SKKK Sử dụng đồ dùng tự làm để dạy môn Tiếng Việt lớp 2 - Pdf 26

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đất nớc đang thời kỳ đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải chuẩn bị lớp ngời lao động mới đó chính là:
"Những con ngời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tởng độclập dân tộc CNXH,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá
dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại , phát huy tiềm năng
của dân tộc và con ngời Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực
của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hoá hiện đại, có t duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hiện giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỷ luật, có sức khoẻ, là những ngời thừa kế xây dựng CNXH vừa "hồng '' vừa
" chuyển " nh lời căn dặn của Bác Hồ - ( Trích văn kiện hội nghị lần thứ hai
BCH trung ơng khoá VIII).
Chính sự đổi mới đó đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết về đổi mới giáo dục nói
chung và giáo dục tiểu học nói riêng. Giáo dục tiểu học đặt nền móng ban đầu
cho cả quá trình phát triển sau này của con ngời. Vì vậy mục tiêu giáo dục tiểu
học đợc xác định trong điều 25 luật Giáo dục nh sau: " Giáo dục tiểu học nhằm
giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học trung học cơ sở".
Sau 5 năm thực hiện chơng trình SGK mới trên phạm vi toàn quốc. Sự đổi
mới về nội dung chơng trình SGK đã kéo theo sự thay đổi của một loạt các yếu
tố nh đổi mới phơng pháp giảng dạy và hình thức tổ chức dạy học, đổi mới về
cách đánh giá học sinh Có lẽ cha bao giờ cuộc cách mạng về đổi mới phơng
pháp dạy học ở tiểu học lại sôi nổi đến nh vậy! " Để giờ học tự nhiên hơn mà
lại hiệu quả hơn" là khẩu hiệu xuyên suốt. Nó đặt ra yêu cầu không những ngời
dạy phải cải tiến phơng pháp và hình thức tổ chức linh hoạt, nhẹ nhàng mà còn
yêu cầu với ngời học là phải tự giác, tích cực, chủ động.
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện chủ trơng đổi mới giáo dục tiểu học, hệ thống văn bản chỉ đạo
thực hiện công tác chuyên môn liên tục ra đời và đợc cụ thể hoá bằng những

5. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp đọc và nghiên cứu tài liệu về việc sử dụng ĐDDH
- Phơng pháp điều tra thực trạng
- Phơng pháp đối chiếu kết quả
2
Phần Nội dung
I. Cơ sở lý luận.
1. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 2:
Học sinh lớp Hai ở bậc tiểu học phổ biến ở lứa tuổi 7-8. ở lứa tuổi này, các
em không còn có những bỡ ngỡ nh buổi ban đầu vào lớp Một nữa. Các em cũng
cha phải là những cô cậu học sinh đã có động cơ học tập rõ ràng, cũng cha tự
giác học tập nếu nh không có tác động tích cực của thầy cô giáo. Nhận thức của
chúng chủ yếu là cảm tính. Những sự vật hiện tợng gây ấn tợng mạnh thờng đợc
học sinh dễ nhận thức cũng nh khả năng ghi nhớ sẽ bền hơn.Trái lại, những cái
quá quen thuộc hàng ngày đôi khi cũng khiến các em thấy nhàm chán mệt mỏi.
Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức dạy học, ngời giáo viên dạy lớp Hai
phải nắm đợc đặc điểm trên để có sự vận dụng thích hợp. Phơng pháp tổ chức
cho học sinh tìm hiểu kiến thức mới cũng nh thực hành phải linh hoạt, nhẹ
nhàng, thoải mái. Hình thức tổ chức dạy học phải đa dạng, phong phú và nhất là
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em. Có nh vậy giờ học mới
đảm bảo " nhẹ nhàng, tự nhiên hơn mà hiệu quả lại cao hơn".
2. Vai trò của đồ dùng dạy học nói chung -mô hình " vòng
quay" nói riêng.
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học, bộ đồ dùng dạy
học biểu diễn của giáo viên và bộ đồ dùng thực hành của học sinh đã và đang đ-
ợc sử dụng rộng rãi. Phải nói rằng, tiện ích của những phơng tiện trên là rất
lớn. Nó không những hỗ trợ đắc lực cho bài giảng, cho phần thuyết trình của
giáo viên mà còn có tác dụng tích cực trong việc giúp học sinh chủ động tiếp thu
kiến thức. Song trong thực tế giảng dạy cũng có nhiều môn học, bài học cha đủ
đồ dùng dạy học sẵn có cũng nh cha có bộ thực hành cho học sinh. Trớc thực tế

