Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở việt nam - Pdf 10

Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam Đoàn Thu Hồng

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Quế Anh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học pháp lý về
góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ. Phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của
pháp luật Việt Nam. Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam.

Keywords: Luật kinh tế; Quyền sở hữu trí tuệ; Thành lập doanh nghiệp; Vốn Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định thành lập doanh nghiệp là một trong những quyết định quan trọng đối với bất
kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp. Trong giai đoạn tiền doanh nghiệp
này, việc góp vốn là một trong những vấn đề đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm, bởi việc
góp vốn thành lập doanh nghiệp là khởi đầu cho công việc kinh doanh cũng như là yếu tố tiền đề,
cơ sở phân chia lợi nhuận giữa các nhà đầu tư cũng như xác định phạm vi quyền hạn của chủ thể
góp vốn đối với việc đưa ra các quyết định quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp.

Quyên – Tạp chí nghề luật, Học viện tư pháp số 5/2010. Bài viết “Một số vấn đề về góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu” của tác giả Nguyễn Hồng Vân tạp chí Hoạt động khoa học
tháng 7/2010.
Tóm lại, cho đến thời điểm hiện tại, dường như chưa có một công trình nào nghiên cứ một
cách toàn diện, khái quát về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên tập trung vào hoạt động góp vốn thành lập doanh
nghiệp nói chung hoặc hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng các quyền tài sản khác
theo quy định của pháp luật. Do vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên so với đề tài luận văn
này là không trùng lặp về mặt nội dung. Luận văn đi vào việc nghiên cứu, tổng hợp một số vấn
đề mới với hy vọng đóng góp một góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban
hành hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học pháp lý về khái
niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ nói riêng, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học pháp lý về góp
vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Ba là, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt
động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu vào việc nghiên cứu khái quát hoạt động
sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp và góp vốn thành lập doanh

doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn theo tiêu chí quy mô; doanh nghiệp độc lập, nhóm
doanh nghiệp hay các doanh nghiệp đa quốc gia căn cứ vào sự liên kết và doanh nghiệp nông
nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ
theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Khái niệm và thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp
Góp vốn thành lập doanh nghiệp là hành vi pháp lý của các tổ chức/cá nhân trong giai
đoạn “tiền doanh nghiệp” nhằm đưa tài sản của tổ chức, cá nhân vào thành tài sản của doanh
nghiệp để hưởng những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp được hình thành. Bên cạnh đó, chúng
ta cần phân biệt việc chủ thể góp vốn chuyển giao tài sản góp vốn cho doanh nghiệp hoàn toàn
khác với việc mua bán hoặc cho thuê tài sản.
Thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp là thỏa thuận được thiết lập giữa người góp
vốn hoặc cam kết góp vốn với doanh nghiệp sẽ được thành lập và mang lại quyền lợi cho chính
doanh nghiệp được thành lập – với tư cách một thực thể pháp lý độc lập. Thỏa thuận góp vốn có
thể được biểu hiện bằng văn bản hoặc không bằng văn bản. Tuy nhiên, trên thực tế thỏa thuận
góp vốn thường được các bên thể hiện dưới dạng văn bản, nó có thể là một băn bản độc lập, một
bản cam kết hay một điều khoản trong hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp. 1.1.3 Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Dựa vào khái niệm tài sản ta có thể phân loại tài sản dùng để góp vốn thành lập doanh
nghiệp gồm những đối tượng:
Tiền và giấy tờ có giá. Tiền theo kinh tế học, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hóa
và là phương tiện lưu thông trong đời sống của con người. Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, công trái, séc, giấy ủy nhiệm chi, số tiết kiệm Việc góp vốn thành
lập doanh nghiệp bằng tiền hoặc giấy tờ có giá được coi là hoàn tất khi thành viên góp vốn
chuyển giao tiền mặt hoặc giấy tờ có giá cho doanh nghiệp được thành lập.
Hiện vật, đây là việc người góp vốn sử dụng một tài sản hữu hình để góp vốn thành lập
doanh nghiệp với điều kiện đó phải là vật đưa được vào giao lưu dân sự. Chủ thể góp vốn thành
lập doanh nghiệp bằng vật có thể lựa chọn việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu hoặc chỉ góp vốn bằng quyền hưởng dụng đối với vật.

