MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ........................................................................ 5
1.1
Khái quát chung về góp vốn thành lập doanh nghiệp .................................. 5
1.1.1
Khái niệm và phân loại doanh nghiệp ......................................................... 5
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ............................................................................. 5
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp .............................................................................. 6
1.1.2
Khái niệm và thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp ........................... 8
1.1.3
Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp .................................................... 11
1.2
Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ....................... 26
1.2.1
Khái niệm và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ....................................... 26
Giai đoạn từ năm 2005 đến nay ................................................................ 50
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
.............................................................................................................................. 53
2.1
Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ ....................................................................................... 53
2.1.1
Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ......... 55
2.1.1.1 Chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.......................................... 55
2.1.1.2 Các tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công
nghiệp .................................................................................................................. 62
2.1.1.3 Chủ thể có quyền sử dụng trước đối với một số đối tượng quyền sở hữu trí
tuệ.......................................................................................................................... 63
2.1.2
Chủ thể nhận góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 64
2.1.3
Đối tượng góp vốn và điều kiện góp vốn .................................................. 65
2.1.3.1 Quyền tài sản của tác giả/chủ sở hữu của bản quyền tác giả và quyền liên quan
.............................................................................................................................. 66
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ........ 85
2.2
Đánh giá pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ.......................................................................................................................... 88
2.2.1
Những ưu điểm ......................................................................................... 88
2.2.2
Những nhược điểm.................................................................................... 90
2.2.3
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhược điểm trong pháp luật về góp vốn bằng
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam ........................................................................... 91
Chương 3: THỰC TRẠNG GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT
NAM ..................................................................................................................... 96
3.1
Thực trạng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
bằng quyền sở hữu trí tuệ .................................................................................... 106
3.2.6
Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ ......................................................... 107
3.3
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tổ chức thực hiện pháp luật về
góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ................................. 108
3.3.1
Nâng cao năng lực quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các cơ quan
Nhà nước ............................................................................................................ 108
3.3.2
Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp
luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ........................................................... 110
3.4
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ........................................................................ 111
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
nghiên cứu: “Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
1
Có thể nói hoạt động “góp vốn nói chung” và “góp vốn thành lập doanh
nghiệp nói riêng” đã được các nhà khoa học chuyên ngành luật quan tâm nghiên
cứu. Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các góc
độ khác nhau. Như đề tài: “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam”
Luận văn thạc sỹ luật của tác giả Phạm Tuấn Anh, Khoa luật Đại học quốc gia
Hà Nội. Ở đề tài này, tác giả đã nghiên cứu khái quát những vấn đề chung về
hoạt động góp vốn thành lập công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam trên
cơ sở liên hệ so sánh với hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới. Hay
đề tài “Góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam – Luận văn thạc sỹ luật
học của tác giả Hồng Vân, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo đó, tác giả
đã nghiên cứu hoạt động góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh nói chung, trong đó có bao hàm cả nội dung của hoạt động góp
vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất. Ngoài ra còn một số bài viết
đăng trên các tạp chí như “Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách
thành viên công ty theo Luật doanh nghiệp năm 2005” của tác giả Nguyễn Thị
Dung, Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội số 9/2010; “Xác định loại
và giá trị tài sản góp vốn vào công ty” của tác giả Đỗ Quốc Quyên – Tạp chí
nghề luật, Học viện tư pháp số 5/2010. Bài viết “Một số vấn đề về góp vốn bằng
giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu” của tác giả Nguyễn Hồng Vân tạp chí Hoạt
động khoa học tháng 7/2010.
Tóm lại, cho đến thời điểm hiện tại, dường như chưa có một công trình nào
pháp lý về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Ba là, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ ở Việt Nam.
5.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu vào việc nghiên cứu khái
quát hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp
và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật Việt Nam về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật hiện hành.
6.
Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm
cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển
đất nước, cải cách hành chính xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư
3
pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn
được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, so
sánh, tổng hợp, thống kê.
yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân
viên doanh nghiệp thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng
hóa hay dịch vụ để nhận được khoản chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá
thành của sản phẩm ấy”. Dưới góc độ kinh tế học, doanh nghiệp được xem xét
dưới các yếu tố: chi phí để tổ chức huy động vốn; tổ chức lao động; tiến hành
kinh doanh và các chi phí để phối hợp các yếu tố đó với nhau. Có thể nói doanh
nghiệp là một trong những hình thức hoạt động mà các tổ chức, cá nhân lựa
chọn để thể hiện ý tưởng kinh doanh của mình.
Nhìn nhận từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được pháp luật công nhận là
một thực thể pháp lý độc lập. Doanh nghiệp có quyền và cũng phải gánh chịu
5
những nghĩa vụ pháp lý do hoạt động của mình gây ra. Khoản 1 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp 2005 đã quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy,
dưới góc độ pháp lý doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,
có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động theo chế độ
hoạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động trong phạm vi vốn
đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại
luật và chính sách thực thi.
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
Tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại khác nhau, doanh nghiệp sẽ được
phân thành các loại khác nhau. Cụ thể:
Theo tiêu chí về hình thức sở hữu và mục đích hoạt động, doanh nghiệp
được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp nhà nước.
(i)
(i)
Doanh nghiệp độc lập là những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
một cách độc lập.
(ii)
Nhóm doanh nghiệp là tập hợp các doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó
lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ
kinh doanh khác.
(iii)
Doanh nghiệp đa quốc gia là các doanh nghiệp sản xuất hay cung cấp dịch
vụ ở ít nhất hai quốc gia trở lên.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp
công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ.
(i)
Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất những sản phẩm là cây và con.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện tự nhiên.
7
(ii)
của mình vào cùng tài sản của các chủ thể khác để cùng tiến hành hoạt động sản
xuất, kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Do đó, có thể hiểu “Góp vốn thành
lập doanh nghiệp là hành vi pháp lý của các tổ chức/cá nhân trong giai đoạn
“tiền doanh nghiệp” nhằm đưa tài sản của tổ chức, cá nhân vào thành tài sản
8
của doanh nghiệp để hưởng những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp được hình
thành.”
Xét theo phương diện kinh tế, góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu
là những đóng góp mà tổng cộng những phần đóng góp ấy trở thành dấu hiệu đại
diện cho số vốn của doanh nghiệp. Thực chất đó là của “hồi môn” mà mỗi thành
viên dành cho doanh nghiệp lúc mới thành lập.
Xét theo phương diện pháp lý, hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp
được hiểu là việc một tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền
hưởng dụng một tài sản vào doanh nghiệp để được hưởng các quyền lợi từ
doanh nghiệp sẽ được thành lập. Đó có thể là quyền hưởng lợi tức hoặc quyền
điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp...
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 quy định: “Góp vốn là việc đưa
tài sản vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung
của doanh nghiệp. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công
nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ doanh nghiệp, do
thành viên góp để tạo thành vốn của Doanh nghiệp.” [13, Điều 4]
Ở đây, chúng ta cần phân biệt việc chủ thể góp vốn chuyển giao tài sản
góp vốn cho doanh nghiệp hoàn toàn khác với việc mua bán. Mặc dù, các hành
vi này giống nhau là đều có việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng
dụng tài sản từ chủ thể này qua chủ thể khác; và việc chuyển giao này đều đòi
hỏi phải xác định giá trị cho tài sản được chuyển giao. Tuy nhiên, chúng có điểm
yếu trong hợp đồng thành lập doanh nghiệp. Pháp luật Malaysia và Singapore
quan niệm: “trừ khi là một doanh nghiệp có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành
lập doanh nghiệp nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn (capital
clause) mà trong đó tuyên bố về khoản vốn được phép và phân chia vốn đó
10
thành các cổ phần với số lượng ấn định trở thành giới hạn mà doanh nghiệp có
thể được phép quyên góp [27, tr155-156].
Để xác định được nghĩa vụ góp vốn của các thành viên, thỏa thuận góp
vốn bao gồm các nội dung chính như: Chủ thể góp vốn; giá trị vốn góp; tài sản
góp vốn; phương thức chuyển giao vốn góp; thời điểm góp vốn...