sẽ gây cảm giác nhàm chán với học sinh, đó là một thực tế.
2. Thực trạng việc sử dụng ĐDDH ở trờng tiểu học Vĩnh
Ngọc
ở trờng tiểu học Vĩnh Ngọc của chúng tôi hiện nay cũng không nằm ngoài
tình trạng chung trên đây. Có thể nói, dới sự chỉ đạo sát sao của BGH , giáo viên
nói chung, giáo viên dạy khối 2 nói riêng, cũng khá tích cực mợn - trả và sử
dụng đồ dùng dạy học sẵn có trong phòng đồ dùng của trờng. Còn việc tự làm và
sử dụng đồ dùng dạy học phục vụ môn học, bài học còn nhiều hạn chế. Bên cạnh
đó, việc tổ chức trò chơi để khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh chủ yếu
cũng chỉ dừng lại ở mức độ dựa vào những trò chơi đã đợc giới thiệu qua tài liệu
hoặc trò chơi truyền thống, tự soạn trò chơi học tập khác cho học sinh hầu nh ít
đợc ai quan tâm. Một phần vì có thể GV ít thời gian ( cũng có đồng chí bận )
một phần khác có thể do tính chất phức tạp của công việc đã gây tâm lý e ngại
cho giáo viên. Chính những nguyên nhân đó đã gây cản trở, không thúc đẩy đợc
sự sáng tạo, say mê làm đồ dùng dạy học trong đại đa số giáo viên.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, vốn là một giáo viên tâm huyết với
nghề, say mê học tập sáng tạo , tôi đã không quản ngại su tầm nguyên liệu cũng
nh tham khảo những chơng trình giải trí trên truyền hình để thực hiện bằng đợc
4
ý tởng làm mô hình " Vòng quay kỳ diệu" để góp phần thêm vào việc áp dụng
đổi mới phơng pháp dạy học trớc hết là ở lớp mình, sau đó sẽ phổ biến cho đồng
nghiệp ( nếu thấy có hiệu quả) để áp dụng ở diện rộng hơn.
III. Đề xuất giải pháp
1. Chuẩn bị và làm " vòng quay kỳ diệu"
1.1. B ớc chuẩn bị:
Từ thực tế giảng dạy và nghiên cứu bản thân tôi thấy " vòng quay kỳ diệu "
đã mang lại cho giờ dạy một không khí vui vẻ thoải mái đồng thời rèn luyện cho
học sinh trí nhớ và năng lực ứng xử nhanh. Đứng trớc yêu cầu đặt ra là đồ dùng
tự làm phải mang tính phổ biến , giá thành rẻ, vật liệu dễ kiến, dễ làm và dễ vận
chuyển Đồ dùng có thể dạy học nhiều phân môn, nhiều bài học và ở nhiều

2. ứng dụng mô hình " vòng quay kì diệu" trong dạy học tiếng việt lớp 2
Mô hình " Vòng quay kỳ diệu" đã đợc làm xong theo quy trình trên song
cách sử dụng nó nh thế nào để đạt hiệu quả cao nhất đó là vấn đề đòi hỏi sự t
duy của giáo viên. Với mô hình này tôi nhận thấy nó có thể sử dụng trong rất
nhiều phân môn khác nhau trong Tiếng việt. Sau đây tôi xin giới thiệu cách sử
dụng mô hình ở bài học cụ thể trong chơng trình Tiếng việt lớp 2.
2.1- Đối với phân môn luyện từ và câu lớp 2
Tôi thờng sử dụng mô hình ở các dạng tìm hiểu bài.
VD1: Khi dạy bài tuần 24: " Mở rộng vốn từ về loại thú - dấu chấm, dấy
phẩy"
* Để sử dụng " Vòng quay kì diệu" cho việc tìm hiểu bài đạt hiệu quả tôi
chuẩn bị nh sau :
+ Nội dung cần tìm hiểu là bài 1 và 2
Bài 1: đợc su tầm tranh ảnh con vật khổ nhỏ ( nh tranh vẽ trong SGK ).
Bài 2: Ghi nội dung từ vào thẻ giấy rời.
+ Sau mỗi ảnh hoặc thẻ giấy đều gắn loại băng dính gai cho phù hợp với
"vòng quay".
* Nội dung cách tiến hành.
- Đồ dùng đã chuẩn bị xong, tôi cho học sinh quan sát rồi nêu yêu cầu của
đầu bài : Nêu tên mỗi con vật quay đợc rồi nói đúng đặc điểm của nó (Bài 1),
hoặc chọn tên con vật thích hợp với ô chữ ( Bài 2).
- Tất cả học sinh trong lớp đều đợc tham gia.
7
Dữ nh
Nhát nh Khoẻ
nh
Nhanh
nh
* Luật chơi
- Giáo viên gọi học sinh thứ nhất ( HS1) lên chơi trớc: Cầm mép ngoài

