BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN HỌC LÝ LUẬN QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ - Pdf 26

BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN HỌC LÝ LUẬN QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ
Đề bài
1. Thế nào là khái niệm và phạm trù trong khoa học quản lý giáo dục?
2. Trình bày ví dụ về 5 khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục và xác
định khả năng (tần suất) thực hiện các khái niệm đó.
Bài làm
1. Khái niệm và phạm trù trong khoa học quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội, bản
chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối
tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ
sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống có ý thức hợp quy luật
của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống
giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục
phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng. Hay nói cách khác:
quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích có kế hoạch hợp quy
luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên học sinh cha mẹ học
sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thự hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.
"Hoạt động quản lý giáo dục" xem như đối tượng nghiên cứu của khoa
học quản lý giáo dục, tới mức hình thành nên rất nhiều những khái niệm, những
phạm trù cơ bản của khoa học này.
Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán
hay tiên đoán. Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những
đặc tính, bản chất của sự vật đó.
Vậy “Khái niệm” là gì? Khái niệm là quá trình nhận thức hay tư duy của
con người bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực
tác động vào giác quan. Như vậy, “Khái niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy
của con người về những thuộc tính, bản chất của sự vật và mối liên hệ của
những đặc tính đó với nhau. Người nghiên cứu khoa học hình thành các “khái

tính phổ quát, có tần xuất sử dụng cao. Đặc điểm này rất dễ nhận diện bởi nó
đã là một nguyên cớ dẫn đến sự "thường nhật hoá" các thuật ngữ khoa học.
Khi xây dựng các khái niệm của khoa học quản lý giáo dục, các tác giả
của công trình nghiên cứu này cố gắng dựa trên quy luật lô gíc học về mối quan
hệ giữa Ngoại diên và Nội hàm của các khái niệm và phạm trù để đi đến kết luận
rằng các khái niệm, phạm trù của khoa học này được phân biệt đủ tường minh,
hay các khái niệm, phạm trù có đủ độ phân biệt cần thiết; nói cách khác khái
niệm phạm trù phản ánh (hay chỉ) đúng đối tượng.
Những phân tích nói trên nhằm chứng minh một luận điểm: các khái niệm
phạm trù của chuyên ngành khoa học quản lý giáo dục có "lớp" đối tượng phản
ánh riêng của chúng và những dấu hiệu cơ bản đặc trung của lớp đó được phản
ánh đầy đủ và rõ ràng trong khái niệm hay phạm trù được xem xét. Điều đó có
nghĩa là độ phân biệt của các khái niệm và phạm trù đủ rõ ràng để hình thành
một cách vững chắc "thuật ngữ khoa học" tương ứng.
2. Trình bày ví dụ về 5 khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục và
xác định khả năng (tần suất) thực hiện các khái niệm đó.
Từ khái niệm chung trên ta có thể đưa ra những khái niệm riêng về Khoa
học Quản lý giáo dục như sau:
Thứ nhất: Các tác giả "Giáo trình khoa học quản lý " (2002) - Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đã
đề ra.
Thứ hai: Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.
Thứ ba: Các tác bộ "Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước" của Học
viện Hành chính quốc gia (1994) đã viết: Quản lý là sự tác động có ý thức để
chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con
3
người để đạt tới một mục đích đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy

nhiên phải bắt nguồn từ thực tiễn và thành tựu nghiên cứu của nó không thể là lý
thuyết trừu tượng, ít hoặc không bổ ích đối với các nhà quản lý cũng như đối với
yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục. Mục đích cuối cùng cũng là mục đích cao
nhất, chủ yếu nhất của những người làm công tác nghiên cứu Khoa học quản lí
giáo dục là đưa thành tựu nghiên cứu của mình áp dụng vào thực tiễn. Thực tiễn
chính là nơi phán xét đúng đắn, tính khoa học, tính khả thi của các công trình
nghiên cứu.
Từ khái niệm bốn và năm nêu trên, Khoa học Quản lí giáo dục phải đảm
nhận đầy đủ ba chức năng, giống như bất kì một ngành khoa học nào. Đó là:
- Chức năng nhận thức
- Chức năng cải tạo và
- Chức năng dự báo
Sự thực ba chức năng trên đan xen vào nhau, hỗ trợ nhau trong thực tiễn
phát triển của Khoa học Quản lý giáo dục. Nhiều khi trong các công trình nghiên
cứu, người nghiên cứu vừa tiến hành khảo sát, điều tra, vừa đưa ra những giải
pháp tác động nhằm cải tạo hiện thực. Nhưng cũng chính sự biến đổi của hiện
thực lại giúp người nghiên cứu nhận thức sâu sắc hơn đối tượng nghiên cứu của
mình, đồng thời thấy được xu hướng vận động, từ đó có cơ sở dự báo sự phát
triển của nó trong tương lai. Như vậy sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà quản lý.
Họ vừa hành động và lý giải cơ sở khoa học cho hành động của mình, lại chủ
động nắm bắt thời cơ, có biện pháp đón đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự vật
phát triển.

