Điều kiện hình thành doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGUYỄN THỊ HẰNG PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
GÂY RA RỐI LOẠN LO ÂU
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRẦN THỊ MINH ĐỨC


lứa tuổi 15-18 thì khả năng xuất hiện rối loạn lo âu là tương tối cao, bởi trước
hết đây là lứa tuổi có đặc điểm tâm sinh lí đặc biệt; những thay đổi ở lứa tuổi
dậy thì gây ra không ít những vướng mắc ở các em. Hơn nữa, với các em học
sinh trung học phổ thông, sự lo lắng của các em về việc học tập, về trường thi,

2
khối thi, về tương lai, về ngành nghề và cả những vấn đề bạn bè đều có ảnh
hưởng không nhỏ đến tình cảm và suy nghĩ của các em.
Chính vì lí do trên đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu nguyên
nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT (cụ thể là chúng tôi đã nghiên cứu
trên học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình). Chúng tôi hi vọng rằng, qua
nghiên cứu này, có thể tìm ra một số nguyên nhân chủ yếu gây ra rối loạn lo
âu ở học sinh trung học phổ thông. Đồng thời, qua đây, chúng tôi có thể đưa
ra được một vài khuyến nghị cho các ngành, các cấp và đặc biệt là với các bậc
phụ huynh trong cách quan tâm, dạy dỗ con cái mình nhằm giảm thiểu nguy
cơ rối loạn lo âu ở các em học sinh trong lứa tuổi trung học phổ thông.
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông
(nghiên cứu tại trường THPT chuyên Quảng Bình).
3. Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra một số nguyên nhân gây rối loạn lo âu, trên cơ sở đó đề xuất
một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung
học phổ thông Chuyên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
- Chỉ ra thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên.
- Lý giải những nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở các em.
- Phân tích 3 trường hợp cụ thể để minh hoạ nguyên nhân gây rối loạn
lo âu.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở

4
- Rối loạn lo âu xuất hiện ở những em học sinh cuối cấp (học sinh lớp
12) cao hơn so với các em lớp dưới (lớp 10 và 11).
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp toạ đàm
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
- Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở
chương 2 (trang 41).

5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về lo âu trên thế giới
Thuật ngữ “Rối loạn lo âu“ đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát
triển của ngành tâm thần và y học. Lần đầu tiên thuật ngữ Angest được
Kerkgard (Đan Mạch) sử dụng để chỉ trạng tháng lo âu vào năm 1844, [dẫn
theo [10; 123].
Vào những năm cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm một
cách đặc biệt đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người. Trong các bệnh
về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm được xem là những bệnh tâm căn.
Năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dưới cái tên là:
“Hoang tưởng cảm xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ưu bệnh

Trong bảng phân loại các rối loạn tâm lí và bệnh tâm thần của Hiệp hội
tâm thần Mỹ (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders - DSM
III, 1983), thì khái niệm rối loạn lo âu bắt đầu được sử dụng chính thức. Phân
chia rối loạn lo âu thành rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu quá mức, rối loạn
lo âu né tránh.
Nhưng đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đưa ra bảng phân loại
DSM – IV [23; 136], thì mỗi loại rối nhiễu tâm thần (Mental Disorders) được
khái niệm hóa như là một nhóm những triệu chứng bất thường về tâm lí (hoặc
những mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng
xảy ra ở một cá nhân và liên quan dến stress tiêu cực (ví dụ: triệu chứng đau)
hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một
hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng
đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng những cảm giác
tiêu cực (như ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất
mát đáng kể, sự tự do của cá nhân (nhưng những triệu chứng này không phải

7
là một sự đáp ứng được người ta chấp nhận về mặt văn hóa hoặc được người
ta mong đợi, chẳng hạn cái chết của người thân). Bất kể điều gì là nguyên
nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải được xem là sự biểu
hiện của sự suy thoái về chức năng ở các góc độ sinh lí, tâm lí (nhận thức –
hành vi) xảy ra ở các cá nhân nào đó.
1.1.2. Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam
Theo những số liệu mà chúng tôi thu được, thì cho đến nay, chưa có
nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, chuyên biệt.
Thông thường, các nghiên cứu đều tập trung vào nhiều yếu tố cùng một lúc.
Ví dụ, các nhà khoa học nghiên cứu các rối nhiễu tâm trí, hay các tổn thương
tâm lí thì rối loạn lo âu chỉ nằm một phần nhỏ, hẹp trong đó.
Kể từ năm 1987 đến nay, Việt Nam chưa hề có một cuộc nghiên cứu
trên quy mô toàn quốc về vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em. Theo bác sĩ

19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm
thần. Trong khi đó, hiểu biết của xã hội (thậm chí ngay trong ngành y tế) về
chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất nghèo nàn. Như vậy, gần 20% trẻ dưới 16
tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [33].
1.2. Các khái niệm công cụ đƣợc sử dụng trong đề tài
1.2.1. Khái niệm lo âu
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu, trong đó, nổi bật lên là các
định nghĩa:
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn có cấu trúc
đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và
dai dẳng [19,11].