Là kỹ s Là bác sĩ Là bạn thân của em Là học sinh
Chẳng hạn : Vòng quay dừng tại ô chữ
thì H S đó nêu tiếp câu : - Mẹ em là giáo viên.
Hoặc - Mẹ em là kỹ s.
-
Lần lợt vòng 2 gồm 3 bạn khác chơi tiếp tục đến hết.
Kết quả nhóm nào nhiều thẻ đỏ nhất là thắng cuộc.
*Luật chơi: Mỗi nhóm đợc phép suy nghĩ trong vòng 5 giây, quá 5 giây trên coi
nh phạm luật không đợc nhận thẻ.
Việc sử dụng ĐDDH nh vậy tạo cho HS có cơ hội ôn luyện , nhắc lại nhiều lần
để khắc sâu kiến thức trọng tâm mà không gây sự mệt mỏi, nhàm chán cho HS
bằng việc GV cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần.
2.2 Đối với phân môn chính tả:
Đây là một phân môn mà nhiều giáo viên cho rằng "Ngoài việc sử dụng đồ
dùng là bảng con, phấn vốn đã quá quen thuộc trong phần tìm hiểu bài của
mỗi bài Chính tả thì không còn có thể sử dụng đợc loại đồ dùng nào nữa". Thực
tế cho thấy từ trớc tới nay, trải qua chơng trình cũ ( chơng trình CCGD) và thực
hiện chơng trình tiểu học 2000, hiện tại cha có bộ đồ dùng nào để phục vụ riêng
cho phân môn Chính tả. Vì vậy khi làm "vòng quay" tôi đã nghĩ đến điều đó.
Mô hình thờng đợc tôi sử dụng khi các em thực hành luyện tập ở dạng bài tập "
tìm tiếng, từ có vần, âm hoặc dấu thanh cho trớc".
VD: Với bài Chính tả " Con chó nhà hàng xóm " - tuần 16.
ở phần thực hành luyện tập, để sử dụng " Vòng quay" tôi cần chuẩn bị
những thẻ chữ sau
* Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu yêu cầu: hãy tìm tiếng, từ chỉ đồ dùng bắt đầu bằng ch" và
tìm tiếng khác có vần , thanh phù hợp với ô chữ.
- Gọi 9 học sinh tham gia chia 3 chóm, mỗi nhóm 3 học sinh. Mỗi nhóm đ-
ợc quay 2 lần, mỗi lần quay mũi tên chỉ chữ nào thì nhóm đó đợc suy nghĩ trong
vòng 5 giây và nêu từ, tiếng chỉ ô chữ đó (thời gian 10 giây).

