Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGÔ VĂN GIANG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Phí Mạnh Hồng

1.2. Quyền SHTT trong nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế
15
1.2.1. Ảnh hưởng của quyền SHTT đến hoạt động thương mại
15
1.2.2. Ảnh hưởng của quyền SHTT đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và
chuyển giao công nghệ

16
1.2.3. Quyền SHTT và phát triển kinh tế
18
1.2.4. Quyền SHTT và thu nhập
19
1.2.5. Quyền SHTT và phát triển văn hoá
20
1.2.6. Quyền SHTT và toàn cầu hoá
21
1.3. Bảo hộ quyền SHTT theo các công ƣớc quốc tế và Hiệp định TRIPs
22
1.3.1. Bảo hộ quyền SHTT theo các công ước quốc tế
22
1.3.2. Bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPs
24
1.3.2.1. Bối cảnh ra đời của Hiệp định TRIPs
24
1.3.2.2. Nội dung cơ bản của Hiệp định TRIPs
26
1.3. Những cơ hội và thách thức đối với các nƣớc đang phát triển
liên quan đến bảo hộ quyền SHTT trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế


62
2.3.1. Những bất cập
62
2.3.1.1. Về nội dung chính sách, quy định pháp luật
62
2.3.1.2. Về hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật
65
2.3.2. Những vấn đề đặt ra
73
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ BẢO HỘ QUYỀN
SHTT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

78
3.1. Quan điểm
78
3.1.1. Bảo hộ quyền SHTT cần được thắt chặt theo hướng đáp ứng các
tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là Hiệp định TRIPs
78
3.1.2. Đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp
luật về bảo hộ quyền SHTT
79
3.1.3. Thắt chặt bảo hộ quyền SHTT đi đôi với việc thực hiện các
chính sách, biện pháp nhằm tạo dễ dàng cho việc tận dụng có hiệu
quả những cơ hội và lợi ích được tạo ra từ bảo hộ quyền SHTT 80 iii v
MỤC LỤC CÁC HỘP Trang
Hộp 1.1. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
10
Hộp 1.2. Một số công ước tiêu biểu về SHTT
22
Hộp 2.1. Tình hình sử dụng bất hợp pháp phần mềm máy tính
55
Hộp 2.2. Yếu kém của hệ thống các quy định pháp luật về SHTT
69
Hộp 2.3. Sự thiếu hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan thực
thi pháp luật về bảo hộ quyền SHTT

70 iv
MỤC LỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1. Đăng ký sáng chế giai đoạn 1995-2005
47

WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WIPO
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
NT
Đối xử quốc gia
MFN
Đối xử tối huệ quốc
PATENT
Bằng sáng chế
DSB
Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (thuộc Tổ chức Thương mại
Thế giới)
1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu của Đề tài
Có thể nói lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển của tri thức;
nền văn minh ngày nay là thành quả của quá trình tích luỹ và kế thừa tri thức qua
các thời đại. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới càng ngày càng ý thức được giá
trị và tầm quan trọng của các sản phẩm do trí tuệ con người tạo ra, vì vậy đã
không ngừng nỗ lực khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo vệ thành quả
của nó bằng nhiều biện pháp. Bảo hộ quyền SHTT có hiệu quả không chỉ bảo vệ
lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nhằm thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu sáng
tạo, sản xuất, kinh doanh, mà còn góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh

đặt ra các câu hỏi là: “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của hệ
thống bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam? Trong bối cảnh hội nhập, làm thế nào để
hệ thống bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam vừa đáp ứng được những chuẩn mực
của các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt là Hiệp định TRIPs của
WTO, kích thích các động lực của kinh tế thị trường, đồng thời vừa đảm bảo lợi
ích quốc gia, đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước?”
Đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên là một việc làm hết sức cần thiết
và cấp bách. Đề tài nghiên cứu “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” sẽ cố
gắng đi tìm câu trả lời ấy.
2. Tình hình nghiên cứu
- Nghiên cứu ngoài nước
Đối với thế giới, vấn đề bảo hộ quyền SHTT là không mới, đặt biệt ở
những nước có nền kinh tế thị trường sớm phát triển thì hệ thống bảo hộ quyền
SHTT đã được hình thành từ cách đây hàng trăm năm. Vì vậy, đã có vô số các
công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả nước ngoài đề cập đến vấn đề
này. Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, khi xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và
phát triển kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ, đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề

3
bảo hộ quyền SHTT gắn với xu hướng này. Dưới đây là một số luận điểm nghiên
cứu tiêu biểu.
Siebeck (1990)
1
, sau khi soát xét một loạt công trình nghiên cứu về bảo hộ
quyền SHTT ở các nước đang phát triển, cho rằng việc bảo hộ quyền SHTT đem
lại lợi ích cho các nước đang phát triển, nhất là về việc tạo lập vốn, thu hút FDI
và thúc đẩy R&D, tuy nhiên rất khó đo lường những lợi ích này. Trong khi đó,
việc bảo hộ quyền SHTT lỏng lẻo sẽ làm nản lòng các công ty đa quốc gia trong
việc đầu tư và chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển. Sargant
(1999)

4
Matthijs Geuze (2004), The TRIPs Agreement and criteria for
effective enforcement, International Intellectual Property
Alliance Paper, October.

4
sáu tiêu chuẩn để thực thi có hiệu quả Hiệp định TRIPs, bao gồm: (1) các thủ tục
thực thi cho phép chống lại một cách có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền
SHTT; (2) các biện pháp chế tài khẩn cấp để ngăn ngừa các hành vi xâm phạm;
(3) các biện pháp chế tài răn đe không để những hành vi xâm phạm tiếp diễn xảy
ra; (4) các thủ tục thực thi không quá phức tạp một cách bất hợp lý; (5) các thủ
tục thực thi không quá tốn kém một cách bất hợp lý; và (6) giới hạn thời gian
không gây chậm trễ quá mức hoặc không quá ngắn một cách bất hợp lý.
Tóm lại, các nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến sự cần thiết, các nguyên
tắc, các tiêu chuẩn và các biện pháp để thực thi có hiệu quả bảo hộ quyền SHTT
trên phạm vi quốc tế hoặc ở các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, Việt Nam đang ở
bối cảnh rất khác biệt (nền kinh tế đang phát triển, đang chuyển đổi và đang hội
nhập). Hơn nữa, các tác giả cũng chưa chỉ ra được những nước đang phát triển
cần phải làm gì để có thể khai thác tốt những ngoại lệ của Hiệp định TRIPs để
phục vụ các mục tiêu phát triển. Vì vậy, những nghiên cứu trên chỉ có thể được
tham khảo ở trong chừng mực nhất định để giải quyết các vấn đề thực tiễn ở Việt
Nam.
- Nghiên cứu trong nước
Đối với Việt Nam, vấn đề bảo hộ quyền SHTT là tương đối mới, thực tế
mới nổi lên trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây khi các điều kiện kinh tế thị
trường của Việt Nam ngày càng phát triển và quá trình hội nhập diễn ra ngày
càng sâu rộng, trong đó đáng chú ý là quá trình Việt Nam tích cực đàm phán gia
nhập WTO. Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu
về vấn đề này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách và các bài
viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của bảo hộ quyền SHTT. Trong số

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát
triển, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

6
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu
chủ yếu của Đề tài là:
+ Thứ nhất, hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền SHTT trong
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
+ Thứ hai, phân tích thực trạng bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam.
+ Thứ ba, đề xuất những quan điểm và giải pháp về bảo hộ quyền SHTT ở
Việt Nam trong thời gian tới, có nhấn mạnh tới hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu của nền kinh tế Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Các đối tượng của quyền SHTT: Đề tài sẽ đề cập đến tất cả các đối
tượng, bao gồm: quyền tác giả (bản quyền); quyền sở hữu công nghiệp; và quyền
đối với giống cây trồng.
+ Khía cạnh thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động bảo hộ quyền
SHTT ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay.
+ Liên quan đến Hiệp định TRIPs: Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội
dung và quy định quan trọng đóng vai trò là những “chuẩn mực” mà hệ thống bảo hộ
quyền SHTT của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải đáp ứng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện Đề tài, trên nền tảng chung phương pháp biện chứng duy vật,
tác giả chú trọng đến các phương pháp truyền thống như phân tích, tổng hợp và
so sánh. Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn, tham khảo ý kiến của một số
chuyên gia tại các cuộc hội thảo khoa học, từ các bài giảng và trên các phương