9
Theo tác giả Đinh Đăng Hòe: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên
(bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự
nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [7,37].
Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc bệnh viện tâm thần TP Hồ Chí
Minh: “Lo âu là tâm trạng chờ đợi một việc gì đó sắp xẩy ra mà mình không
biết được hậu quả” [34].
Còn theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện, lo âu là việc đón chờ và
suy nghĩ về một điều gì đó có thể để mà không chắc có thể đối phó được là
lo. Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Trong nhiều
trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối
lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi. [21; 190]
Theo từ điển Wikipedia, lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa
không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ
là đáp ứng với một đe dọa được biết rõ ràng từ bên ngoài hay không có nguồn
gốc xung đột. Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của môi trường
nhằm gia tăng tính tích cực của hành vi, chẳng hạn sợ hãi con rắn được tìm
thấy ở nhiều người được cho là có ích nó giúp họ tránh những tổn thương mà

lắng xung quanh áp lực về việc học tập, những mối quan hệ với bạn bè với
thầy cô giáo, và mối quan hệ với cha mẹ, anh chị em gia đình.
Còn đối với người lớn, mối quan hệ của họ rộng lớn hơn, như gia đình,
bạn bè, nơi làm việc, hàng xóm… cho nên những rối loạn lo âu ở người lớn
cũng nhiều yếu tố phức tạp hơn ở trẻ em.
1.2.2. Khái niệm rối loạn lo âu
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, lo âu là điều bình thường và cần thiết
đối với cuộc sống con người. Nhưng nếu người ta không kiểm soát nổi những

11
cảm giác lo âu ở mức bình thường, để nó vượt quá ngưỡng của mức bình
thường, diễn biến trong thời gian dài, kèm theo những rối loạn về mặt thực
thể, rối loạn hệ thần kinh thực vật thì lo âu trở nên có tính bệnh lí (còn gọi là
rối loạn lo âu).
Thuật ngữ “rối loạn lo âu” đã từng có những biến đổi về ý nghĩa và
định nghĩa, Aubrey Lewis, một bậc lão thành của ngành tâm thần học nước
Anh đã khái quát lại như sau [10; 123]:
+ Đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về
sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tổn hại, hoảng hốt khiếp
sợ, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng).
+ Cảm xúc xấu: Có thể là cảm giác cái chết đe dọa hoặc là suy sụp.
+ Đó là sợ trực tiếp cho tương lai, trong đó có cảm giác đe dọa của
nguy hiểm đang đến.
+ Có những đe dọa hoặc là không thể nhận ra được, hoặc theo tiêu
chuẩn hợp lí, đe dọa ấy không cân xứng với cảm xúc đó gây nên.
+ Có những khó chịu chủ quan về cơ thể như là cảm giác thắt lại trong
ngực, cảm giác thít chặt trong cổ họng và khó thở.
+ Có các rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thí dụ, kêu thét
lên, chạy trong khi hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn
toàn tự ý (thí dụ: khô mồm, ra mồ hôi, nôn và đánh trống ngực).

những tiêu chí này để xem xét những dấu hiệu rối loạn lo âu ở học sinh
THPT Chuyên Quảng Bình.

Lo âu bình thƣờng
Rối loạn lo âu

13
Chủ đề
Lo lắng có chủ đề, nội dung rõ
ràng như ốm đau, công ăn việc
làm.
Không có chủ thể rõ ràng, mang
tính chất vô lí, mơ hồ (lo lắng về
tương lai).
Thời
gian
Nhất thời khi có các sự kiện trong
đời sống tác động đến tâm lí của
chủ thể. Hết lo âu khi mất các tác
động này
Kéo dài và lặp đi lặp lại
Triệu
chứng
Không có hoặc có rất ít rối loạn
thần kinh thực vật
Nhiều rối loạn thần kinh thực vật
(mạch nhanh, thở gấp, chóng
mặt, khô miệng, vã mồ hội, lạnh
chân tay, run rẩy, bất an)