Mô hình này có thể sử dụng đợc trong tất cả các tiết học vần, nhng đặc biệt
có hiệu quả tốt trong những tiết ôn luyện.
VD: Ôn tập những vần có âm a đứng đầu:
- Âm chính a đợc đính ở vòng cố định bên ngoài phía trái trên mũi tên,
vòng quay đợc ghi các âm cuối nh: n, m, ng, c khi quay ta đợc các vần:
an, am, ang, at, ac, ai
* Để tạo tiếng cũng vậy, giáo viên chỉ bớt chút thời gian nghiên cứu và gài
(đính) các chữ cái có sẵn trong bộ đồ dùng sao cho hợp lý.
Bên cạnh đó "vòng quay kì diệu" còn đợc tôi ứng dụng rất hiệu quả trong
môn học Tiếng việt lớp 3.
L u ý: Trò chơi học tập trong các môn học là rất cần thiết, song giáo viên
cần bám sát vào nội dung bài học gắn nội dung bài học vào trò chơi có nh vậy
10
ui
ch
không khí lớp học mới sôi nổi, giúp học sinh tiếp thu bài học một cách nhẹ
nhàng và tự nhiên.
3.3. Với các môn học ở khối lớp 4, 5.
Mô hình " vòng quay kì diệu" không chỉ sử dụng trong giờ học chính
khoá mà còn dùng làm trò chơi ngoại khoá đã lôi cuốn đa số học sinh các lớp
tham gia, nhằm mục đích rèn luyện trí nhớ và năng lực ứng xử nhanh.
VD : Để ôn tập những thành ngữ, tục ngữ trong chơng trình Tiếng việt.
* Chuẩn bị : những thẻ từ đợc ghi chữ cái:
- Mỗi thẻ đợc đính vào ô vòng quay.
* Tiến hành
Lần lợt các lớp thi đua với nhau, mỗi lớp cử 5 em đợc quay 5 vòng.
Cách chơi: Cầm mép vòng nhỏ quay nhẹ : Khi vòng quay dừng lại, mũi tên
ở vòng ngoài (cố định) chỉ vào ô chữ cái nào thì học sinh phải học thuộc ngay
một thành ngữ hay tục ngữ đã học phù hợp với ô chữ đó.
Giả sử : Mũi tên chỉ ô chữ ; em đó có thể đọc

- Lớp 2G : Có sử dụng mô hình " vòng quay kì diệu"
- Lớp 2H : Không sử dụng " vòng quay kì diệu"
Kết quả cụ thể:
Phân môn Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu
Chính tả
(Phần bài tập)
2G 25 14 = 56% 9 = 36% 2 =8%
2H 25 7= 28% 9 = 36% 9 = 36%
Luyện từ và câu
2G 25 6= 24% 13 = 52% 6 = 24%
2H 25 3 = 12% 10 = 40% 12 = 48%
Từ kết quả trên, khiến bản thân tôi yên tâm , tin tởng hơn đồng thời càng
say mê trong việc tự làm đồ dùng dạy học góp phần nâng cao hiệu quả mỗi giờ
dạy và thực hiện tốt đổi mới phơng pháp giảng dạy. Một điều đáng phấn khởi
hơn nữa là mô hình " vòng quay kì diệu" đợc tôi gửi tham dự cuộc thi " chấm đồ
dùng tự làm của giáo viên " và kết quả đợc BGH và BGK nhà trờng đánh giá rất
cao
Kết luận
1. Kết luận:
Để góp phần tốt nhất trong việc đổi mới phơng pháp dạy học hiện nay, thì
đồ dùng dạy học không thể thiếu đợc trong mỗi giờ dạy. Tuy nhiên không phải
giờ học nào cũng có đồ dùng sẵn có, mà thực tế giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo
để tạo cho mình những đồ dùng dạy học khác. Với mô hình " vòng quay kỳ
diệu" có thể nói đây là đồ dùng dạy học đa năng không những giúp giáo viên
thành công trong mỗi giờ dạy mà còn giúp cho học sinh phát huy hết khả năng
hiểu biết của mình khi tham gia với " vòng quay kì diệu" ở bất cứ hình thức nào.
Đồng thời tạo cho không khí lớp học trở nên sôi nổi, thoải mái, cuốn hút học
sinh tham gia học tập nh là " học nh chơi - chơi mà học". Đây là những giờ học
thực sự cần thiết đối với học sinh tiểu học nhất là lớp 1, 2.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhng vì thời gian, kinh nghiệm và trình độ còn

Nguyễn
Thị Thuận
13
Tóm tắt nội dung đề tài
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
:
2
. Mục đích nghiên cứu
3
. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4
. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
5
. Phơng pháp nghiên cứu
Nội dung
I. C ơ sở lý luận : 1. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp Hai.
2. Vai trò của đồ dùng dạy học nói chung, mô hình
Vòng quay kỳ diệu nói riêng.
II. Thực trạng : 1. Thực trạng chung
2.Thực trạng về việc sử dụng ĐDDH ở trờng tiểu học
Vĩnh Ngọc .
III. Đề xuất- giải pháp.
1.Chuẩn bị và làm Vòng quay : - Chuẩn bị .
- Bớc thực hiện.
2. ứng dụng mô hình Vòng quay trong dạy - học Tiếng Việt lớp 2.
- Trong môn Luyện từ và câu .
- Trong môn Chính tả
3. Sử dụng Vòng quay ở các khối lớp khác.
4. Kết quả thu đợc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status