SKKN Đề tài Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7 - Pdf 26

Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy tiếng Việt 7.
Người thực hiện: Nguyễn Duy Khang
Đơn vò công tác: Trường THCS Bình Thạnh- Trảng Bàng - Tây Ninh
A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Lí do chọn đề tài
-Thực hiện đúng sự chỉ đạo của Bộ,Sở,Phòng về đổi mới phương pháp
dạy –học.
-Phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy-học.
2/ Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 7/ 2 trường THCS Bình Thạnh.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực tiễn,nghiên cứu tài liệu chuyên môn.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Cơ sở thực tiễn
III. Nội dung vấn đề
1> Đề tài đưa ra giải pháp mới
*Phương pháp dạy học tích cực, cụ thể:
-Phương pháp đàm thoại
-Phương pháp gợi mở
-Phương pháp vấn-đáp
-Phương pháp thảo luận nhóm
-Sử dụng phương tiện dạy học hỗ trợ:
+ Bảng phụ
+ Tranh minh hoạ
2> Một số phương pháp khác
3> Thiết kế bài giảng
4> Đánh giá ưu khuyết điểm và hướng khắc phục của giáo viên
C. PHẦN KẾT LUẬN

Việt được tốt hơn.
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
-Môn Ngữ văn là môn học có vai trò cực kì quan trọng trong hệ thống
giáo dục và đào tạo nước ta bởi dạy văn là dạy cách ứng xử, cách làm người; là
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 2
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
công cụ đắc lực trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Thế
nhưng, trên thực tế, phần lớn học sinh không thích học môn học này, thậm chí
có em còn sợ mỗi khi đến giờ học văn…Từ thực tế đó đòi hỏi người giáo viên
phải tự nghiên cứu, tìm tòi cho mình một phương pháp dạy học tốt nhất nhằm
giúp học sinh tiếp thu bài nhanh nhất. Muốn thế thì phương pháp dạy học phải
không ngừng đổi mới, nâng cao; phải mang tính tích cực, chủ động cao nhằm
tập trung vào việc khơi dậy sự tự rèn luyện, phát triển khả năng tự duy, suy
nghó và vận dụng một cách chủ động,phát huy tính tích cực của học sinh.v v
-Tất cả những điều trên đã thôi thúc tôi không ngừng suy nghó, cố học
hỏi, tìm tòi, nghiên cứu các phương pháp mới để dạy tốt môn Ngữ văn, đặc biệt
là phân môn tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng học tập của mỗi học sinh,
nâng cao hiểu biết về từ, âm, lẫn nghóa của tiếng Việt đồng thời giúp các em có
vốn ngôn ngữ phong phú; đặc biệt là biết vận dụng trong văn nói, văn viết…
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Những phương pháp, biện pháp tích cực để hướng dẫn học sinh yếu, thụ
động của lớp 7/ 2 (năm học 2007-2008) hiểu rõ được các kiến thức trọng tâm
của một tiết tiếng Việt.
3/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trình bày phương pháp dạy học tích cực vào một tiết tiếng Việt ở lớp 7/ 2
trường THCS Bình Thạnh
Tuần 11 Tiết 43 Bài : TỪ ĐỒNG ÂM
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
*Để hoàn thành bài viết này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