Đặc điểm nổi bật nhất của lứa tuổi là sự phát triển các năng lực trí tuệ.
Các quá trình nhận thức được phát triển mạnh, từ tri giác, trí nhớ, đến chú ý,
tư duy. Thông qua các quá trình nhận thức này mà học sinh THPT nhận thức
tốt hơn về chính mình và những người xung quanh. Nhưng không hoàn toàn
tất cả các em đều có tính trách nhiệm với những gì mình nhận thức được,
ngược lại, cũng có nhiều em vì quá lo lắng với những gì các em cho là trách
nhiệm của bản thân, đến nỗi sinh ra những rối loạn về mặt tâm lí.
Việc các em có những thay đổi mạnh mẽ về mặt tâm lí cũng chứng tỏ
được rằng nhận thức của các em tốt hơn các giai đoạn trước, các em tự ý thức
được việc mình làm và cũng đánh giá được những gì đang xấy ra xung quanh
mình. Trên cơ sở đó, các em hình thành thế giới quan cho mình, những gì các
em thu nhặt được sẽ là hành trang cho các em trong suốt cuộc sống về sau.
Ngoài hoạt động chủ đạo là học tập, các em cũng có những mối quan hệ rất

15
quan trọng đối với đời sống của các em, đó là quan hệ gia đình, bạn bè, thầy
cô, trường lớp những mối quan hệ này có những ảnh hưởng rất sâu sắc đến
các em.
Chúng tôi sẽ mô tả kỹ hơn ở phần sau.
1.2.3.2. Học sinh trung học phổ thông Chuyên
Cũng như các học sinh THPT, học sinh THPT Chuyên là những em học
sinh đang học từ lớp 10 đến lớp 12 ở các trường THPT Chuyên, cũng từ độ
tuổi chuẩn là từ 16 đến 18.
Điều khác biệt là các em học sinh THPT đã phải vượt qua một hoặc
một số kỳ thi thì mới có thể được vào học trường Chuyên. Bởi, trường
Chuyên là trường THPT đào tạo theo các khối chuyên từ lớp 10. Tức là, đối
với những em học sinh muốn vào học ở đây, các em phải lựa chọn một môn
chuyên để thi vào, và các em phải học theo khối chuyên đó cho đến khi ra
trường, và các em lựa chọn khối chuyên đó để thi vào ĐH.
Ở trường Chuyên Quảng Bình, học sinh đạt giải học sinh giỏi tỉnh trở

Biểu hiện của chứng rối loạn lo âu nói chung là rất đa dạng và với mỗi
người mỗi khác. Trước hết chứng lo âu có thể là sự khó chịu tinh thần, ví dụ:
nỗi day dứt không nguôi hoặc một sự hốt hoảng không có nguyên nhân rõ
ràng. Có thể gặp ở một số người là chứng lo âu khủng khiếp, làm cho chủ thể
phải chìm trong trạng thái sửng sốt, hốt hoảng, lo lắng thái quá về những gì
xẩy ra, họ suy diễn quá mức về những vấn đề, những mối quan hệ của họ.
Triệu chứng của chứng rối loạn lo âu cũng có thể bao gồm một trong
các dấu hiệu sau: đau ngực, hồi hộp, cảm giác nghẹt thở, căng cơ, nhức đầu,
đau lưng, co giật cơ bắp, đổ mồ hôi nhiều, hoa mắt, rối loạn tiêu hóa, khô
miệng và mất ngủ. Rối loạn lo âu cũng có thể khởi phát bởi caffein, rượu,
đường, thiếu hụt vitamine nhóm B, thiếu Mg hay Ca, dị ứng thức ăn, một vài

17
thuốc khác và sự truyền lactate vào máu, nhưng đây là dạng rối loạn thực thể,
mặc dù có biểu hiện giống như rối loạn lo âu về tâm lí.
Ở người bệnh có rối loạn lo âu, có khi họ phải chịu đựng một cảm xúc
vô cùng khó chịu, được kèm theo bởi một hay nhiều biểu hiện thể chất: xanh
xao, run rẩy, cơn khủng hoảng thần kinh, tim đập nhanh, toát mồ hôi, co thắt
nội tạng (đôi khi đau đớn đến mức chủ thể phải cong người lại), cảm giác
nghẹt thở, miệng khô, đau thắt ngực giả tạo… chứng lo âu và ám ảnh thường
nối kết nhau.
Trong nhân cách bệnh, rối loạn lo âu xuất hiện trên những người có nét
nhân cách bệnh lí, tồn tại dai dẳng thường có từ thời thơ ấu, được xem như là
một thuộc tính của nhân cách thường mang tố chất bẩm sinh. Do tồn tại dai
dẳng nên rối loạn lo âu ảnh hưởng rất lớn đến lối sống của người bệnh, những
người bệnh thường có hiện tượng né tránh tiếp xúc chỗ người đông, xa lánh
những nơi ồn ào Tình trạng rối loạn lo âu thường được tìm thấy trong sự trầm
uất, suy nhược tâm thần, và phần lớn các rối loạn tinh thần. Đẩy cao thêm một
bậc rối loạn lo âu sẽ trở thành sự sợ hãi, với vô số triệu chứng mang tính chất
đau khổ cho chủ thể.

