Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở việt nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGÔ VĂN GIANG

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:
60 31 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Phí Mạnh Hồng

Hà Nội -2007

i


MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN
SHTT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG VÀ HỘI NHẬP
QUỐC TẾ



1.2.3. Quyền SHTT và phát triển kinh tế

18

1.2.4. Quyền SHTT và thu nhập

19

1.2.5. Quyền SHTT và phát triển văn hoá

20

1.2.6. Quyền SHTT và toàn cầu hoá

21

1.3. Bảo hộ quyền SHTT theo các công ƣớc quốc tế và Hiệp định TRIPs

22

1.3.1. Bảo hộ quyền SHTT theo các công ước quốc tế

22

1.3.2. Bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPs

24

1.3.2.1. Bối cảnh ra đời của Hiệp định TRIPs

2.1.2. Chính sách, pháp luật liên quan đến thực thi quyền SHTT

43

2.2. Tình hình thực thi bảo hộ quyền SHTT

46

2.2.1. Đăng ký xác lập quyền SHTT

46

2.2.1.1. Đối với quyền sở hữu công nghiệp

46

2.2.1.2. Đối với quyền tác giả

52

2.2.2. Tình xâm phạm quyền SHTT

53

2.2.3. Tình hình xử lý xâm phạm quyền SHTT

59

2.3. Đánh giá khái quát về thực hiện bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam



tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là Hiệp định TRIPs
3.1.2. Đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp

79

luật về bảo hộ quyền SHTT
3.1.3. Thắt chặt bảo hộ quyền SHTT đi đôi với việc thực hiện các
chính sách, biện pháp nhằm tạo dễ dàng cho việc tận dụng có hiệu
quả những cơ hội và lợi ích được tạo ra từ bảo hộ quyền SHTT

iii

80


3.1.4. Gắn vấn đề bảo hộ quyền SHTT với việc bảo vệ lợi ích quốc gia,
phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

82

3.2. Các giải pháp

83

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hộ quyền
SHTT theo hướng tuân thủ các quy định của Hiệp định TRIPs

83


iv


LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của Đề tài
Có thể nói lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển của tri thức;
nền văn minh ngày nay là thành quả của quá trình tích luỹ và kế thừa tri thức qua
các thời đại. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới càng ngày càng ý thức được giá
trị và tầm quan trọng của các sản phẩm do trí tuệ con người tạo ra, vì vậy đã
không ngừng nỗ lực khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo vệ thành quả
của nó bằng nhiều biện pháp. Bảo hộ quyền SHTT có hiệu quả không chỉ bảo vệ
lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nhằm thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu sáng
tạo, sản xuất, kinh doanh, mà còn góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho toàn xã hội. Đối với mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế, bảo
hộ quyền SHTT không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển nội tại, mà còn phải tuân thủ
các chuẩn mực nêu trong các điều ước quốc tế về SHTT mà quốc gia ấy tham gia.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và hướng tới kinh tế tri thức. Vấn đề bảo
hộ quyền SHTT được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội ngày
càng quan tâm. Bảo hộ quyền SHTT được coi là một nội dung quan trọng của
chính sách đổi mới, mở cửa, phát triển kinh tế tri thức và xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN. Xem xét bối cảnh của Việt Nam hiện nay, có thể nhận thấy
nổi lên một số vấn đề đáng chú ý sau đây:
- Thứ nhất, qua 20 năm đổi mới, hệ thống bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam
đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Trên thực tế, tuy bảo hộ quyền
SHTT đã được thắt chặt hơn, song vẫn còn rất lỏng lẻo. Việt Nam hiện bị coi là
một trong những quốc gia có mức độ xâm phạm quyền SHTT cao trên thế giới.
- Thứ hai, Việt Nam đang phát triển mạnh nền kinh tế thị trường và ngày
càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, điển hình là việc gia nhập WTO
vào tháng 11/2006. Trong khuôn khổ WTO, hệ thống bảo hộ quyền SHTT của

này. Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, khi xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và
phát triển kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ, đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề

