Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lớp 5
A- Phần mở đầu
I - Lý do chọn đề tài
Từ xa xa, nhân dân ta đã có câu Nét chữ, nết ngời có
nghĩa là nét chữ thể hiện tính cách con ngời. Thông qua nét
chữ ngời ta có thể đánh giá ngời viết là ngời nh thế nào?
Cho đến nay, câu nói trên vẫn đợc coi là đúng. Tuy
nhiên chúng ta cần phải hiểu nét chữ không phải đơn
thuần là nét thanh, nét đậm mà nó bao hàm cả việc viết
đẹp, viết đúng chuẩn mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp.
Ngời xa nói Nét chữ, nết ngời không chỉ hàm ý nét
chữ thể hiện tính cách con ngời mà nó hàm ý rằng thông qua
việc rèn luyện chữ viết mà giáo dục nhân cách con ngời. Nh
vậy việc rèn luyện cho học sinh viết chữ đẹp, viết đúng
chuẩn mực Tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp vừa
là mục đích vừa là phơng tiện của quá trình giáo dục toàn
diện nhân cách học sinh.
Xuất phát từ nhận thức trên, ở bậc Tiểu học, phân môn
chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chơng trình môn
Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở trờng nói chung. Nó giúp
học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính
tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt
văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực. Ngoài ra, phân môn chính tả
còn rèn cho học sinh một số phẩm chất nh tính cẩn thận, óc
thẩm mỹ, bồi dỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ
viết của tiếng Việt.
việc thống kê phân loại các lỗi chính tả mà học sinh lớp Năm
2
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
hay mắc phải, từ đó tìm nguyên nhân và đa ra các biện
pháp giúp học sinh sửa lỗi.
III- Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các biện pháp
nghiên cứu sau:
1- Phơng pháp nghiên cứu lý luận :
Trên cơ sở lý luận của các vấn đề nh tâm lý học, giáo
dục học, phơng pháp dạy bộ môn tôi nghiên cứu để rút ra các
vấn đề có liên quan đến việc dạy học chính tả ở tiểu học.
Đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu tham khảo về
chữa lỗi chính tả cho học sinh, từ đó tôi tìm ra phơng pháp
chung cũng nh tìm ra nguyên nhân và cách sửa lỗi chính tả
thích hợp cho học sinh lớp Năm.
2- Phơng pháp điều tra khảo sát:
- Mục đích : Thông qua việc điều tra, khảo sát, tôi có
thể nắm đợc thực tế của việc dạy học môn tiếng Việt nói
chung và phân môn chính tả nói riêng. Từ đó tìm ra nguyên
nhân và có các biện pháp thích hợp để sửa các lỗi chính tả
cho học sinh.
- Cách tiến hành: Điều tra và khảo sát học sinh tại trờng
Tiểu học Cát Linh qua hình thức
riêng và đợc ý thức thành các nguyên tắc. Muốn hiểu và viết
đúng chuẩn mực chính tả thì trớc tiên ta phải nắm vững các
nguyên tắc này.
Nguyên tắc cơ bản của chữ Việt là nguyên tắc ngữ âm
học. Nghĩa là phát âm thế nào thì viết thế ấy, giữa chữ
viết và phát âm có sự nhất trí cao. Nh vậy, ngay từ nội dung
của nguyên tắc này ta cũng thấy vai trò của việc phát âm là
quan trọng. Nếu nh thầy đọc đúng( phát âm đúng) thì học
sinh sẽ viết đúng và ngợc lại nếu nh thầy đọc sai thì học sinh
sẽ viết sai. Có trờng hợp thầy đọc đúng nhng học sinh nhận sai
4
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
( do qua một lần đọc lại của các em) nên vẫn viết sai. Vì vậy
khi dạy chính tả ta cần kết hợp với việc rèn luyện phát âm.
Ngoài nguyên tắc trên, chính tả còn nguyên tắc hình
thái học và nguyên tắc theo truyền thống.