Chủ thể lo lắng quá mức về một số sự kiện xảy ra hàng ngày, kéo dài ít
nhất trong sáu tháng. Chủ thể khó kiểm soát dược sự lo lắng của mình.
Cụ thể là đối với thanh thiếu niên, biểu hiện của rối loạn lo âu chỉ cần
liên quan ít nhất 3 trong 6 dấu hiệu sau (ở trẻ em chỉ cần một dấu hiệu).
+ Kích thích dễ bực mình, căng thẳng đầu óc.
+ Dễ mệt mỏi.
+ Khó tập trung, đầu óc trống rỗng.
+ Dễ cáu kỉnh.

19
+ Căng thẳng cơ bắp.
+ Rối loạn giấc ngủ (cảm giác khó ngủ, ngủ không ngon giấc).
Đối với học sinh trong diện điều tra, chúng tôi đã sử dụng thang đo để
đánh giá thực trạng rối loạn lo âu của các em. Qua kết quả điều tra, chúng tôi
thấy hầu hết các em học sinh THPT Chuyên Quảng Bình có điểm rối loạn lo
âu (theo thang đo) cao đều có ít nhất 3 trong 6 biểu hiện trên đây. (Xin xem
thêm ở phần kết quả nghiên cứu).
Đồng thời, chúng tôi sử dụng bảng hỏi với những câu hỏi mở, nhằm
tìm hiểu các biểu hiện khác thường của các em trong vòng 6 tháng trở lại đây
trên các lĩnh vực: tình trạng sức khoẻ, tâm lí, hành vi. Thông qua thang đo và
bảng hỏi, chúng tôi có thể biết được những em có rối loạn lo âu và thực hiện
những biện pháp hỗ trợ cho các em.
1.3.3. Phân loại lo âu
1.3.3.1. Lo âu tâm căn: Lo âu tâm căn là một trong những vấn đề cơ
bản trong bệnh cảnh lâm sàng, lo âu thường liên quan đến tác nhân tâm lí và ở
đây xuất hiện vòng xoắn bệnh lí đó là càng lo âu thì các rối loạn tâm căn càng
nặng và ngược lại, các rối loạn tâm căn càng nặng thì bệnh nhân càng lo âu
hơn. Lo âu trong tâm căn sẽ dịu đi khi có tác động của tâm lí trị liệu. Nếu
trong những trường hợp lo âu nổi bật lên hàng đầu trong bệnh cảnh lâm sàng,
kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật (hồi hộp, đánh trống ngực, ra mồ hôi,

đi kèm với các triệu chứng cơ thể như căng thẳng cơ bắp, dễ cáu kỉnh, khó
ngủ, bồn chồn. Sự lo âu không gây ra bởi việc sử dụng chất gây nghiện hoặc
một tình trạng (trạng thái) y học nói chung và không xuất hiện chỉ khi có sự
rối loạn tâm thần hoặc tâm trạng. Sự lo âu rất khó có thể kiểm soát, về mặt
chủ quan là gây đau buồn và làm tổn hại đến những thời khắc quan trọng của
đời sống chủ thể.

21
1.3.3.3. Rối loạn lo âu toàn thể: Đây là dạng nhẹ nhất trong các rối loạn
lo âu. Người mắc bệnh RLLA toàn thể có cảm giác khó chịu kéo dài và sự lo
lắng không thực tế, đặc biệt xung quanh người khác và có xu hướng dễ dàng
bị giật mình. Rối loạn này nhìn chung bắt đầu khi còn nhỏ hay mới trưởng
thành và thường gặp ở nữ hơn nam.
Triệu chứng của rối loạn lo âu toàn thể là: Khó ngủ và mệt mỏi kéo
dài, đau đầu, những cơn hoảng loạn thỉnh thoảng, run hay co giật, cảm giác
quay cuồng, trầm cảm, đau nhức cơ bắp, bồn chồn không yên, có mồ hôi,
đau bụng, hoa mắt, khó tập trung, hồi hộp, dễ cáu gắt. Bệnh được chẩn đoán
khi một người trải qua ít nhất sáu tháng lo lắng quá độ về một số vấn đề
cuộc sống hàng ngày.
1.3.3.4. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế: Loại rối loạn này xuất hiện khi
một người thấy lo lắng một hay nhiều lần tái diễn và không có thực (sự
cưỡng chế) và sử dụng một vài hành vi mang tính nghi thức để cố gắng xua
đi những lo lắng đó. Cứ 50 người thì có một người bị và tỉ lệ như nhau ở cả
hai giới. Rối loạn này có thể bắt đầu ở bất kể lứa tuổi nào nhưng thường là
vị thành niên hay giai đoạn đầu của trưởng thành. Đi kéo với rối loạn ám ảnh
cưỡng chế là trầm cảm, và những RLLA khác, như rối loạn ăn uống và vấn
đề lạm dụng rượu và chất gây nghiện.
Người bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế biết rằng nỗi sợ của họ và những
hành vi hệ quả không có ý nghĩa nhưng dù sao họ vẫn làm điều đó vì chính họ
không bỏ được và vì họ hi vọng tìm thấy sự xoa dịu thông qua hành động của

