Giỏo viờn
Giỏo viờn
:
: n V:
Nm Hc: -
A- Phần mở đầu
I - Lý do chọn đề tài
Từ xa xa, nhân dân ta đã có câu Nét chữ, nết ngời có nghĩa là nét chữ thể
hiện tính cách con ngời. Thông qua nét chữ ngời ta có thể đánh giá ngời viết là ng-
ời nh thế nào?
Cho đến nay, câu nói trên vẫn đợc coi là đúng. Tuy nhiên chúng ta cần phải
hiểu nét chữ không phải đơn thuần là nét thanh, nét đậm mà nó bao hàm cả việc
viết đẹp, viết đúng chuẩn mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Ngời xa nói Nét chữ, nết ngời không chỉ hàm ý nét chữ thể hiện tính cách
con ngời mà nó hàm ý rằng thông qua việc rèn luyện chữ viết mà giáo dục nhân
cách con ngời. Nh vậy việc rèn luyện cho học sinh viết chữ đẹp, viết đúng chuẩn
mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp vừa là mục đích vừa là phơng tiện
của quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
Xuất phát từ nhận thức trên, ở bậc Tiểu học, phân môn chính tả có vị trí
quan trọng trong cơ cấu chơng trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở tr-
2
ờng nói chung. Nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính
tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt
chuẩn mực. Ngoài ra, phân môn chính tả còn rèn cho học sinh một số phẩm chất
nh tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và
chữ viết của tiếng Việt.
Đối với ngời sử dụng tiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ đó là ngời có
- Mục đích : Thông qua việc điều tra, khảo sát, tôi có thể nắm đợc thực tế
của việc dạy học môn tiếng Việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng. Từ đó
tìm ra nguyên nhân và có các biện pháp thích hợp để sửa các lỗi chính tả cho học
sinh.
- Cách tiến hành: Điều tra và khảo sát học sinh tại trờng Tiểu học Cát Linh
qua hình thức
+ Phiếu điều tra.
+ Nói chuyện, trao đổi với học sinh.
3- Phơng pháp trò chuyện :
Sử dụng phơng pháp này tôi đã trực tiếp trao đổi, hỏi ý kiến của giáo viên
trong khối để tìm hiểu thực trạng việc dạy học chính tả, những khó khăn của học
sinh cũng nh của giáo viên khi dạy chính tả, những lỗi chính tả mà học sinh thờng
mắc và những biện pháp sửa lỗi cho học sinh của giáo viên.
4- Phơng pháp quan sát:
- Quan sát và dự giờ dạy chính tả của đồng nghiệp.
- Quan sát học sinh thực hiện các bài chính tả.
5- Phơng pháp thực nghiệm :
Tôi đã trực tiếp dạy các tiết chính tả để tìm ra các lỗi mà học sinh hay mắc,
tìm nguyên nhân và có biện pháp thích hợp kịp thời sửa lỗi cho các em.
4
B - Nội dung nghiên cứu
Chơng I
Cơ sở lý luận
I- Cơ sở ngôn ngữ học
Mọi sự vật, hiện tợng luôn luôn vận động và phát triển theo những quy
luật nhất định. Các quy luật này đợc phát hiện, đợc ý thức và trở thành các nguyên
tắc. Hiện tợng chính tả, trong quá trình vận động và phát triển cũng có quy luật
riêng và đợc ý thức thành các nguyên tắc. Muốn hiểu và viết đúng chuẩn mực
chính tả thì trớc tiên ta phải nắm vững các nguyên tắc này.
Nguyên tắc cơ bản của chữ Việt là nguyên tắc ngữ âm học. Nghĩa là phát
2- Nội dung chính tả gồm có
- Xác định và thực hiện cách viết hoa đúng với từ ngữ.
- Xác định và thực hiện những nguyên tắc khác của chính tả nh viết hoa,
viết tắt, dùng dấu, phiên âm
3- Cách thực hiện
ở tiểu học hiện nay có thể dạy chính tả bằng hai phơng pháp: tích cực và
tiêu cực. Theo phơng pháp tích cực, giáo viên cho học sinh nhìn cách viết đúng,
nghe cách nói đúng để rồi bản thân sẽ viết đúng và nói đúng. Theo phơng pháp
tiêu cực, giáo viên tìm ra các lỗi chính tả của học sinh, rồi trên cơ sở đó chữa để
các em không còn phạm lỗi nh vậy nữa.