1.2.1.3 Điểm đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ so với quyền sở hữu các tài sản hữu hình
Một là, tài sản trí tuệ mang đặc tính vô hình.
Hai là, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản trí tuệ có thể do nhiều người cùng chiếm hữu, sử dụng
mà không làm giảm bớt đi giá trị của nó.
Ba là, giá trị của tài sản trí tuệ chịu ảnh hưởng, chi phối của nhiều yếu tố khác biệt so với tài
sản hữu hình.
Bốn là, giá trị của tài sản trí tuệ có thể được nâng cao thông qua sự bảo hộ của nhà nước.
Xuất phát từ những đặc tính nêu trên của tài sản trí tuệ, nên trong mối tương quan với quyền
sở hữu các tài sản hữu hình, quyền sở hữu trí tuệ có những điểm đặc trưng nhất định:
Một là, quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với một tài sản vô hình.
Hai là, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ khác với các tài sản hữu
hình.
Ba là, việc thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ khác với các tài
sản hữu hình.
Bốn là, sự khác biệt trong việc thực hiện quyền năng sử dụng tài sản.
Năm là, khác biệt trong việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản.
Sáu là, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu tài sản.
Bảy là, một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được xác lập theo thủ tục đăng ký bảo hộ
bị giới hạn bởi phạm vi lãnh thổ và thời hạn bảo hộ.
Tám là, đối với một số đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài
sản của chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ của mình.
1.2.2 Khái niệm và đặc trưng của góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ
1.2.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ là việc các chủ thể quyền chuyển
giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ của mình để góp
vốn thành lập doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh
nghiệp.
1.2.2.2 Đặc điểm của góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Một là, về chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp là chủ sở hữu các đối tượng quyền sở

kiện để phát triển và trong hệ thống pháp luật cũng không có quy định về quyền sở hữu trí tuệ,
do đó việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ hầu như chưa được đề cập.
Việc góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều lệ đầu tư nước
ngoài tại nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ban hành kèm theo Nghị định số 115-CP
ngày 18 tháng 4 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
nam 1987 ra đời đã có đề cập đến việc góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanh của bên Việt Nam
và bên nước ngoài bằng một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Nhưng quyền này chỉ được
dành cho các các nhà đầu tư nước ngoài còn phía Việt Nam không được ghi nhận quyền này.
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến trước năm 2005
Trong giai đoạn này, Quốc hội nước ta đã thông qua các văn bản quan trọng như Luật
Doanh nghiệp, ngày 21 tháng 12 năm 1990. Ngày 28/10/1995 Quốc hội đã thông qua Bộ Luật
Dân sự năm 1995, trong đã có Phần IV nói về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ,
bao gồm 61 Điều luật về sở hữu trí tuệ. Luật doanh nghiệp 1999, quyền sở hữu trí tuệ mới được
ghi nhận là tài sản góp vốn đối với các nhà đầu tư trong nước. Luật doanh nghiệp năm 1999 ra
đời trên cơ sở rút kinh nghiệm sau nhiều năm thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật
Doanh nghiệp thực sự tạo ra một bước cải cách mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân và mở ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong nước trong việc sử dụng quyền sở hữu
trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp.
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã được ban hành thay thế cho Luật doanh nghiệp năm
1999. Cùng với đó, trong BLDS 2005 được Quốc Hội khóa XI, thông qua ngày 14/06/2005 thay
thế Bộ luật dân sự năm 1995. Cũng trong kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI, Quốc hội Việt Nam
đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Ngày 19 tháng 6 năm 2009,
Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu
trí tuệ số 50/2005/QH11. Hệ thống văn bản mới này đã một lần nữa khẳng định và dần hoàn
thiện các quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.


nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005. Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì vấn
đề nhận góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ dường như không được đặt
ra bởi theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay loại hình doanh nghiệp này không có tư cách
pháp nhân.
2.1.3 Đối tượng góp vốn và điều kiện góp vốn
2.1.3.1 Quyền tài sản của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan.
Tác giả của các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ sẽ có quyền nhân thân và quyền tài sản đối
với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ do mình sáng tạo ra. Tuy nhiên, quyền nhân thân của tác
giả là quyền gắn liền với tác giả và nó không được chuyển giao. Do đó, quyền nhân thân của tác
giả các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ sẽ không được sử dụng để góp vốn thành lập doanh
nghiệp. Ngược lại, quyền tài sản của tác giả/chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ có thể
là đối tượng được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp.
2.1.3.2 Quyền sở hữu các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Quyền sở hữu các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp do mình sở hữu. Quyền đối với giống cây trồng là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát
triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Quyền sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ cũng được coi
là một quyền tài sản và có thể được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp.
2.1.4 Định giá quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn
Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được tiến
hành định giá. Việc định giá này có thể do một tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện hoặc do
các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu quyền sở hữu trí tuệ được
định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên/cổ đống sáng lập
liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bằng
số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc
định giá.
Theo hướng dẫn số 4 của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế, có ba loại phương pháp
để thẩm định giá tài sản vô hình mà ta có thể áp dụng để định giá tài sản trí tuệ. Cụ thể là:
phương pháp chi phí; phương pháp thu nhập và phương pháp thị trường.
Phương pháp thẩm định giá dựa trên thu nhập. Phương pháp định giá này dựa trên nguyên

quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại; quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được xác
lập trên cơ sở đăng ký bảo hộ như quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu thì thủ tục chuyển quyền sở hữu trí tuệ sang cho doanh nghiệp
được thực hiện theo thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2.1.7 Thủ tục xử lý quyền sở hữu trí tuệ khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí
tuệ vào doanh nghiệp
Trong trường hợp hết thời hạn góp vốn hoặc do các bên thỏa thuận chấm dứt việc góp vốn,
mà vẫn chưa hết thời hạn được bảo hộ đối với quyền sở hữu trí tuệ tương ứng thì bên góp vốn
bằng quyền sở hữu trí tuệ được nhận lại quyền sở hữu trí tuệ đó. Nếu bên góp vốn không có nhu
cầu sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, thì doanh nghiệp nhận góp vốn vẫn có thể sử dụng quyền sở
hữu trí tuệ này, nếu được sự đồng ý của bên góp vốn. Nếu thời hạn bảo hộ đối với quyền sở hữu
trí tuệ dùng để góp vốn đã hết, thì doanh nghiệp nhận góp vốn được vẫn được quyền sử dụng
nhưng trong trường hợp này sẽ không được quyền sở hữu, nghĩa là không loại trừ các tổ chức, cá
nhân khác sử dụng quyền sở hữu trí tuệ. Nếu doanh nghiệp nhận góp vốn hoặc bên góp vốn bằng
quyền sở hữu trí tuệ bị phá sản, thì quyền sở hữu trí tuệ đã góp vốn được xử lý theo quyết định
của tòa án nhân dân về việc tuyên bố phá sản. Nếu doanh nghiệp nhận góp vốn bằng quyền sở
hữu trí tuệ bị giải thể hoặc bên góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là tổ chức bị giải thể, thì quyền
sở hữu trí tuệ đã góp vốn được xử lý theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của Luật
Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
2.1.8 Về chứng từ và việc hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhận góp vốn thành lập bằng quyền sở hữu trí tuệ phải hoạch toán giá trị vốn
góp bằng quyền sở hữu trí tuệ do bên góp vốn vào tài sản cố định và trích khấu hao vào chi phí
hợp lý kinh tính thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ khi góp vốn. Như vậy, theo nguyên tắc về việc
ghi chép kế toán, chỉ có những quyền sở hữu trí tuệ có chi phí phát sinh thì mới được xem xét để
hoạch toán vào vốn góp thành lập doanh nghiệp. Đây là một vấn đề bất cập hiện nay, bởi đối với
các doanh nghiệp nhận góp vốn thành lập thì thành viên góp vốn chuyển giao quyền sở hữu
quyền sở hữu trí tuệ sang cho doanh nghiệp và được hưởng các quyền lợi từ doanh nghiệp. Mặc
dù, pháp luật có quy định về việc doanh nghiệp nhận góp thành lập bằng quyền sở hữu trí tuệ