Nguyên tắc hình thái học đặc biệt quan trọng với các
ngôn ngữ biến hình. Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ biến
hình. Theo nguyên tắc này, cách ghi một từ tố bao giờ cũng
viết nh nhau mặc dù cách đọc có khác nhau. Còn nguyên tắc
theo truyền thống chỉ dựa vào truyền thống chữ viết của bản
ngữ hay của ngôn ngữ mà nó mợn từ hoặc của hệ thống chữ
viết đợc dùng làm cơ sở. Nguyên tắc theo truyền thống này
đã gây nhiều rắc rối, nhất là với trẻ em. Và ở mỗi địa phơng,
ngời dân có những thói quen phát âm riêng, lệch chuẩn so với
ở tiểu học hiện nay có thể dạy chính tả bằng hai phơng
pháp: tích cực và tiêu cực. Theo phơng pháp tích cực, giáo
viên cho học sinh nhìn cách viết đúng, nghe cách nói đúng
để rồi bản thân sẽ viết đúng và nói đúng. Theo phơng pháp
tiêu cực, giáo viên tìm ra các lỗi chính tả của học sinh, rồi trên
cơ sở đó chữa để các em không còn phạm lỗi nh vậy nữa.
Từ hai phơng pháp trên, giáo viên thực hiện linh hoạt các
kiểu bài chính tả khác nhau :
- Tập chép (dành cho lớp 1 và 2)
- Chính tả nhớ - viết.
- Chính tả nghe - đọc.
- Bài tập chính tả.
Với nhiều loại bài tập chính tả nh :
- Bài tập điền phụ âm đầu, vần, thanh vào từ hoặc
câu.
- Bài tập so sánh chính tả.
6
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
- Bài tập tìm các tiếng có cùng vần, thanh hoặc phụ âm
đầu
Chơng II
Thực trạng việc dạy chính tả ở Tiểu học
I- Mục đích điều tra thực trạng
Thông qua việc điều tra, tôi có thể nắm đợc thực tế
của việc dạy học phân môn chính tả. Từ đó tìm ra nguyên
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
-
Tr-
ờng :.................................................................................................................................
..
* Đồng chí cho biết một số ý kiến của mình về các nội
dung sau :
1. Trong môn tiếng Việt, phân môn nào cho đồng chí có
hứng thú nhất khi giảng dạy :
( ) Tập đọc
( ) Chính tả
( ) Từ ngữ
( ) Tập làm văn
( ) Ngữ pháp
( ) Kể chuyện
2. Suy nghĩ của đồng chí về vị trí của phân môn chính
* Sửa lỗi:...
Những chuyển biến của học sinh sau khi đợc đồng chí
sửa lỗi:
....................................................................................................................................
...................................
Những khó khăn khi dạy phân môn chính tả ?
....................................................................................................................................
...................................
....................................................................................................................................
...................................
Nguyện
vọng
và
kiến
nghị
của
đồng
chí ?
9
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
( ) Tập đọc
( ) Từ ngữ
( ) Ngữ pháp
( ) Chính tả
( ) Tập làm văn
( ) Kể chuyện
Vì sao con thích phân môn đó ?
.
..
Con
có
bị
mắc
lỗi
chính
Cô
giáo
có
giúp
con
sửa
lỗi
chính
tả
không
?
...............................................
Cô
giúp
con
lỗi chính tả thông thờng. Tốc độ viết 80 chữ trong 15 phút.
b. Giáo viên tiểu học phải dạy đủ các môn nên thời gian
để đầu t thực sự cho các phân môn cụ thể là không có hoặc
rất ít.
c. Giáo viên ít có tài liệu tham khảo hoặc ngại phải tìm
tòi, tự nghiên cứu trong khi tiếng Việt của ta đa dạng và phong
phú.
d.
Giáo viên thờng sử dụng phơng pháp diễn giải và ph-
ơng pháp đàm thoại. Đôi khi lạm dụng quá hai phơng pháp này,
do đó không phát huy đợc tính chủ động tích cực của học
sinh.
e.