1.1.3 Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Theo Bộ Luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp: “Doanh nghiệp do hai
hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng
góp, sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung
nhằm chia lãi hoặc thu lợi.
Trong những trường hợp do pháp luật quy định, doanh nghiệp có thể do một
người thành lập.
Các thành viên doanh nghiệp cam kết cùng chịu lỗ” [5, Điều 1832]
Theo quy định của Bộ Luật dân sự Pháp, tài sản được dùng để góp vốn ở
đây có thể là tài sản hoặc công sức của người góp vốn. Khái niệm “tài sản” theo
quy định của Bộ Luật dân sự nước Cộng hòa Pháp không được liệt kê cụ thể mà
chỉ được phân ra làm động sản hoặc bất động sản.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 tài sản có thể dùng để góp
vốn thành lập doanh nghiệp đã được các nhà làm luật sử dụng phương pháp liệt
kê. Tài sản dùng để góp vón thành lập doanh nghiệp bao gồm vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp liệt kê rất dễ
dẫn tới sự không đầy đủ, do vậy, luật doanh nghiệp 2005 đã có quy định mở là
vốn sang cho doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo được yêu cầu này, thì tài sản là
vật sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp phải là vật đưa được vào giao
lưu dân sự. Nó phải đáp ứng đầy đủ ba yêu cầu: (i) vật có thực phải là một bộ
12
phận của thế giới vật chất; (ii) vật có thực phải đem lại lợi ích cho con người;
(iii) vật có thực là những vật mà con người có thể chiếm giữ được. Trong việc
thực hiện quyền sở hữu đối với vật, chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng vật có thể lựa chọn việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu hoặc chỉ góp vốn bằng quyền sử dụng đối với vật.
Thứ nhất, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu vật. Quyền
sở hữu là hình thức thống trị hoàn toàn đối với vật. Nói cách khác quyền đó cho
phép sử dụng vật, thu lợi và định đoạt vật theo ý muốn chủ quan của chủ sở hữu.
Do đó, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu là việc thành viên
góp vốn chuyển quyền sở hữu đối với vật góp vốn của mình sang cho doanh
nghiệp nhận góp vốn. Cách góp vốn này có biểu hiện gần giống với việc mua
bán vật. Theo quy định của Bộ luật dân sự nước Cộng Hòa Pháp có quy định:
“Mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp về những cam kết
đóng góp bằng hiện vật, bằng tiền hoặc công sức lao động. Việc góp vốn bằng
hiện vật được thực hiện bằng cách chuyển quyền đối với vật và giao vật cho
doanh nghiệp sử dụng. Nếu góp vốn bằng quyền sở hữu, người góp vốn phải
đảm bảo đối với doanh nghiệp như người bán đảm bảo đối với người mua.” [5,
Điều 1843–3]. Về mặt nguyên lý, doanh nghiệp được xác định như một người
mua, trở thành chủ sở hữu của tài sản góp vốn. Là chủ sở hữu, doanh nghiệp
phải chịu tất cả những rủi ro có thể xảy ra đối với vật góp vốn khi người góp vốn
đã bàn giao vật góp vốn cho doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, doanh
nghiệp còn phải gánh chịu các khoản nợ của những vật đóng góp. Ví dụ: Khi vật
được sử dụng để góp vốn là một cửa hiệu cùng toàn bộ các khoản nợ cho doanh
cao một cách gian lận những đóng góp bằng hiện vật có thể bị quy thành tội
phạm để hạn chế các thành viên thổi phồng tài sản đóng góp. Riêng đối với
doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn mà việc tham gia của ủy viên kiểm tra góp
14
vốn không bắt buộc thì các thành viên doanh nghiệp phải liên đới chịu trách
nhiệm trong thời hạn năm năm trước người thứ ba về giá trị mà họ tự tính cho
những hiện vật đã góp.