ra sự đồng qui giữa 3 phân môn để qua đó thực hiện quan điểm tích hợp.
- Chương trình mới coi trọng cả 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Một nhược
điểm của chương trình cũng như việc giảng dạy Ngữ Văn trước đây là chú trọng
đến văn viết . Mặc dù viết vẫn là kỹ năng hàng đầu nhưng đòi hỏi các giáo viên
chú ý đến năng lực tiếp nhận bằng thính giác và năng lực biểu đạt tư tưởng, tình
cảm bằng lời nói của học sinh một cách thích đáng. Giáo viên cần chú ý đến sự
hỗ trợ giữa hai nhóm kỹ năng về tiếng Việt và Văn học, bởi vì Văn học là nghệ
thuật ngôn từ, cho nên giỏi về Tiếng Việt, học sinh sẽ giỏi về kỹ năng Văn học
và ngược lại.
Có kỹ năng văn học, học sinh sẽ hứng thú và có được những mẫu mực để
noi theo khi rèn luyện kỹ năng về Tiếng Việt, để từ đó nâng cao hơn trong kỹ
năng làm văn. Và lẽ đương nhiên, thiếu kỹ năng Tiếng Việt, học sinh sẽ thiếu
năng lực cảm nhận tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật đặc sắc được sử dụng trong
văn bản, dẫn đến không hứng thú học tập môn Ngữ Văn.
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 4
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
- Qua thực tế, chất lượng của một tiết Tiếng Việt ở lớp 7/2 đã được khảo
sát ở giữa HK I năm học 2007 – 2008, kết quả như sau:
TSHS
Kết quả xếp loại bài kiểm tra
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
45 7 15,5 10 22,2 20 44,4 8 17,9
Không khí lớp học nặng nề, học sinh thụ động, không tham gia xây dựng
bài, không phát biểu …. Tôi nhận thấy đó là những nguyên nhân sau:
+ Học sinh chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, không
chuẩn bò bài mới, không hứng thú khi đến tiết học.
+ Giáo viên chưa có hệ thống những câu hỏi gợi mở, tích cực, những
phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng tiết học… Cụ thể nhằm
thu hút , lôi cuốn học sinh. Vì thế, cần áp dụng phương pháp tích cực vào tiết

Đây là phương pháp thông dụng nhất, được sử dụng nhiều nhất trong hầu
hết các tiết dạy. Để thực hiện tốt phương pháp này, tôi đã chuẩn bò thật kỹ cho
mình một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó cho mọi đối tượng học sinh. Việc
chuẩn bò tốt hệ thống câu hỏi sẽ tạo “bước ngoặc” cho tiết học. Bởi vì, học sinh
sẽ hứng thú hơn khi trả lời những câu hỏi thú vò, vừa tầm hiểu đối với kiến thức
của các em. Phương pháp này đi kèm cùng phương pháp gợi mở nếu gặp câu
hỏi khó.
d) Phương pháp thảo luận nhóm:
Dạy – học theo phương pháp mới không thể thiếu được phương pháp thảo
luận nhóm. Đó là phương pháp trọng tâm trong hệ thống các phương pháp dạy
học tích cực hiện nay. Người học phải đứng trước vấn đề, phải tự tìm kiếm cách
giải quyết vấn đề, lập luận, thuyết minh làm sáng tỏ vấn đề. Biết hợp tác, chia
sẻ để tìm đến chân lý khoa học.
Vai trò của giáo viên trong thảo luận là rất quan trọng. Trong khi các em
thảo luận, tôi luôn là người tổ chức tạo điều kiện lắng nghe và hỗ trợ khi cần.
Ta không nên can thiệp quá sâu vào nội dung thảo luận của các em, cần để cho
các em chủ động làm việc, thể hiện quan điểm của mình. Tránh để cho cuộc
thảo luận tẻ nhạt, chỉ tập trung vào một số học sinh khá giỏi; cũng tránh để một
vài ý kiến của một vài em nào đó lấn át ý kiến của các em khác.
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 6
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
Cuộc thảo luận sôi nổi, bình đẳng giữa mọi thành viên sẽ giúp cho mỗi cá
nhân tự tin, thoải mái hơn khi tham gia. Kết quả cuộc thảo luận được khẳng
đònh bằng cách ghi lại (giấy hoặc bảng con), trên cơ sở đó ta sẽ nhận xét và
đánh giá.
e) Sử dụng phương tiện dạy học hỗ trợ:

Bảng phụ:
Bảng phụ là phương tiện hỗ trợ tích cực nhất, đắc lực nhất cho giáo viên
và học sinh trong tiết học Tiếng Việt. Với học sinh, bảng phụ được sử dụng khi