Đặc biệt việc sửa lỗi chính tả cho học sinh còn gặp
khó khăn hơn. Giáo viên ít có biện pháp để sửa lỗi cho học
sinh, đồ dùng trực quan có thể sử dụng là rất ít. Từ đó dẫn
đến việc, trong các giờ chính tả, giáo viên thờng chú trọng
đến việc rèn chữ hơn là rèn chữ chính tả.
1.2- Học:
a. Từ tinh thần và phơng pháp trên của giáo viên dẫn đến
việc kém hiệu quả trong dạy học chính tả hiện nay. Trong
thực tế học sinh khi viết còn mắc nhiều lỗi chính tả.
b. Một số ý kiến của học sinh về phân môn chính tả:
Khi đợc hỏi, hầu hết học sinh đều nói thích học chính tả.
Trong số liệu điều tra tại lớp 5B trờng Cát Linh, 49/51 học sinh (
chiếm 96%) nói thích học chính tả. Tuy nhiên các em cha ý
Lớp 5B Trờng TH
Lớp 5C Trờng TH
Cát Linh ( 51 học
Cát Linh
sinh)
(52 học sinh)
- Thừa, thiếu nét
11
11
- Thiếu chữ
12
14
- Sót dấu, sai dấu thanh
16
14
14
+ ch - tr
11
10
+ r - d - gi
15
14
+ Một số phụ âm
14
13
11
12
câu
- Không viết hoa danh
từ riêng
- Sai vần
- Sai phụ âm đầu
đỉnh núi cao, róc róc qua rừng rậm, rào rào từ trên vách đá
rơi xuống xen lẫn với tiếng lá rì rào. Khi có cơn bão những
cành cây đổ xuống răng rắc, thác nớc nh reo hò. Những ngọn
suối gặp nhau thành con sông rộng chảy ra mãi đến biển.
(Trích trong sách Luyện phát âm- chính tả- Giáo trình trờng
CĐSP HN)
Ngoài phần chính tả trên, tôi còn chấm bài viết của học
sinh qua các bài tập chính tả và các môn học khác của các em.
4- Nguyên nhân mắc lỗi chính tả
Từ kết quả điều tra trên, tôi thấy rằng sở dĩ học sinh
lớp 5B trờng tiểu học Cát Linh mắc các loại lỗi trên là do một số
nguyên nhân sau :
14
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
a- Lỗi do ảnh hởng của cách phát âm tiếng địa phơng:
ở đồng bằng Bắc Bộ các loại lỗi thờng mắc là: l/ n, ch/
tr, s/ x, d/ r/ gi. ở Hà Nội việc phát âm các phụ âm trên là tơng đối chuẩn. Tuy nhiên còn một số học sinh do phát âm sai
dẫn đến viết sai chính tả.
VD: Do học sinh phát âm sai giữa l/ n nên viết sai chính tả
- Tôi làm nghề lái đò
Tôi nàm nghề nái đò
- Tôi nắm vững
Nh e mọc thẳng, con ngời không ịu khuất. Ngời xa
có câu: úc dẫu áy, đốt ngay vẫn thẳng. e là thẳng
thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, e lại là đồng íiến đấu
của ta. e vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc.
Có một số học sinh do không hiểu nghĩa của từ nên đã
điền âm ch vào từ tre, hay trúc, vì vậy học sinh
điền vào bài nh sau:
Nh che mọc thẳng, con ngời không chịu khuất. Ngời xa
có câu: Chúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng. Tre là thẳng
thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, che lại là đồng chí triến
đấu của ta. Che vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh
giặc.
(Theo bài của học sinh Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn
Thanh Loan - lớp 5B- trờng tiểu học Cát Linh)
c- Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết
Tiếng Việt
Vì không hiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt
nên học sinh viết thừa, viết sai từ.