trong thời gian tới: Nêu ra những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả và hiệu lực của hệ thống bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam, đặc biệt là gắn với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. 8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN SHTT TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1. Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền SHTT
1.1.1. Khái niệm quyền SHTT
Cho đến nay, “quyền SHTT” vẫn còn là một khái niệm pháp lý khá mơ hồ
đối với nhiều người, song mức độ sử dụng thuật ngữ này đang ngày càng gia tăng
cùng với sự lan tỏa nhanh chóng của các vấn đề liên quan đến quyền SHTT. Diễn
giải một cách đơn giản nhất, quyền SHTT là quyền sở hữu đối với các tài sản trí
tuệ. Với cách hiểu như vậy thì, ở đây, tài sản trí tuệ được coi là yếu tố cơ bản
hình thành quyền SHTT. Vì vậy, để hiểu rõ khái niệm “quyền SHTT”, trước tiên
cần tìm hiểu khái niệm và các đặc trưng của “tài sản trí tuệ”.
Theo khái niệm được thừa nhận rộng khắp, tài sản trí tuệ là những thành
quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo thể hiện thành
những mẩu thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau trong các vật thể hữu hình xuất
hiện trong cùng một thời gian với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa
điểm khác nhau trên thế giới và được thừa nhận là tài sản. Quyền sở hữu trong
trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao mà chính là
những thông tin chứa đựng trong các bản sao đó
5
. Khi được thể chế hoá thì
những mẩu thông tin này biểu hiện cụ thể thành các đối tượng của quyền SHTT
như: tác phẩm văn học nghệ thuật, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương

Quyền tác giả là quyền duy nhất do chính phủ trao cho tác giả của tác phẩm để
ngăn cản việc in sao, sửa đổi, hoặc phân phối tác phẩm, trình diễn hoặc trình bày
tác phẩm đó mà không được sự đồng ý của tác giả. Nhà nước bảo hộ quyền tác
giả thông qua hệ thống pháp luật- xác lập quyền của chủ thể (có thể là tổ chức
hoặc cá nhân) đối với đối tượng quyền tác giả tương ứng và bảo vệ quyền đó

6
Cần lưu ý sự bảo hộ chỉ áp dụng đối với sự thể hiện các ý tưởng dưới dạng hữu hình chứ
không áp dụng sự bảo hộ đối với chính ý tưởng đó. Thí dụ, khi một tác giả bộc lộ ý tưởng của
mình là làm thế nào để chế tạo được một máy thu radio trong một bài báo đăng trên một tạp
chí, thì tác giả được hưởng “bản quyền” đối với bài báo đó và như vậy không ai được phép sao
chụp bài báo đó mà không được sự đồng ý của tác giả, song tác giả sẽ không có quyền ngăn
cản người khác sử dụng ý tưởng đó để tạo ra một chiếc radio như được mô tả trong bài báo của
tác giả.

10
chống lại bất cứ sự xâm phạm nào của phía thứ ba. Các tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học được bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng của chúng.
- Quyền liên quan: Đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được mã hóa. Đây là các cá nhân, tổ chức không phải là người trực tiếp
sáng tạo ra tác phẩm gốc, nhưng lại có sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm,
hoặc chuyển tác phẩm đến với công chúng. Ở các nước, quyền liên quan từ lâu đã
được đưa vào luật quyền tác giả. Đối với Việt Nam, quyền liên quan là một lĩnh
vực tương đối mới.
(2) Quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật SHTT 2005, quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Bản chất của