bằng quyền sở hữu trí tuệ và căn cứ để xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp
vốn thành lập doanh nghiệp.
Thứ năm, hệ thống pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp còn thiếu vắng những quy
định về chứng từ và việc hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp và các chế tài xử lý trong trường hợp doanh nghiệp hoạch toán chi phí cao hơn gấp nhiều
lần giá trị tài sản trí tuệ dùng để góp vốn.
2.2.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhược điểm trong pháp luật về góp vốn bằng uyền sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam
Thứ nhất, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp tồn tại trong một thời gian dài
và còn ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, việc xây dựng pháp luật thiếu một tư duy hệ thống, bao quát.
Thứ ba, pháp luật về kinh tế tư nhân nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng mới
được xây dựng ở Việt Nam sau nhiều năm bị triệt tiêu, nên không khỏi có sự lạc hậu, khiếm
khuyết.
Thứ tư, sự biến động khá sâu sắc và mạnh mẽ của các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị
trường phát triển với tốc độ cao ở nước ta, đã làm cho nhiều quy định trong pháp luật nhanh
chóng rơi vào trạng thái không phù hợp, không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đời sống xã
hội.
Thứ năm, Tổ chức bộ máy các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật chưa đủ mạnh để
thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thứ sáu, chi phí cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực
tiễn hoạt động của các cơ quan Nhà nước.
Chương 3: THỰC TRẠNG GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM
3.1 Thực trạng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ đã
được pháp luật ghi nhận từ khá lâu, tuy nhiên trên thực tế hoạt động góp vốn thành lập doanh

quyền sở hữu trí tuệ để tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp.
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh
nghiệp băng quyền sở hữu trí tuệ
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về chủ thể góp vốn, đối tượng và điều kiện góp
vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, các quy định của pháp luật về chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Luật doanh nghiệp 2005 mới chỉ
có những quy định chung về quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước. Nhưng đối với quyền sở hữu trí tuệ, đây là một loại tài sản vô hình đặc biệt,
thì việc quy định của pháp luật về chủ thể có góp vốn thành lập doanh nghiệp là một vấn đề cần
thiết.
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về việc xác định giá trị của quyền sở
hữu trí tuệ làm cơ sở cho việc định giá quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn thành lập doanh
nghiệp
Theo hướng dẫn số 4 của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế, có ba phương pháp để
thẩm định giá tài sản vô hình. Cụ thể là phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập và phương
pháp thị trường. Tuy nhiên, việc áp dụng những phương pháp này không phù hợp với điều kiện
kinh tế của nước ta. Bởi vậy, chúng ta cần phải xây dựng những phương pháp xác định giá trị tài
sản vô hình cho tương thích với hướng dẫn của Ủy ban thẩm định giá quốc tế và thông lệ quốc
tế, nhưng phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về chứng từ và việc hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Về chế độ hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp, pháp
luật cần cân nhắc đến việc xác định giá trị của tài sản này. Theo kiến nghị của tác giả, pháp luật
có thể cho phép doanh nghiệp tự xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ sử dụng để góp vốn
thành lập doanh nghiệp để được ghi nhận trong báo cáo tài chính. Đồng thời, để có thể hiện
chính xác giá trị của tài sản này, hàng năm các doanh nghiệp cần được các tổ chức định giá xác
định lại giá trị của các quyền sở hữu trí tuệ này.
3.2.4 Hoàn thiện quy định về hợp đồng thành lập doanh nghiệp nói chung và góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói riêng

thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
3.3.1 Nâng cao năng lực quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các cơ quan Nhà
nước
Một là, cần xác định rõ ràng và hợp lý về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc
quản lý quyền sở hữu trí tuệ.
Hai là, cần nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý, hoàn thiện thủ tục hành chính về
quản lý quyền sở hữu trí tuệ.
Ba là, cần triệt để và nghiên cứu cải tiến cơ chế khi giải quyết những vấn đề có liên quan
đến việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Bốn là, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đối với việc quản lý sở hữu trí tuệ, vì đây là một lĩnh vực phực tạp.
3.3.2 Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Một mặt, cần đặc biệt quan tâm đến việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức, bổi dưỡng về
pháp luật nói cung, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói riêng đối với đội ngũ công chức làm
công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Mặt khác, cần đẩy mạnh việc phổ biến giáo dục pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung
và pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói riêng.
3.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ
Một là, nghiên cứu thành lập một đơn vị có nhiệm vụ rà soát tất cả các quy định có liên quan
đến việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ nói chung, đến việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí
tuệ nói riên, để kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ.
Hai là, nên có một nghị định riêng quy định về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, quy
định cụ thể về bên góp vốn, bên nhận góp vốn, quyền sở hữu trí tuệ được dùng để góp vốn, trình
tự, thủ tục góp vốn và những nội dụng khác có liên quan đến việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí
tuệ.
Ba là, theo quan điểm của cá nhân tác giả, nên thống nhất lại quan niệm góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ thay vì quy định của pháp luật hiện nay là góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng “giá trị quyền sở hữu trí tuệ” để phù hợp với những quy định của

bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt nam, đã biệt là những quy định của pháp luật hiện hành về đối
tượng góp vốn, đối tượng nhận góp vốn điều kiện góp vốn, thủ tục góp vốn và những nội dung
khác về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Các nội dung cơ bản về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ dã được phân tích, so sánh,
với quy định của các giai đoạn trước để rút ra kết luận về những ưu điểm, nhược điểm của các
quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Luận văn cũng phân tích để xác định những nguyên nhân những nhược điểm của các quy
định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể: nhiều quy
định của pháp luật chưa khoa học, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức nhà nước về sở
hữu trí tuệ còn chưa đồng bộ; ý thức pháp luật của nhân dân còn thấp.
Những nguyên nhân đó đã trở thành cơ sở khoa học cần thiết cho việc hình thành những giải
pháp hoàn thiện pháp luật về bao gồm những giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ
quan có chức năng trong quản lý. Đồng thời trên cơ sở đó, tác giả luận văn đã đề xuất một số
kiến nghị nhăng nâng của hiệu quả của việc cá nhân, tổ chức góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. References

A. TIẾNG VIỆT
1. Phạm Tuấn Anh (2009), Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam, Luận văn ThS,
Luật, Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội.
2. Tori Aritdumi, Xaca Vacaxum; Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng dịch; Hoàng Thế Liên
hiệu đính (1996), Bình luận khoa học Bộ Luật dân sự Nhật Bản, NXB Chính Trị Quốc Gia.
3. Ngô Huy Cương (2004), Hợp đồng thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam, luận án tiến sĩ luật
học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội.
4. Quốc Cường (2010), Luật doanh nghiệp và quy định mới về đăng ký kinh doanh, hướng dẫn
thi hành chi tiết thành lập doanh nghiệp (theo nghị định số 43/2010/NĐ-CP và Thông tư số
14/2010/TT-BKH), NXB Hồng Đức.
5. Trương Quang Dũng, Đoàn Thanh Loan, Hồ Thu Phương dịch; Trần Quang Hiếu hiệu đính

trị Quốc Gia, Hà Nội.

B. TIẾNG NƯỚC NGOÀI

25. Adul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead. (1985), Business Law, Heinemann, London.
26. Cozian M., Viandier A. (1992), Droit Des Sociétés, Cinqième ésdition, Litec, Paris.
27. CCH Asia Limited. (1990), Guide to Company Law in Malaysia & Singapore, CCH Asia
Limited, 1990.
28. Charles Leadbeater., Living on thin air- The new economy,Viking, London, 1999.
29. William J. Allen, Reiner Kraakman., Commentaries and Cases on the Law of Business
Organization, Aspen publishers, New York, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status