Qua phân tích các ví dụ về khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục ta
thấy phần chủ yếu của Khoa học Quản lý giáo dục là các vấn đề quản lý nhà
trường. Bởi, suy cho cùng, nhà trường chính là tế bào căn bản, cơ sở trong hệ
thống giáo dục quốc dân và thực tiễn nhà trường là sự hiện thực hoá và thử
thách mọi lý luận giáo dục, mọi quan điểm, chủ trương, chính sách giáo dục của
Đảng và Nhà nước. Tóm lại, nhà trường là bộ mặt của giáo dục, thực tiễn nhà
trường là cơ sở đánh giá nền giáo dục, lý luận giáo dục cũng như lý luận quản lý

dục công dân, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phát triển các nhân cách. Giáo
6
dục nhà trường đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, giữa
nội dung giáo dục trong nhà trường và thực tiễn khoa học công nghệ bao giờ
cũng có “độ trễ”. Giảm “độ trễ” này là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và tính
hiện đại của nhà trường trong quá trình phát triển và tiến bộ xã hội theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong nền văn minh tin học, sự phát triển của công nghệ máy tính điện tử
và mạng Internet trở thành nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới nhà trường. Nhờ có
máy tính điện tử và mạng Internet mà một phần của giáo dục chuyển dịch ra
khỏi nhà trường về các gia đình. Với kỹ thuật, máy tính kết hợp với mạng
Internet người ta có thể tự tiến hành đào tạo lại, làm phong phú thêm vốn tri
thức, kỹ năng của mình để thích ứng với sự biến đổi thường xuyên của công
nghệ và làm việc, không nhất thiết phải đến trường. Sự phát triển của công nghệ
máy tính và kỹ thuật viễn thông đang dẫn đến sự toàn cầu hoá giáo dục và do đó
nhà trường cũng mang tính toàn cầu hoá. Ngày nay nhà trường đang dần trở
thành hệ mở, không bị khuôn cứng lại trong một không gian, thời gian hay nội
dung đào tạo nhất định. Nhà trường là một hệ mở với đối tượng học (đa dạng
hoá đầu vào và nội dung đào tạo); mở về mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hoá, mở về phương thức đào tạo, thể hiện tính đa dạng hóa của giáo dục. Do
đó khái niệm nhà trường cũng mở rộng hơn, không chỉ giới hạn trong nhà
trường chính quy mà bao hàm tất cả các điều kiện nhà trường khác nhau, trong
đó nhà trường chính quy được xem là hệ thống đơn vị nòng cốt của hệ thống
giáo dục.
Việt Nam hiện đang phấn đấu để xây dựng nhà trường hiện đại với đặc
trưng nêu trên, mang tính đặc thù về bản sắc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đó là nhà trường thực hiện giáo
dục toàn diện: trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục và Giáo dục lao động kỹ thuật
tổng hợp; thực hiện theo nguyên lý giáo dục; học đi đôi với hành; giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất; nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội; nội dung

phúc của bản thân và của xã hội.
3. Khái niệm về quản lý
8
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời
của con người. Nó "xưa cũ như chính con người vậy" . Tuy nhiên, chỉ mới gần
đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần
hình thành các "lý thuyết quản lý". Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:
K.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".
F.W. Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý
khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất
đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ". "Quản lý là nghệ thuật biết
rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt
nhất và rẻ nhất".
Henri Fayol (1841 - 1925) thì lại xuất phát từ các loại hình hoạt động
quản lý khi cho rằng: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng
cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra" .
H.Koontz (Mỹ): "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ
chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất" .
Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong
thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: "Quản lý là một quá trình động, liên
tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại".

Đối với cấp vĩ mô (quản lý một nền / hệ thống giáo dục)
Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của
hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện
10
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã
hội đã đặt ra ngành giáo dục.
Đối với cấp vĩ mô (quản lý một nhà trường/trường học)
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể
giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, học viên, cha mẹ học sinh, học viên
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Nói một cách tổng quát: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo
dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực
hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QLGD là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩu mạnh công tác
giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.
- Bản chất của quản lý giáo dục là vì lợi ích phát triển của giáo dục, nhằm
mục tiêu tối thượng là hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục,
đối tượng và chủ thể giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
- Đối tượng của quản lý giáo dục là: hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống
quản lý giáo dục, các quan hệ quản lý, các chủ thể quản lý cấp dưới, tập thể và
cá nhân giáo viên và học sinh.
5. Khái niệm Người quản lý
Theo nghĩa rộng: Người quản lý bao gồm tất cả những người tham gia
vào hệ thống quản lý và hình thành chức năng nhất định.
Theo nghĩa hẹp: Người quản lý là những người có thẩm quyền ra quyết
định dù được phân quyền hay ủy quyền.

công việc và lựa chọn người phù hợp giao phó đảm nhận công việc.
- Thúc đẩy và truyền thông một cách có hiệu quả, động viên, thúc đẩy mọi
người làm việc đạt năng suất cao. biết cách thông tin có hiệu quả với các
cấp.
- Đo lường kết quả công việc của tổ chức
- Phát triển nguồn nhân lực của tổ chức.
12
Một cách tổng quát: người quản lý là người có trách nhiệm phân bố nhân
lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ
chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status