xác định một loại hàng hóa hay dịch vụ do một cá nhân hay công ty cụ thể sản xuất hoặc
cung cấp. Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa
nhau. Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký theo Luật
Nhãn hiệu hàng hóa thì mới có thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được ra hạn.
Hiện nay, số đơn đăng ký và số giấy chứng nhận đăng bạ nhãn hiệu hàng hóa ngày càng
tăng ở từng nước, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong
những năm gần đây, hàng năm trên thế giới có từ 600 đến 700 nghìn nhãn hiệu được
cấp giấy chứng nhận đăng ký.
- Chỉ dẫn địa lý: Chỉ dẫn địa lý là khái niệm rộng hơn tên gọi xuất xứ hàng hoá,
bao gồm cả dấu hiệu, biểu tượng hình ảnh, dùng để chỉ về một khu vực địa lý, nơi hàng
hoá xuất xứ có “đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác” chủ
yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên.
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn: Là cấu trúc không gian của các phần tử
mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.
- Tên thương mại: Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh
doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác
trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Nguồn: Luật SHTT 2005 và một số nguồn khác.
12
(3) Quyền đối với giống cây trồng
Giống cây trồng và vật liệu nhân giống đã trở thành đối tượng của quyền
SHTT được bảo vệ theo Công ước về bảo vệ giống cây trồng năm 1961. Theo
Luật SHTT 2005, quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc
được hưởng quyền sở hữu.
1.1.2. Nhu cầu khách quan của việc bảo hộ quyền SHTT
Nhìn từ quan điểm triết học, có ba quan điểm khác nhau về “sở hữu trí

sử dụng tài sản trí tuệ của người này không làm nó “hao mòn” đi, do đó không
làm giảm đi khả năng sử dụng tài sản trí tuệ của người khác). Nó cũng có tính phi
loại trừ trong tiêu dùng (một khi tài sản trí tuệ đã được công bố, người ta khó
ngăn cản người khác sử dụng nó). Giống như mọi hàng hóa công cộng khác, thị
trường không có khả năng phân bổ tối ưu phúc lợi xã hội liên quan đến việc sử
dụng tài sản trí tuệ. Tính phi cạnh tranh trong tiêu dùng đòi hỏi tài sản trí tuệ cần
được cung cấp cho mọi người một cách miễn phí vì lợi ích ròng xã hội sẽ tăng lên
khi càng có nhiều người có khả năng tiếp cận và sử dụng tài sản ấy. Việc cung
cấp miễn phí là trái ngược với các nguyên tắc thị trường. Tính phi loại trừ trong
tiêu dùng sẽ làm nảy sinh hiện tượng “kẻ ăn không”, những người không muốn
đầu tư để tạo ra hay bỏ tiền để mua tài sản trí tuệ nhưng lại muốn và hoàn toàn có
thể sử dụng tài sản ấy, miễn là đã có ai khác tạo ra và sử dụng nó. Tình trạng này
làm nản lòng mọi nhà đầu tư tư nhân. Những điều trên cho thấy cơ chế thị trường
đã thất bại trong việc xác lập và bảo hộ quyền SHTT. Việc Nhà nước đứng ra bảo
hộ quyền SHTT là một giải pháp sửa chữa thất bại thị trường gắn liền với tính phi
loại trừ, do đó, hiện tượng “kẻ ăn không” trong việc sử dụng tài sản trí tuệ. Tuy
nhiên, để đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa người chủ sở hữu và xã hội, Nhà nước
chỉ nên duy trì việc bảo hộ quyền SHTT trong một thời hạn thích hợp.
14
1.1.3. Đặc tính kinh tế của quyền SHTT
Xem xét từ khía cạnh kinh tế, quyền SHTT nhằm phân bổ một cách tối ưu
phúc lợi xã hội liên quan đến sử dụng tài sản trí tuệ. Để đạt đến mục đích này,
cần phải xem xét giải quyết hàng loạt vấn đề đặt ra. Thứ nhất, để tối đa hóa phúc
lợi xã hội, thời hạn hiệu lực của quyền SHTT nên là bao lâu? Thứ hai, có nên
phân biệt đối xử giữa các đối tượng của quyền SHTT (nhãn hiệu, bản quyền,
bằng sáng chế, bí mật kinh doanh…) và giữa các ngành công nghiệp hay không?
Thứ ba, nếu nên phân biệt thì phân biệt như thế nào? Phần dưới đây sẽ cố gắng