6
Từ hai phơng pháp trên, giáo viên thực hiện linh hoạt các kiểu bài chính tả
khác nhau :
- Tập chép (dành cho lớp 1 và 2)
- Chính tả nhớ - viết.
- Chính tả nghe - đọc.
- Bài tập chính tả.
Với nhiều loại bài tập chính tả nh :
- Bài tập điền phụ âm đầu, vần, thanh vào từ hoặc câu.
- Bài tập so sánh chính tả.
- Bài tập tìm các tiếng có cùng vần, thanh hoặc phụ âm đầu
Chơng II
Thực trạng việc dạy chính tả ở Tiểu học
I- Mục đích điều tra thực trạng
Thông qua việc điều tra, tôi có thể nắm đợc thực tế của việc dạy học phân
môn chính tả. Từ đó tìm ra nguyên nhân và có biện pháp thích hợp để sửa các lỗi
chính tả cho học sinh.
II- Phơng pháp điều tra
1-Trò chuyện với học sinh
2- Dự giờ, trao đổi với giáo viên
8
* Phát hiện :
* Sửa lỗi:
Những chuyển biến của học sinh sau khi đợc đồng chí sửa lỗi:
Những khó khăn khi dạy phân môn chính tả ?Nguyện vọng và kiến nghị của đồng chí ?
.
Phiếu điều tra
Họ và tên học sinh :
Lớp : Trờng :
Trong các phân môn sau, con thích học phân môn nào nhất ?
( ) Tập đọc
( ) Từ ngữ
( ) Ngữ pháp
( ) Chính tả
( ) Tập làm văn
( ) Kể chuyện
Vì sao con thích phân môn đó ? .
Con có bị mắc lỗi chính tả hay không ?
Nếu có, con thờng mắc những lỗi gì ?
9
Cô giáo có giúp con sửa lỗi chính tả không ?
Cô giúp con bằng cách :
Từ khi cô giúp, con có còn mắc lỗi nữa không ?
IV- Kết quả điều tra và phân tích
1 - Tình hình dạy và học phân môn chính tả ở lớp 5 hiện nay :
đẹp hơn. Em Nguyễn Minh Hiếu - lớp 5B, trờng Cát Linh: Em thích học chính
tả. Môn chính tả giúp em viết đẹp hơn, chữ em đang xấu
* Bên cạnh đó còn có ý kiến khác:
- Em Vũ Hải Nam - lớp 5B trờng tiểu học Cát Linh: Em thích học chính tả
vì chính tả chỉ cần viết, không cần phải nghĩ nhiều.
- Em Nguyễn Tuấn Trung - lớp 5C trờng tiểu học Cát Linh: Em không
thích học chính tả vì em thờng bị điểm kém, em bị mắc rất nhiều lỗi.
11
3. Thống kê lỗi chính tả mà học sinh thờng mắc.
Tôi đã sử dụng những bài chính tả sau để khảo sát học sinh :
Bài 1- Bác lái đò
Tôi làm nghề lái đò đã năm năm nay. Nhà tôi là chiếc thuyền gỗ lênh
đênh trên mặt nớc. Tôi nắm vững nơi nào nớc chảy xiết, nơi nào có đá ngầm. Lúc
đêm đến, trong khi con thuyền lớt nhẹ trên dòng sông phẳng lặng, tôi nhìn chỗ
này cây la tha, chỗ nọ nhà nổi lên nối tiếp nhau cũng đoán biết đợc thuyền đã đến
nơi nào.
