học sinh noi theo. Chữ của giáo viên viết lên bảng phải thật cẩn thận,
chuẩn xác, đúng tính chất mẫu mực. Giáo viên đọc mẫu cho học sinh phải
chuẩn xác, đúng chính âm. Giáo viên đọc thong thả, rõ ràng, ngắt hơi hợp lý.
Tốc độ đọc phải phù hợp, tơng ứng với tốc độ viết của học sinh. Giáo viên có sự
gợi ý, hớng dẫn và nhắc nhở thích hợp để học sinh viết chính xác, viết đẹp,
không tẩy xóa và đảm bảo đúng tốc độ viết đã đợc quy định cho từng bài ở từng
tiết.
Trong các tiết chính tả, giáo viên phải nhắc nhở học sinh ngồi đúng t thế,
cách để vở ( nghiêng so với thân ngời 15
0
), cách cầm bút( thờng đuôi bút trỏ về
phía vai phải, không trỏ lên trời nh kiểu cầm bút viết chữ nho, không trỏ sang
trái).
Một số học sinh có thói quen cha nghe hết câu giáo viên đọc đã viết. Do
đó nghe đợc tiếng đầu thì quên tiếng sau hoặc nghe không đầy đủ từ dẫn đến
viết thiếu nét, thiếu từ. Giáo viên cần quy định cho học sinh khi nghe hết câu
mới bắt đầu viết. Khi viết xong thì dò lại xem có thừa, thiếu nét, chữ nào
không? Khi gặp chữ khó thì cứ bình tĩnh để chừa ra và viết tiếp các chữ sau. Khi
giáo viên đọc lại, chữ cha viết kịp sẽ đợc viết bổ sung. Viết xong giơ bút để giáo
viên biết.
Với những bài viết chính tả là bài thơ, để tránh tình trạng có học sinh viết
nhanh quá, có học sinh viết chậm quá thì tr ớc khi viết giáo viên gõ một tiếng
thớc nhỏ và ớc lợng khoảng thời gian để viết xong dòng thơ theo tốc độ yêu cầu
đối với học sinh lớp Năm. Giáo viên gõ hai tiếng thớc nhỏ thì học sinh dừng bút
viết và giơ bút. Luyện cho học sinh nhiều lần nh vậy các em sẽ có thói quen viết
cẩn thận mà không vội vã, đồng thời còn rèn tốc độ viết cho những học sinh viết
chậm.
Chơng IV
Kết quả thu đợc
Trên đây là một số biện pháp sửa lỗi chính tả tôi đã sử dụng trong thời

3- Để làm đợc điều trên, ngay từ những năm đầu cấp cần tiến hành điều
tra cơ bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, để từ đó lựa chọn nội dung
giảng dạy cho thích hợp. Giáo viên cần tăng cờng sự linh hoạt, sáng tạo trong
giảng dạy, cụ thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát và hợp với đối t-
ợng học sinh lớp mình phụ trách
4- Mỗi giáo viên cần có ý thức rèn chính tả cho học sinh ngay từ đầu cấp
hoặc từ đầu năm học.
5- Nhà trờng cần thờng xuyên tổ chức các chuyên đề, cuộc thảo luận về
phơng pháp dạy học chính tả nói chung và việc sửa lỗi chính tả cho học sinh nói
riêng.
Trên đây là toàn bộ sáng kiến Rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp
Năm của tôi. Để hoàn thành đợc sáng kiến, tôi đã đợc sự quan tâm giúp đỡ của
Ban giám hiệu nhà trờng và các đồng chí giáo viên khối Năm. Qua quá trình
nghiên cứu và thực hiện bản thân tôi đã tích lũy đợc nhiều kinh nghiệm giảng
dạy bổ ích và quý báu.
22
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga Lp 5
Do điều kiện thời gian có hạn nên sáng kiến của tôi không tránh khỏi
những thiếu sót.Tôi rất mong nhận đợc nhiều ý kiến đóng góp để sáng kiến
thêm hoàn chỉnh và có nhiều ý nghĩa thực tế hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XC NHN CA TH TRNG
N V
H Ni, ngy 15 thỏng 3 nm 2012
Tụi xin cam oan õy l SKKN ca
mỡnh vit, khụng sao chộp ni dung
ca ngi khỏc.
Hỏn Th Qunh Nga
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status