vi


bảo hộ quyền SHTT gắn với xu hướng này. Dưới đây là một số luận điểm nghiên
cứu tiêu biểu.
Siebeck (1990)1, sau khi soát xét một loạt công trình nghiên cứu về bảo hộ
quyền SHTT ở các nước đang phát triển, cho rằng việc bảo hộ quyền SHTT đem
lại lợi ích cho các nước đang phát triển, nhất là về việc tạo lập vốn, thu hút FDI
và thúc đẩy R&D, tuy nhiên rất khó đo lường những lợi ích này. Trong khi đó,
việc bảo hộ quyền SHTT lỏng lẻo sẽ làm nản lòng các công ty đa quốc gia trong
việc đầu tư và chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển. Sargant
(1999)2 đã chỉ ra sự cần thiết phải có một hệ thống thực thi bảo hộ quyền SHTT
vận hành tốt. Ông cho rằng một hệ thống như vậy sẽ khuyến khích các hoạt động
sáng tạo, đổi mới khoa học kỹ thuật, khuyến khích các hoạt động đầu tư và
chuyển giao công nghệ,... qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
của các quốc gia. Tiến sỹ Stauder (1998)3 đã bổ sung thêm các nguyên tắc để
thực thi có hiệu quả hệ thống bảo hộ quyền SHTT. Ông cho rằng việc thực thi
các quy định pháp luật về bảo hộ quyền SHTT phải đảm bảo những nguyên tắc
cơ bản như: rõ ràng, minh bạch, bình đẳng, công bằng, khả thi,...; trên phạm vi
quốc tế thì phải đảm bảo các nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), đối xử tối huệ
quốc (MFN), tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu,... Ông cũng nhấn mạnh rằng, các quốc
gia cần phải có các cơ quan thực thi pháp luật hoạt động có hiệu quả để bảo hộ
quyền SHTT. Liên quan đến Hiệp định TRIPs, tác giả Geuze (2004)4 đã chỉ ra
sáu tiêu chuẩn để thực thi có hiệu quả Hiệp định TRIPs, bao gồm: (1) các thủ tục
thực thi cho phép chống lại một cách có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền
SHTT; (2) các biện pháp chế tài khẩn cấp để ngăn ngừa các hành vi xâm phạm;
1

mới nổi lên trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây khi các điều kiện kinh tế thị
trường của Việt Nam ngày càng phát triển và quá trình hội nhập diễn ra ngày
càng sâu rộng, trong đó đáng chú ý là quá trình Việt Nam tích cực đàm phán gia
nhập WTO. Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu
về vấn đề này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách và các bài
viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của bảo hộ quyền SHTT. Trong số
đó, phải kể đến hai cuốn sách sau đây: (1) Bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam:
những vấn đề lý luận và thực tiễn do PGS. TS. Lê Hồng Hạnh và ThS. Đinh Thị
Mai Phương đồng chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2004); và (2) Đổi mới và
hoàn thiện pháp luật về SHTT của TS. LS. Lê Xuân Thảo (NXB Tư pháp, 2005).
Hai cuốn sách này đã nghiên cứu khá sâu về hệ thống bảo hộ quyền SHTT ở Việt
Nam từ giữa những năm 1990 cho đến đầu những năm 2000. Cuốn thứ nhất đã đề
cập đến vai trò và vị trí của pháp luật SHTT trong hệ thống pháp luật Việt Nam,

viii


thực trạng bảo hộ SHTT ở Việt Nam và nêu ra những triển vọng, thách thức và
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về SHTT. Cuốn thứ hai nghiên cứu
sâu về cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam, trong đó
tập trung vào các yếu tố như: hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh SHTT
và bảo hộ quyền SHTT; quan hệ pháp luật về bảo hộ quyền SHTT; và các hành
vi tuân thủ về bảo hộ quyền SHTT và các biện pháp đảm bảo thực hiện quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể. Cuốn sách cũng đề ra phương hướng đổi mới
và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ SHTT ở Việt Nam.
Tuy hai cuốn sách nêu trên đã nghiên cứu khá sâu về bảo hộ quyền SHTT
ở Việt Nam, nhưng mới chủ yếu đề cập đến khía cạnh pháp lý của quyền SHTT
mà ít chú ý đến khía cạnh kinh tế. Trong khi đó, bảo hộ quyền SHTT về cơ bản là
một vấn đề kinh tế. Hơn nữa, tại thời điểm nghiên cứu của hai cuốn sách, Việt
Nam chưa gia nhập WTO nên áp lực thực hiện Hiệp định TRIPs là chưa quá lớn.

+ Khía cạnh thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động bảo hộ quyền
SHTT ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay.
+ Liên quan đến Hiệp định TRIPs: Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội
dung và quy định quan trọng đóng vai trò là những “chuẩn mực” mà hệ thống bảo hộ
quyền SHTT của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải đáp ứng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện Đề tài, trên nền tảng chung phương pháp biện chứng duy vật,
tác giả chú trọng đến các phương pháp truyền thống như phân tích, tổng hợp và
so sánh. Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn, tham khảo ý kiến của một số
chuyên gia tại các cuộc hội thảo khoa học, từ các bài giảng và trên các phương
tiện thông tin đại chúng.
6. Những đóng góp mới của Luận văn
- Làm rõ những khía cạnh kinh tế của bảo hộ quyền SHTT và những cơ hội
cũng như thách thức đặt ra đối với các nước đang phát triển khi thực hiện các
điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt là Hiệp định TRIPs, trong quá
trình hội nhập.