(Trích trong sách Luyện phát âm- chính tả- Giáo trình trờng CĐSP Hà Nội)
Các loại lỗi Lớp 5B Trờng TH Cát
Linh ( 51 học sinh)
Lớp 5C Trờng TH
Cát Linh
(52 học sinh)
- Thừa, thiếu nét 11 11
- Thiếu chữ 12 14
- Sót dấu, sai dấu thanh 16 14
- Viết hoa tuỳ tiện 9 7
- Không viết hoa đầu câu 5 8
- Không viết hoa danh từ riêng 10 9
- Sai vần 17 16
- Sai phụ âm đầu
- Đất cao lanh Đất cao nanh
13
Để phát hiện ra nguyên nhân này sau khi viết xong chính tả, trong phần
chữa bài, tôi có yêu cầu học sinh mắc phải lỗi trên phát âm lại (đọc lại) từ mà
mình viết sai.
b- Lỗi chính tả do không hiểu biết đầy đủ về các nguyên tắc chính tả và nội
dung ngữ nghĩa của từ.
Loại lỗi này thờng gặp khi viết các phụ âm đầu : d/ gi, ch/ tr, ng/ ngh, s/
x, học sinh không hiểu nghĩa của từ dẫn đến viết sai chính tả.
VD : Do không nắm vững quy tắc chính tả khi viết ch/ tr
tr đi với thanh huyền và nặng (trình độ, lập trờng, trịnh trọng, triệu phú)
còn ch thì không đi với hai thanh đó nên học sinh viết tròn trĩnh thành chòn
trĩnh, triều đại thành chiều đại hay do không nắm vững quy tắc ngh thờng
đi với các âm i, e, ê nên học sinh viết nghệ nhân thành ngệ nhân, nghĩ
ngợi thành ngĩ ngợi. Trờng hợp học sinh không hiểu nghĩa của từ dẫn đến viết
sai chính tả.
VD :
a- Điền vào chỗ trống tr hay ch?
Nh e mọc thẳng, con ngời không ịu khuất. Ngời xa có câu: úc dẫu
áy, đốt ngay vẫn thẳng. e là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, e lại là
đồng íiến đấu của ta. e vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc.
Có một số học sinh do không hiểu nghĩa của từ nên đã điền âm ch vào từ
tre, hay trúc, vì vậy học sinh điền vào bài nh sau:
Nh che mọc thẳng, con ngời không chịu khuất. Ngời xa có câu: Chúc
dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng. Tre là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, che
lại là đồng chí triến đấu của ta. Che vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh
giặc.
14
(Theo bài của học sinh Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn Thanh Loan - lớp 5B-
trờng tiểu học Cát Linh)
phần điều tra tôi thấy rằng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh của giáo viên cha đợc
quan tâm đúng mức. Trong thực tế học sinh còn nhiều em mắc lỗi chính tả.
Chơng III
Những đề xuất
Xuất phát từ cơ sở lý luận cũng nh thực trạng của việc dạy học chính tả hiện
nay, tôi thấy cần thiết phải có các hình thức tổ chức và biện pháp sửa lỗi chính tả
cho học sinh một cách kịp thời dựa trên các nguyên nhân mắc lỗi của chính bản
thân các em.
Cách chữa lỗi thờng nhắc đến là tập phát âm cho đúng. Cách thứ hai là nhớ
từng từ một và cách thứ ba là dùng mẹo.
Sau đây là một số biện pháp mà tôi sử dụng để sửa lỗi cho học sinh trong
quá trình tôi giảng dạy lớp 5 và qua một số gợi ý tham khảo về cách sửa lỗi chính
tả cho học sinh mà giáo viên có thể tiến hành trong khoảng thời gian dài hay ngắn
tùy vào điều kiện của lớp mình. Thực hiện các biện pháp này tôi dựa chủ yếu trên
tinh thần: Yêu cầu học sinh tự sửa lỗi chính tả, tự tìm ra kiến thức bằng chính
hành động của mình, tự đặt mình vào tình huống, nghiên cứu cách xử lý, tự đánh
giá, tự kiểm tra sản phẩm ban đầu., còn giáo viên là ngời hớng dẫn, tổ chức
cho học sinh học tập. Việc sửa lỗi đợc tiến hành mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả các
môn học dới hình thức đơn giản, nhẹ nhàng học mà chơi, chơi mà học, và luôn
luôn tập trung chú ý tới ba đối tợng học sinh giỏi, khá, trung bình- yếu. Lấy học
sinh giỏi làm trung tâm.