Một lần nữa, việc góp vốn ở đây lại được xem như là hành vi bán chác và
người góp vốn phải đảm bảo với doanh nghiệp về tài sản mà mình đóng góp như
người bán phải đảm bảo hàng đối với người mua. Ở đây cần có sự đảm bảo
mang tính chất loại trừ: Người góp vốn không được ngăn cản doanh nghiệp
hưởng dụng tài sản đã đóng góp và phải đảm bảo về những khuyết tật ở hiện vật
mình đóng góp; nghĩa là người góp vốn phải chịu trách nhiệm về những khuyết
tật trong hiện vật mình đóng góp vào doanh nghiệp đã làm cho hiện vật không
sử dụng được đúng với tác dụng của nó.
Thứ hai, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền hưởng dụng. Nếu
coi quyền sở hữu đối với vật được hợp thành bởi ba quyền; quyền chiếm hữu;
quyền sử dụng; quyền định đoạt thì quyền hưởng dụng bao gồm hai thành tố:
quyền chiếm hữu và quyền sử dụng. Nghĩa là chủ thể có quyền hưởng dụng chỉ
có quyền nắm giữ, sử dụng tài sản để thu lợi mà không có quyền định đoạt đối
với tài sản. Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền hưởng dụng là việc chủ
thể góp vốn chuyển giao quyền nắm giữ và quyền sử dụng vật cho doanh nghiệp
khai thác và thu lợi từ vật nhưng giữ lại cho mình quyền định đoạt đối với vật.
Do đó, người ta thường tách việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng đối với vật ra
khỏi việc góp vốn bằng vật. Tài sản góp vốn là quyền hưởng dụng thì phần vốn
góp chính là giá trị được tính bằng quyền hưởng dụng đối với tài sản. Thành
viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải giao tài sản cho doanh nghiệp đúng
thì doanh nghiệp có thể gia hạn giao tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu
có). Nếu tài sản đó không đúng chất lượng thỏa thuận thì doanh nghiệp có quyền
16
yêu cầu thành viên góp vốn sửa chữa và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).
Tài sản góp vốn là quyền hưởng dụng thì rủi ro đối với tài sản sẽ thuộc về thành
viên góp vốn, vì họ vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản đó. Chẳng hạn nếu tài sản
đã bị thất thoát thì việc góp vốn sẽ bị coi là vô hiệu và người góp vốn sẽ bị khai
trừ nếu không có vốn đóng góp khác. Tuy nhiên, cũng cần phải nói một cách
chính xác là khi vật đóng góp là vật có thể tiêu phí được – những tài sản thuộc
loại không thể tư nhân hóa được – văn tự góp vốn bằng chuyển giao cho doanh
nghiệp sở hữu những tài sản đã đóng góp vào doanh nghiệp, doanh nghiệp có
trách nhiệm và nghĩa vụ trả lại tài sản đó với số lượng, chất lượng và giá trị
tương đương. Như vậy, việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng phần nào giống
với việc góp vốn bằng quyền sở hữu, chừng nào mà doanh nghiệp còn sử dụng
tài sản đó. Vậy là trong khi người góp vốn bằng quyền sở hữu, cho dù có gắn bó
bao nhiêu với tài sản mình đem góp vốn vào doanh nghiệp, cũng không bao giờ
được đảm bảo là sẽ được động chạm đến tài sản trước đây của mình. Tuy nhiên,
trong trường hợp nếu hoàn trả lại vốn góp người góp vốn bằng quyền hưởng
dụng có ngày được hưởng dụng lại tài sản đã góp mà mình là chủ sở hữu. Mặc
dù có lợi nhưng trên thực tiễn việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng cũng ít
được thực hiện.
Như vậy, góp vốn bằng quyền hưởng dụng là việc cá nhân hay tổ chức
chuyển quyền hưởng dụng tài sản của mình cho doanh nghiệp để được hưởng
các quyền lợi đối với doanh nghiệp, trong đó thành viên đem góp vốn vẫn là
người chủ sở hữu tài sản và doanh nghiệp có quyền thu hoa lợi từ tài sản đó.
Quyền sử dụng đất. Đất đai với tư cách là bất động sản theo bản chất.
Thông thường có thể xếp việc góp vốn bằng đất đai vào góp vốn bằng hiện vật.