x


- Phân tích và đánh giá thực trạng về bảo hộ quyền SHTT ở nước ta trong
những năm vừa qua (về thiết lập tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT, về các hành vi
xâm phạm quyền SHTT, về xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT, tác động
của bảo hộ quyền SHTT đến phát triển kinh tế - xã hội...).
- Chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong việc thực hiện bảo hộ
quyền SHTT khi đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, các quan điểm và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của bảo hộ quyền SHTT, trong đó chú ý đến
việc khai thác các quy định linh hoạt và các ngoại lệ của Hiệp định TRIPs nhằm
phục vụ các mục tiêu phát triển.
7. Bố cục của Luận văn

cần tìm hiểu khái niệm và các đặc trưng của “tài sản trí tuệ”.
Theo khái niệm được thừa nhận rộng khắp, tài sản trí tuệ là những thành
quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo thể hiện thành
những mẩu thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau trong các vật thể hữu hình xuất
hiện trong cùng một thời gian với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa
điểm khác nhau trên thế giới và được thừa nhận là tài sản. Quyền sở hữu trong
trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao mà chính là
những thông tin chứa đựng trong các bản sao đó5. Khi được thể chế hoá thì những
mẩu thông tin này biểu hiện cụ thể thành các đối tượng của quyền SHTT như: tác
phẩm văn học nghệ thuật, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh, giống cây trồng mới, v.v...
Tài sản trí tuệ là loại tài sản đặc biệt, có nhiều thuộc tính đặc thù, và những
thuộc tính này ảnh hưởng đến tính chất của quyền SHTT. Một điểm đáng chú ý là
5

Lê Xuân Thảo (2005), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về SHTT, NXB Tư pháp Hà Nội.
xii


tài sản trí tuệ có tính chất của một hàng hoá công cộng toàn cầu. Nó có tính phi
cạnh tranh và phi loại trừ trong sử dụng. Điều này khiến cho quyền SHTT phải
được quyết định bởi nhà nước, chứ không phải thị trường, để sửa chữa thất bại
của thị trường. Khi tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ, thì người nắm giữ tài sản
đó có một số quyền nhất định đối với tài sản của mình, đó chính là quyền SHTT;
và cũng từ đó tài sản trí tuệ mới trở thành một loại tài sản quan trọng có giá trị.
Như vậy, quyền SHTT là quyền mà nhà nước dành cho các cá nhân, tổ chức là
chủ sở hữu tài sản trí tuệ sự kiểm soát độc quyền trong một thời gian nhất định
nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bất hợp pháp. Theo Luật

trình được mã hóa. Đây là các cá nhân, tổ chức không phải là người trực tiếp
sáng tạo ra tác phẩm gốc, nhưng lại có sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm,
hoặc chuyển tác phẩm đến với công chúng. Ở các nước, quyền liên quan từ lâu đã
được đưa vào luật quyền tác giả. Đối với Việt Nam, quyền liên quan là một lĩnh
vực tương đối mới.
(2) Quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật SHTT 2005, quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Bản chất của
quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo, chống lại việc
khai thác bất hợp pháp ở quy mô công nghiệp. Các đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp được trình bày trong Hộp 1.1.
Hộp 1.1. Đối tƣợng quyền sở hữu công nghiệp
- Bằng sáng chế (patent). Bằng sáng chế là một quyền theo luật định mà chính phủ ban
cho nhà sáng chế trong một thời hạn xác định để ngăn ngừa các đối tượng khác sản
xuất, sử dụng hoặc bán sản phẩm được bảo hộ theo bằng sáng chế hoặc sử dụng phương
pháp hoặc quy trình đang được bảo hộ. Có thể nói rằng bằng sáng chế là hợp đồng giữa
một bên là toàn thể xã hội và một bên là nhà sáng chế7. Theo các điều khoản của hợp
đồng này, nhà sáng chế được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sử
dụng và bán một sáng chế đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời gian nhất
định để đổi lại việc nhà sáng chế phải công bố chi tiết sáng chế của mình cho công
chúng. Bằng sáng chế không được cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp

7

Thomas G. Field (2006), What is intellectual property?.
xiv



12.Ngân hàng thế giới (1998), Tri thức cho phát triển- Báo cáo về tình hình
phát triển thế giới, NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội.
13.Ngân hàng Thế giới (2004), Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14.Nhiều tác giả (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Từ điển Bách khoa, Hà
Nội.
15.Nguyễn Thanh Tâm (2003), “Tính thương mại của quyền sở hữu công
nghiệp”, Tạp chí Thương mại, số 45.
16.Tham gia WTO, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam xét trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ, Tài liệu được trình bày tại Diễn đàn Việt Nam sẵn sàng gia
nhập WTO, 3- 4 /6/2003.
17.Lê Xuân Thảo (2005), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ,
XNB Tư pháp, Hà Nội.
2. Tìm hiểu Luật Sở hữu trí tuệ (2006), NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội.
18.Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2004), Tìm hiểu Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19.Phạm Văn Vận và Vũ Cương (chủ biên) (2005), Giáo trình Kinh tế công
cộng, XNB Thống kê, Hà Nội.
20. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2000), Nền kinh tế tri
thức: nhận thức và hành động, NXB Thống kê, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh
1. Carlos M. Correa (2000), Intellectual Property Rights, the WTO and
Developing Countries: The TRIPs Agreement and Policy Options, Zed
Books Ltd., London and New York.
2. David Paul A. (1993), “Intellectual Property Institutions and the Panda’s
Thumb”, in Global Demensions of Intellectual Property Rights in Science
and Technology, Washington: National Academy Press.

xvi


xvii




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status