16
I - Sửa lỗi phụ âm l, n
Hiện tợng lẫn lộn l và n là lỗi chính tả tơng đối phổ biến ở đồng bằng
Bắc Bộ. Qua điều tra, tôi thấy hiện tợng này xảy ra chủ yếu có sự lẫn lộn về từ
vựng và cách phát âm. Để khắc phục tình trạng này tôi đã dùng một số biện pháp
nh sau:
1- Giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả của cặp phụ âm l, n
* Mục đích: Trên cơ sở học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, các em sẽ
viết đúng chính tả cho dù các em có phát âm sai.
- Không có hiện tợng L láy với N
Khi đa ra quy tắc này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh khá giỏi tìm trong
bài những từ chứa hiện tợng chính tả trên.
Ví dụ: lẫn lộn, nở nang, lở loét, lo lắng, niềm nở, nức nở, nể nang,
Việc học sinh tự tìm ra các từ chứa hiện tợng chính tả đã học giúp các em
nhớ rất lâu, khi viết không bị lẫn lộn.
* Vị trí 2: ở vị trí này, trong bài học không có từ chứa hiện tợng chính tả cần
nói đến. Vì vậy, giáo viên có thể khéo léo cung cấp quy tắc chính tả này thông qua
các môn học khác. Đó là:
- N chỉ láy với gi và láy với nguyên phần vần mà không có âm đầu:
gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não,
- L láy với những âm khác gi : khéo léo, khoác loác, lăng nhăng, lặt vặt,
lai rai, lăn tăn, lộp độp, leng keng, làu bàu, lắp bắp,
c) Về những từ đồng nghĩa:
18
Có khoảng 40 từ đồng nghĩa thành cặp l - nh
Ví dụ: lặt nhặt, lầm nhầm, lỡ nhỡ, lố lăng, nhố nhăng, lanh lẹn, nhanh nhẹn,
lem luốc,
Phần này giáo viên không nhất thiết phải đa ra cho học sinh vì nh thế rất
phức tạp, học sinh sẽ bị rối ( đây là phần chuyên sâu cho những ngời nghiên
cứu). Giáo viên chỉ cần cho học sinh biết: những từ chỉ trỏ đều viết là n : nầy,
này, nọ, ni, nớ, nào, nó tơng ứng với các từ chỉ trỏ chính thức: đây, đó, đâu, đấy,
d) Về nghĩa từ:
- Những từ chỉ ẩn nấp viết n : né, nấp, nơng náu,
- Những từ chỉ phơng hớng viết n : nam, nồm,
Với các quy tắc này, học sinh phải nhớ máy móc. Giáo viên lu ý thờng
xuyên yêu cầu học sinh tìm ví dụ thực tế. Đặc biệt đối với học sinh trung bình,
mỗi hiện tợng chính tả giáo viên cần đa một ví dụ và phân tích ( có thể hỏi học
sinh), coi nh đây là việc trực quan cho học sinh. Dựa vào phần phân tích ví dụ của
vậy trong một tiết học, học sinh đã đợc mắt nhìn, tay viết chữ có vấn đề chính
tả nhiều lần.
Ví dụ:
Lần 1: Em hãy đọc thầm các câu sau đây và tìm các từ có phụ âm đầu là l
và n
20
Không thể lẫn chị Chấm với bất cứ ngời nào khác. Chị có một thân hình nở
nang rất cân đối. Hai cánh tay béo lẳn, chắc nịch. Đôi lông mày không tỉa bao giờ,
mọc lòa xòa tự nhiên, làm cho đôi mắt sắc sảo của chị dịu dàng đi.
Lần 2: Tìm những chữ bỏ trống bắt đầu bằng l và n để điền vào câu sau:
- Khi viết chính tả, chúng ta không đợc.giữa l và n.
- Lý Đức là một vận động viên thể dục thể hình. Cơ thể anh ta rất cân
đối.
- Lần 3: Em hãy tạo từ ghép có tiếng lộn và nở
- Lộn: lẫn lộn, lộn xộn,
- Nở: nở nang, nức nở,.
