Định giá tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp - Pdf 58

Phân tích các quy định về định giá tài sản góp vốn thành
lập doanh nghiệp
BÀI LÀM
Góp vốn để thành lập doạnh nghiệp là một trong những điều đầu tiền
cần làm khi muốn thành lập lập một doạnh nghiệp. Vấn đề ở đây là nhiều
người tham gia góp vốn bằng tài sản khác những tài sản thông dụng để góp
vốn. Do đó, cần phải có những quy định cụ thể thể về vấn đề định giá các tài
khác một cách cụ thể.
Trong Luật doanh nghiệp 2005, Điều 30 quy định về định giá tài sản
góp vốn:
“Điều 30. Định giá tài sản góp vốn
1. Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,
vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên
nghiệp định giá.
2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ
đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định
giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ
đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực
tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.
3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp
vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.
Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn
phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn
được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn
hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng
liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
1
công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản
góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”
Tại khoản 1 điều này, ta có thể thấy rằng tài sản góp vốn bằng tiền Việt

viên hay cổ đông) nên không thể đặt ra trách nhiệm liên đới. Hơn nữa, hiểu
theo cách này sẽ loại bỏ trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật, trong
khi việc định giá do người góp vốn và người đại diện theo pháp luật thỏa
thuận. Vì vậy, tôi thấy cần phải sửa đổi cho hợp lý hơn.
Ngoài quy định về giá tài sản góp vốn tại Điều 30 Luật doanh nghiệp,
Tại Điều 5 nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều của Luật doanh nghiệp.
“Điều 5. Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền
liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống
cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu
trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có
quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Bộ Tài chính hướng dẫn việc định
giá góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.”
Quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề cũng còn khá mới tại Việt Nam, Các
quyền sở hữu trí tuệ cũng có giá trị kinh tế nhất định. Thường thi các sản
phẩm liên quan đến trị tuệ sẽ được định giá thông qua thương lượng giữa các
bên, khó có thể định giá cụ thể vì tài sản trí tuệ liên quan đến trí sáng tạo, chất
xám không có giá trị cụ thể.
Ngoài ra, cơ sở Pháp lý để xác định, thẩm định giá tài sản góp vốn cần
dựa vào các Nghị định, Thông tư của Bộ tài chính liên quan đến việc thẩm
định, xác định giá. Điển hình như Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày
3/8/2005 về Thẩm định giá; Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 3/8/2005 về thẩm định giá;
Quyết định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc ban hành 03 tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (đợt 1); Quyết định
3
số 77/2005/QĐ-BTC ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc ban hành 03 tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (đợt 2)…
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status