Tiếng Việt ở lớp 7
2
năm học 2007 – 2008.
Tuần 11: Tiết 43 Bài: TỪ ĐỒNG ÂM.
Ngày dạy : 6 / 11/ 2007.
I- Mục tiêu cần đạt:
1) Kiến thức: Giúp học sinh.
- Nắm được bản chất, khái niệm của từ đồng âm.
- Phân biệt được từ đồng âm với từ gần âm, từ nhiều nghóa.
2) Kỹ năng:
Nâng cao kỹ năng sử dụng từ đồng âm, khi nói, viết
3) Thái độ:
Giáo dục học sinh sự giàu đẹp của Tiếng Việt, qua đó trân trọng và gìn
giữ, phát huy vốn từ Tiếng Việt, yêu thích, ham học môn Tiếng Việt.
II- Chuẩn bò:
 Giáo viên: Bảng phụ + Tranh minh hoạ + Giáo án + SGK ….
 Học sinh: Tham khảo SGK và trả lời các câu hỏi.
III- Phương pháp: Vấn đáp, đàm thoại, gợi mở , thảo luận, tích hợp, quy nạp
vv………
IV- Tiến trình:
1) Ổn đònh: Kiểm diện học sinh (1’ – 2’)
2) Kiểm tra bài cũ: ( 5’ – 7’) (2 học sinh)
Giáo viên dùng bảng phụ
Học sinh 1:
Câu 1:  Thế nào là từ trái nghóa ?
 Từ trái nghóa là những từ có nghóa trái ngược nhau.
Câu 2:  Cặp từ nào không phải là trái nghóa trong các cặp tự sau (3đ)
A. Trẻ – già
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 8
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7

vào lồng.
3) Mẹ đang lồng áo cho gối.
I – Thế nào là từ đồng âm: ?
Ví dụ: SGK/135
a/ Lồng 1: Động từ – chỉ hoạt động
của con ngựa.
b/ Lồng 2: Danh từ – là đồ vật thường
được làm bằng tre, nứa, sắt… dùng
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 9
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
GV tổ chức cho học sinh thảo luận:
Nội dung thảo luận:
 Hãy chỉ ra các nét nghóa của các từ
“lồng” trong các ví dụ trên và cho biết
chúng thuộc từ loại gì ?
 Nhận xét các từ trên về âm thanh và
về nghóa.
 Cả 3 từ giống nhau về âm thanh nhưng
nghóa thì khác xa nhau, không liên quan
gì với nhau.
 Từ cơ sở các ngữ liệu đã phân tích,
giáo viên chỉ đònh học sinh nêu khái niệm
của từ đồng âm. Học sinh có thể dễ dàng
nêu được “Từ đồng âm là những từ có âm
thanh giống nhau, nhưng nghóa khác xa
nhau, không liên quan gì với nhau”.
Giáo viên nhận xét, chốt ý và gọi học
sinh đọc ghi nhớ SGK/135.
Bài tập nhanh:
(Giáo viên treo bảng phụ)

 Hãy giải thích nghóa của từ “qua”
trong câu sau:
“Hôm qua qua nói qua qua mà hổng qua.
Hôm nay qua nói qua hổng qua mà qua
qua”.
 Người ta sử dụng từ đồng âm trong
trường hợp này nhằm mục đích gì ?
 Nhằm mục đích chơi chữ . Phần này
các em sẽ được học trong bài 13.
GV giáo dục sự giàu đẹp của Tiếng Việt
cho học sinh nghe.
 Trong câu : “Đem cá về kho”. Có thể
hiểu theo mấy nghóa ?
 Có thể hiểu theo 2 nghóa:
- Nghóa 1: đem cá về kho ăn (một cách
chế biến thức ăn).
- Nghóa 2: Đem cá về kho chứa ? (nơi
chứa, trữ cá).
=> từ kho trong trường hợp này là từ
nhiều nghóa. Trong giao tiếp cần tránh
hiện tượng này, tránh cách nói nước đôi,
gây hiểu lầm cho người khác.
GV chốt ý và gọi học sinh đọc to, rõ mục
ghi nhớ 2 SGK/ 135.
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh luyện
tập.
Bài tập 1, 2, 3 cho học sinh hoạt động
nhóm mỗi nhóm 2 bàn cùng thảo luận và
1) Nghóa của từ đồng âm:
2) Phân biệt từ đồng âm với từ nhiều