VD : Quét sạch - quyét sạch
Quanh co
-
qoanh
co
Khúc khuỷu - khúc khuỷ
Ngoằn ngoèo - ngoằn
loại lỗi phổ biến nhng một số em vẫn bị mắc lỗi khi viết
chính tả
Hiện tợng bị đầy lỡi, ngắn lỡi dẫn đến trờng hợp học
sinh phát âm không chuẩn và viết sai chính tả. Ví dụ: Nói
ngọng bảo thành bạo, nghĩ ngợi thành nghí ngợi, mải
mê thành mãi mê đến khi viết các em viết nh mình phát
âm. Đây là trờng hợp lỗi của 3 em học sinh lớp 5C trờng tiểu
học Cát Linh ( Em Nguyễn Anh Quân, Trần Minh Sang, Nguyễn
Xuân Dơng).
17
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
Trên đây là những điều tra mà tôi thu thập đợc trong thời
gian giảng dạy. Qua phần điều tra tôi thấy rằng việc sửa lỗi
chính tả cho học sinh của giáo viên cha đợc quan tâm đúng
mức. Trong thực tế học sinh còn nhiều em mắc lỗi chính tả.
Chơng III
Những đề xuất
Xuất phát từ cơ sở lý luận cũng nh thực trạng của việc dạy
học chính tả hiện nay, tôi thấy cần thiết phải có các hình
thức tổ chức và biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh một
cách kịp thời dựa trên các nguyên nhân mắc lỗi của chính
bản thân các em.
Cách chữa lỗi thờng nhắc đến là tập phát âm cho
đúng. Cách thứ hai là nhớ từng từ một và cách thứ ba là dùng
mẹo.
* Mục đích: Trên cơ sở học sinh nắm vững các quy tắc
chính tả, các em sẽ viết đúng chính tả cho dù các em có phát
âm sai.
- Thời gian thực hiện: Việc đa các quy tắc chính tả đợc
thực hiện ngay trong các tiết dạy chính tả. Tuy nhiên trong một
khoảng thời gian 40 phút ta không thể đa hết các quy tắc đợc mà phải kết hợp với các môn học khác nh tập đọc, luyện từ
và câu mỗi khi có hiện tợng chính tả liên quan.
* Nội dung quy tắc:
a) L đứng trớc âm đệm nhng N lại không đứng trớc
âm đệm, ngoại lệ duy nhất là noãn. Khi học sinh đã nắm
đợc quy tắc này các em sẽ không bị lúng túng khi viết các từ
có âm đệm bắt đầu L.
Ví dụ: cái loa, loạc choạc
Đối với những học sinh trung bình và yếu, để giản tiện
bởi chính các em nhiều lúc còn lẫn lộn và không phân biệt đợc âm đêm, giáo viên có thể nói chữ n không bao giờ đứng
19
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
trớc một vần bắt đầu bằng oa, õa, oe, uê, uy, trái lại l
đứng trớc các vần ấy. Nh vậy, các em chỉ cần nhớ máy móc
rằng: đi đôi với các vần bắt đầu bằng oa, õa, oe, uê, uy thì
phụ âm đầu luôn luôn là l chứ không phải là n.
Ví dụ: chói lòa, loăn xoăn, túy lúy,..