nhất 4 trong các triệu chứng sau: hồi hộp, tim đập thình thịch, có mồ hôi, run
rẩy, cảm giác hụt hơi, ngộp thở, đau ngực, buồn nôn hay đau bụng, hoa mắt,
cảm giác quay cuồng, mất nhận thức, giải thể nhân cách, cảm giác sợ mất tự
chủ hay sợ mất trí hay sợ chết Được cho là cơn hoảng loạn khi xảy ra đột
ngột và xuất hiện mỗi hai tuần hoặc nếu chỉ là cơn duy nhất thứ sau đó phải là
sự lo âu mơ hồ và sự căng thẳng về cơn đó kéo dài ít nhất một tháng.

23
Cơn hoảng loạn có thể kéo hoặc không kéo theo ám ảnh sợ khoảng
rộng (nỗi sợ khi tiếp xúc đám đông và không có khả năng thoát ra được khi
cơn xuất hiện). Người bị cơn hoảng loạn thường cố gắng tránh những cơn sắp
tới bằng cách nộ tránh những nơi hay vật có thể làm khởi phát cơn bằng các
trò giải trí hay tìm đến các chất gây nghiện hay rượu bia để trốn tránh.
Các rối loạn lo âu khác: Biểu hiện của các rối loạn lo âu này là không khu
trú vào bất kỳ hoàn cảnh xung quanh đặc biệt nào, có thể có cả các triệu trứng
thứ phát của trầm cảm, ám ảnh hay lo âu ám ảnh sợ Bao gồm rối loạn lo âu
hoảng sợ, RLLA hoảng sợ, RLLA lan tỏa, RLLA không biệt định, RL khác.
1.3.4. Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu
Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu có thể có các nguyên nhân sinh học
và nguyên nhân tâm lí, song chúng ta có thể đề cập đến các nguyên nhân tâm
lí là chủ yếu. Ở đây chúng tôi đề cập một cách vắn tắt những nguyên nhân
tâm lí gây ra rối loạn lo âu dựa vào các hệ thống lí thuyết.
1.3.4.1 Tiếp cận phân tâm học.
Lí thuyết phân tâm của Freud cho rằng: lo âu bắt nguồn từ thời tấm bé.
Bắt đầu là khi em bé có cảm giác “mất mẹ“; rồi đến lo hãi mất tình yêu của bố
mẹ; rồi đến lo hãi vì bản thân nhiều khi căm ghét bố mẹ, có ý hành hung bố
mẹ nhưng không dám thực hiện. Cũng theo thuyết phân tâm, một số lo hãi
thường gặp ở trẻ em là lo bị thiến (con trai thì lo sẽ bị cắt mất dương vật, con
gái thì cho rằng mình đã bị cắt). Dĩ nhiên, các mối lo hãi ở trẻ em đều là vô
thức, nhưng nếu không hiểu thì nhiều ứng xử của trẻ em cũng khó mà lý giải.

quốc gia có những đặc trưng riêng, với từng dân tộc lại có những phong tục,
tập quán và những quan niệm riêng… cho nên cũng khó để có thể áp dụng
tuyệt đối một cách nhìn nhận nào vào Việt Nam mà có tính chất phổ quát
nhất. Cũng cần quan tâm đến yếu tố “khí chất lo âu”. Vì đối với những trẻ em
có loại khí chất này được mô tả là: có những hành vi thu mình ức chế, hoảng

Trích đoạn Phương phỏp thống kờ toỏn học Nguyờn nhõn gõy ra rối loạn lo õu xột từ nhúm vấn đề liờn quan Nguyờn nhõn gõy ra rối loạn lo õu xột từ nhúm vấn đề liờn quan đến cỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status