Loại thứ hai, quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử
dụng đất. Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất tại
18
quy định này được chia làm hai trường hợp theo chủ thể được giao đất đó là: Cá
nhân, hộ gia đình được giao đất không thu tiền sử dụng đất và tổ chức được giao
đất không thu tiền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 113, Luật đất đai 2003
thì quyền sử dụng đất Nhà nước giao cho cá nhân, hộ gia đình không thu tiền sử
dụng đất có thể là đối tượng của hợp đồng thế chấp, chuyển nhượng, góp vốn để
hợp tác sản xuất, kinh doanh với các tổ chức, cá nhân trong nước..., được giao
kết và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật dân sự và luật đất đai. Còn theo quy
định tại Khoản 2, Điều 109, Luật đất đai 2003 thì “ Tổ chức được Nhà nước giao
đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng
cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất.”[14, Điều 109]
Như vậy, quyền sử dụng đất được giao cho cá nhân, hộ gia đình không thu
tiền sử dụng đất thì được quyền góp vốn để hợp tác sản xuất, kinh doanh, nhưng
quyền sử dụng đất được giao cho cá tổ chức không phải trả tiền sử dụng đất thì
không được đem ra góp vốn.
Loại thứ ba, quyền sử dụng đất thuê. Các chủ thể được Nhà nước cho thuê
đất không có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê mà chỉ có quyền góp
vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê
đất theo quy định tại Điều 111 và Điều 114 Luật đất đai 2003. Tuy nhiên, nếu
các chủ thể nêu trên được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật đất đai 2003
có hiệu lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả
trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít
nhất là năm năm thì có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn
thuê.
thể. Tuy nhiên, các quyền tài sản đó chỉ được xem là các yếu tố của một sản
nghiệp khi các quyền đó có thể được định giá bằng tiền. Các quyền tài sản tạo
20
thành một tập hợp – sản nghiệp – và tập hợp này tồn tại độc lập với các quyền
tài sản đó. Tài sản có thể được mua bán, sử dụng, hao mòn, thậm chí biến mất
nhưng sản nghiệp vẫn được duy trì. Do đó, một chủ nợ không có bảo đảm chỉ có
quyền yêu cầu kê biên và bán đấu giá bất kỳ tài sản nào của người mắc nợ ở thời
điểm kê biên mà sẽ không có quyền này đối với những tài sản đã chuyển
nhượng trước khi đến hạn đòi. Mặt khác, cần chú ý rằng sản nghiệp không chỉ là
tài sản hiện có mà nó còn bao gồm cả những tài sản sẽ có của chủ sở hữu.
Tài sản nợ thuộc về sản nghiệp là tất cả những nghĩa vụ tài sản của một
doanh nghiệp. Hay nói một cách đơn giản hơn đã là những gì còn lại của khối tài
sản sau khi đã trừ đi các giá trị của các nghĩa vụ tài sản.
Trong sản nghiệp thương mại phải kể đến các yếu tố sau: mạng lưới tiêu
thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ; tên thương mại; biển hiệu; nhãn hiệu; bí mật
kinh doanh và các quyền tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ...
Mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ là kết quả của những nỗ
lực phát huy tài năng và sự khéo léo của thương nhân nhằm thu hút khách hàng
để tiêu thụ hàng hóa mà mình sản xuất. Sự phát triển của mạng lưới tiêu thụ
hàng hóa hay cung ứng dịch vụ lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan (tình
hình kinh tế, xã hội của quốc gia và khu vực; thị hiếu và nhu cầu của người tiêu
dùng, thời điểm kinh doanh, tốc độ đô thị hóa, điều kiện tự nhiên, môi trường...)
cũng như yếu tố chủ quan (sự nhạy bén, chính sách maketing, uy tín và thương
hiệu....) [8, tr.168]
Tên thương mại là tên dùng trong giao dịch của thương nhân. Tên thương
mại là một yếu tố của sản nghiệp thương mại và có thể chuyển nhượng. Ở các
nước có nền kinh tế thương mại phát triển, có một số tên thương mại được định