mãi mới có cách giải quyết vấn đề.
b/ Con sâu lẫn sau vào bụi rậm.
c/ Năm nay, năm anh em tôi làm ăn
khấm khá hơn năm trước.
4) Củng cố và luyện tập: (5’ – 7’)
 Từ đồng âm là từ như thế nào ?
A- Có âm thanh giống nhau nhưng nghóa khác xa nhau, không liên quan
gì với nhau.
B- Có âm thanh giống nhau, nghóa giống nhau.
C- Có âm thanh giống nhau, nghóa gần giống nhau. (tuỳ theo ngữ cảnh).
D- Cả A, B, C đều đúng.
 Sử dụng từ đồng âm cần lưu ý đến điều gì ?
A- Đến quan hệ thứ bậc, lớn nhỏ
B- Đến lời nói của đối tượng giao tiếp.
C- Đến ngữ cảnh để tránh hiểu lầm.
D- Cả A, B, C đều đúng.
5) Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà (bảng phụ) (2’)
- Học thuộc bài
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 12
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
- Làm bài tập còn lại BT4 SGK/ 136
- Chuẩn bò bài mới “Thành ngữ”. Tham khảo SGK và trả lời các câu hỏi.
Lưu ý mục II. Sử dụng thành ngữ (xác đònh vai trò ngữ pháp của thành ngữ).
V- Rút kinh nghiệm:
Cần cho học sinh thêm vài ví dụ ngoài SGK để học sinh nắm kó hơn nội
dung bài học.

Kết quả cụ thể:
Sau khi áp dụng phương pháp mới cho tiết dạy, tôi thấy đã mang lại kết
quả rất khả quan, cụ thể như sau:

- Báo với BGH về việc phụ đạo cho học sinh yếu kém.
- Tăng cường dự giờ, học tập kinh nghiệm từ các đồng nghiệp đi trước để
nâng cao năng lực , kỹ năng lên lớp cho bản thân.
PHẦN III: KẾT LUẬN
1) Nhận xét chung:
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 14
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
Việc sử dụng kết hợp các phương pháp trong hoạt động dạy và học
Tiếng Việt nói riêng và môn Ngữ văn nói chung, làm việc làm bắt buộc đối với
giáo viên khi lên lớp. Giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp với từng bài
học, từng đối tượng học sinh, sẽ giúp cho các em có phương pháp tự học tốt, tự
thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp, phát
triển năng lực của mỗi cá nhân , tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học
sinh trong quá trình học tập. Ngoài ra, giáo viên cần tìm phương pháp thích hợp
để cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Phương pháp dạy học
tích cực nói chung và việc sử dụng từng phương pháp được triển khai như thế
nào trong cả quá trình giáo dục hay trong hoạt động dạy học; đây là khâu trọng
yếu và khó khăn nhất cũng chính là khâu quyết đònh , đảm bảo sự thành công
của việc đổi mới phương pháp dạy học.
Trên đây là tiến trình cơ bản để dạy 1 tiết Tiếng Việt 7 , có sử dụng kết
hợp các phương pháp tích cực trong hoạt động dạy học môn Ngữ Văn. Tôi nghó
rằng những ý kiến của bản thân cũng như kinh nghiệm có được sau 6 năm dạy
Ngữ Văn 7 ắt hẳn cũng còn ít nhiều hạn chế. Tôi rất mong được sự đóng góp,
xây dựng tận tình của Ban Giám hiệu, các thành viên Hội đồng Khoa học các
cấp của ngành, để bài viết hoàn thiện hơn, góp phần vào sự nghiệp giáo dục
nói chung.
2) Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
- Phổ biến cho các giáo viên dạy cùng khối.
- Cùng tổ bộ môn xây dựng thành chuyên đề và phổ biến, nhân rộng
trong cả tổ.

5
Phần III : Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
Mục lục
NHẬN XÉT , ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CỦA
Người thực hiện: NGUYỄN DUY KHANG Trang 16
Đề tài: Vận dụng phương pháp tích cực vào tiết dạy Tiếng Việt 7
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC.
1- Hội đồng khoa học trường:
Nhận xét:
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
- Xếp loại: ……………………………………………….
2- Hội đồng khoa học Phòng Giáo dục:
Nhận xét:
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
- Xếp loại: ……………………………………………
3- Hội đồng khoa học ngành:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status