Để học sinh khắc sâu đợc kiến thức, mở rộng vốn từ giáo
viên yêu cầu học sinh tìm thêm các tiếng hoặc từ có phụ âm
đầu là l và bắt đầu bằng các vần trên: lóa mắt, lõa xõa,
hiện tợng chính tả cần nói đến. Vì vậy, giáo viên có thể khéo
léo cung cấp quy tắc chính tả này thông qua các môn học
khác. Đó là:
- N chỉ láy với gi và láy với nguyên phần vần mà không
có âm đầu: gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não,
- L láy với những âm khác gi : khéo léo, khoác loác, lăng
nhăng, lặt vặt, lai rai, lăn tăn, lộp độp, leng keng, làu bàu,
lắp bắp,
c) Về những từ đồng nghĩa:
Có khoảng 40 từ đồng nghĩa thành cặp l - nh
Ví dụ: lặt nhặt, lầm nhầm, lỡ nhỡ, lố lăng, nhố nhăng,
lanh lẹn, nhanh nhẹn, lem luốc,
Phần này giáo viên không nhất thiết phải đa ra cho học
sinh vì nh thế rất phức tạp, học sinh sẽ bị rối ( đây là phần
chuyên sâu cho những ngời nghiên cứu). Giáo viên chỉ cần
cho học sinh biết: những từ chỉ trỏ đều viết là n : nầy,
này, nọ, ni, nớ, nào, nó tơng ứng với các từ chỉ trỏ chính
thức: đây, đó, đâu, đấy,
d) Về nghĩa từ:
- Những từ chỉ ẩn nấp viết n : né, nấp, nơng náu,
- Những từ chỉ phơng hớng viết n : nam, nồm,
21
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
Với các quy tắc này, học sinh phải nhớ máy móc. Giáo viên
lu ý thờng xuyên yêu cầu học sinh tìm ví dụ thực tế. Đặc biệt
Ngoài vờn, những bông hoa đua nở.
(Dựa vào ngữ cảnh trên học sinh sẽ giải nghĩa đợc các từ :
nức nở, vỡ lở, đua nở)
Khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết các
em sẽ liên tởng đến ngữ cảnh và suy luận ra cách viết chữ.
Làm sao trong một tiết học chính tả, phải tạo điều kiện cho
học sinh trở đi trở lại với những từ cần ghi nhớ nhiều lần.
Chẳng hạn, lần thứ nhất vào bài học, yêu cầu học sinh đọc
thầm bằng mắt ngữ cảnh để hiểu nghĩa từ và nhớ ngữ cảnh.
Lần thứ hai, yêu cầu học sinh lựa chọn các từ trong ngữ cảnh
vừa cung cấp để điền từ vào một ngữ cảnh khác. Lần thứ ba,
yêu cầu học sinh đặt câu với từ vừa học, tìm từ ghép, từ láy
với tiếng có vấn đề chính tả Nh vậy trong một tiết học, học
sinh đã đợc mắt nhìn, tay viết chữ có vấn đề chính tả
nhiều lần.
Ví dụ:
Lần 1: Em hãy đọc thầm các câu sau đây và tìm các từ
có phụ âm đầu là l và n
Không thể lẫn chị Chấm với bất cứ ngời nào khác. Chị có
một thân hình nở nang rất cân đối. Hai cánh tay béo lẳn,
chắc nịch. Đôi lông mày không tỉa bao giờ, mọc lòa xòa tự
nhiên, làm cho đôi mắt sắc sảo của chị dịu dàng đi.
Lần 2: Tìm những chữ bỏ trống bắt đầu bằng l và n
để điền vào câu sau:
- Khi viết chính tả, chúng ta không đợc.giữa l và
n.
23
24
Trờng Tiểu học Cát Linh
Giáo viên : Hán Thị Quỳnh Nga
Lp 5
chặt vào trí nhớ, chắc chắn lỗi sẽ giảm. Có thể đa một biểu
bảng giáo viên làm mẫu một từ, còn lại học sinh làm tiếp.
Ví dụ:
Từ hoặc
Tiếng
cụm từ
Lẫn lộn
Nở nang
Phụ âm
Vần
Dấu thanh
đầu
Lẫn
l
ân
hệ thống ( qua các bài tập giúp học sinh ghi nhớ về quy tắc
chính tả, phân biệt cách viết các cặp phụ âm đầu, vần,
thanh dễ lẫn do đặc điểm phát âm địa phơng). Đây cũng
là bớc vừa rèn kỹ năng vừa củng cố hoặc ôn tập kiến thức
chính tả theo chơng trình của mỗi lớp. ở phần này, để
khẳng định cho học sinh trong việc làm các bài tập, giáo viên
25