Lần 4 : Em hãy đặt câu với mỗi từ nở nang, lẫn lộn.
Với học sinh giỏi, giáo viên yêu cầu các em về nhà viết đoạn văn có sử dụng
các từ trên. Những thao tác điền từ, đặt câu, tạo từ đều đợc thực hiện bằng tay,
bằng mắt, giảm nói và đọc. Với học sinh trung bình phần đặt câu coi nh là bài tập
chính tả về nhà cho các em.
Giáo viên tăng cờng giải nghĩa từ cho học sinh thông qua các môn học khác
đặc biệt là phân môn tập đọc và luyện từ và câu.
3- Tăng cờng thao tác phân tích âm tiết ở học sinh
Phân tích ngôn ngữ là một phơng pháp đặc thù trong dạy học tiếng Việt. ở
phân môn chính tả, phơng pháp này thể hiện cụ thể ở phân tích âm tiết (chữ viết).
Lỗi chính tả có thể xảy ra ở một hoặc nhiều bộ phận cấu tạo nên âm tiết (chữ
viết ) tiếng Việt. Vì vậy, phân tích âm tiết có tác dụng tăng cờng hiệu quả tri giác
chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó biểu đạt. Cần phải để việc
phân tích cho học sinh làm. Khi tiến hành phân tích âm tiết, học sinh buộc phải
chữa một vài lỗi chính tả cụ thể, theo một mức độ cụ thể.
a) Viết chính tả
Ví dụ: Bài viết Luật bảo vệ môi trờng
Sau khi học sinh viết bài chính tả trên, giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập
2- SGK Tiếng Việt 5 tập 1- trang 104
* Tìm từ chứa tiếng có âm đầu là l hoặc n
M: lấm: lấm tấm.
nấm: nấm rơm .
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ chứa các tiếng cho sẵn có chứa âm đầu
l hoặc n
Thông qua bài tập trên giúp học sinh phân biệt so sánh l và n để viết
đúng các tiếng có phụ âm đầu viết là l và n.
* Giáo viên có thể đa thêm bài tập điền l hoặc n cho học sinh thực hành:
+ Điền l hoặc n vào chỗ trống:
- Đất cao anh
- Răng anh
- am ữ học sinh ớp em chăm o học tập.
- Con đờng ày ối iền Hà ội với am Định.
- Trời ắng to, ếu không đội mũ sẽ ốm.
- Hoa ở ấp ó giữa đám á rậm rạp.
- Cái ọ ục bìnhó ăn ông ốc.
+ Nối từng tiếng bên trái với tiếng thích hợp bên phải để tạo từ ngữ đúng:
tốt
lòng vòng
23
cột
nọc
nòng sông
súng
đỏ
khéo léo lựa chọn các dạng bài tập cần thiết nhất để chữa trên lớp. Các dạng khác
có thể cho học sinh về nhà làm hoặc làm vào những giờ hớng dẫn học buổi chiều
hay bổ sung vào các tiết học khác.
5- Tăng cờng yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả
Các em tự chữa lấy bài chính tả của mình là chính; học sinh dùng bút chì
gạch chân dới những chữ viết sai và viết lại đúng ra lề cùng dòng, sau đó học sinh
tính lỗi và ghi nhỏ ở ngoài lề số lỗi mình mắc phải trong bài của mình. Học sinh
có thể đổi vở, tự soát lỗi cho nhau. Mỗi khi mắc lỗi, học sinh tự giác giơ tay để
giáo viên biết. Làm nh vậy, giáo viên nắm ngay những lỗi phổ biến trong lớp. Giáo
viên có thể yêu cầu học sinh về nhà viết lại những lỗi của mình đã mắc.
Khi chấm bài chính tả, giáo viên cần chỉ ra cho học sinh thấy loại lỗi mà
học sinh thờng mắc phải. Có thể yêu cầu những em thờng mắc lỗi chính tả trả lời
câu hỏi:
- Trong bài chính tả vừa qua em đã mắc những lỗi nào?
- Những lỗi đó thờng viết sai ở bộ phận nào của tiếng?
25