mềm
Thương hiệu
Sản phẩm có giá trị nhờ uy tín, và đầu vào có chất lượng cao
Bí mật kinh doanh
Tổ chức quản lý, tiếp thị
Vì sự khác biệt này, tùy chính sách phát triển công nghiệp, Nhà nước có
thể xác lập và bảo hộ không đồng đều các loại SHTT khác nhau, cũng như phân
biệt công nghệ mô phỏng và công nghệ sáng chế.
- Danh nghĩa và thực tế
Trên thực tế, cường độ của quyền SHTT tùy thuộc đặc tính của toàn bộ
nền kinh tế, kể cả đường lối và công cụ điều tiết của chính phủ. Thêm vào đó,
quyền SHTT tùy thuộc vào mức độ nhà nước chú trọng việc tôn trọng nó (có đủ
kiểm soát viên, công an, tòa án ). Nói cách khác, cường độ của một chế độ
quyền SHTT trên pháp lý có thể rất khác trên thực tế.
1.2. Quyền SHTT trong nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế
Quyền SHTT có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, việc xác định sự ảnh hưởng ấy là hết sức khó khăn do có nhiều biến
số khác nhau. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, phần
này trình bày ảnh hưởng của quyền SHTT đến một số lĩnh vực sau đây:
1.2.1. Ảnh hưởng của quyền SHTT đến hoạt động thương mại
Mối liên hệ giữa quyền SHTT và hoạt động thương mại là một chủ đề thu
hút nhiều sự chú ý. Những hạn chế trong bảo hộ quyền SHTT có thể bóp méo
nền thương mại của một quốc gia. Một quốc gia có hệ thống bảo hộ yếu (về bản
quyền) sẽ tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp sao chép bất hợp pháp băng đĩa, phần

16
mềm máy tính, v.v thay vì nhập khẩu các sản phẩm này với giá cao. Bên cạnh
đó, việc kiểm soát hoạt động buôn bán qua biên giới một cách lỏng lẻo sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu các mặt hàng xâm phạm quyền
SHTT và hàng giả. Nhà kinh doanh cũng có thể thay đổi phương án kinh doanh

Xét trên góc độ quyền SHTT, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, các sáng chế đã tạo
nên danh tiếng của công ty và là một phần không thể mất đi của công ty. Các
công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty 100% vốn của mình tại
những nước bảo hộ quyền SHTT mạnh. Đối với nhà đầu tư, ưu điểm của hình
thức này là có thể bảo hộ tốt bí mật công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa, còn nhược
điểm của nó là tốn kém, không tận dụng được hết các ưu thế mà địa phương đem
lại và quốc gia được đầu tư không học hỏi được kỹ năng quản lý cũng như cách
thức sản xuất của công ty đa quốc gia.
Quyền SHTT còn ảnh hưởng đến kênh chuyển giao công nghệ. Công nghệ
ở đây được phân loại thành loại dễ bắt chước và loại khó bắt chước. Loại công
nghệ dễ bắt chước thường gồm có công nghệ sao chép băng đĩa nhạc, sản xuất đồ
chơi, v.v Có nhiều lý do dẫn đến hiện tượng bắt chước công nghệ, chẳng hạn,
đối với các công ty nhỏ, việc bắt chước công nghệ nhằm phục vụ cho sản xuất
kinh doanh, còn đối với các công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh, việc nghiên cứu
công nghệ của đối phương sẽ giúp họ khắc phục những nhược điểm của công
nghệ hiện đang sử dụng và phát minh ra những công nghệ mới. Loại công nghệ
khó bắt chước thường được sử dụng trong lĩnh vực dược phẩm và phần mềm máy
tính. Việc bắt chước công nghệ sẽ giúp các chuyên gia trong ngành giảm bớt chi
phí trong việc phát hiện và tạo ra những loại thuốc mới và nhanh chóng tung ra
thị trường các sản phẩm cạnh tranh tương tự, thậm chí có thể là những sản phẩm
ưu việt hơn. Nhìn chung, các sản phẩm máy móc, thiết bị y tế thường khó bắt
chước. Tuy nhiên, dù tinh vi và phức tạp đến mức nào, tất cả các sản phẩm đều
hàm chứa rủi ro bị lộ bí mật công nghệ, hay bị bắt chước. Chính vì vậy, các nhà
đầu tư phải cân nhắc khá nhiều vấn đề khi tiến hành chuyển giao công nghệ. Việc

18
thắt chặt bảo hộ quyền SHTT có thể hạn chế việc sao chép, làm giả sản phẩm và
tăng chi phí bắt chước. Bất kỳ quốc gia nào xây dựng được một hệ thống bảo hộ
quyền SHTT mạnh sẽ có điều kiện tiếp nhận các công nghệ tiên tiến phục vụ cho
việc phát triển đất nước. Ngược lại, các quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền SHTT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status