Báo cáo " Báo cáo chuyên đề 301 và chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chính phủ Hoa Kỳ " pot - Pdf 11

Tìm hiểu hệ thống pháp luật Hoa Kỳ 44 tạp chí luật học số 12/2010
ThS. Kiều Thị Thanh *
rong thi i ngy nay, bo h quyn s
hu trớ tu cú ý ngha quan trng trong
phỏt trin kinh t-thng mi ca hu ht
cỏc quc gia, c bit cỏc nc phỏt trin
trỡnh cao nh Hoa K, c, Nht Bn,
Canada L nn kinh t ln nht vi cỏc
sn phm bo h s hu trớ tu c tiờu
th hay s dng khp ton cu, vn bo
h s hu trớ tu cng tr nờn thit yu hn
bao gi ht i vi cỏc doanh nghip v nn
kinh t Hoa K. Nhn thc rừ tớnh trng yu
ca vn ny, c bit trong bi cnh ton
cu hoỏ kinh t v t do hoỏ thng mi
trờn phm vi ton th gii vi thp k gn
õy, Hoa K l nc i u trong tin trỡnh
m phỏn v son tho Hip nh v cỏc
khớa cnh liờn quan n thng mi ca
quyn s hu trớ tu (Hip nh TRIPs)
xung quanh Vũng m phỏn Uruguay 1986
- 1994 v vic thnh lp T chc thng

Chun lut Hoa K s 19 v thu hi quan
(the U.S Code Title 19 - Customs Duties).
Phự hp vi quy nh ny, C quan USTR
cú nhim v thc hin v cụng b cỏc bỏo
cỏo chuyờn hng nm v vn bo h s
hu trớ tu cỏc quc gia cú quan h thng
mi vi Hoa K (Special 301 Reports) ni
ó khụng bo h hoc bo h mt cỏch
khụng tng xng cho hng hoỏ c bo
h quyn s hu trớ tu ca cỏc doanh nhõn
hay doanh nghip Hoa K.
T

* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 45

Phần tiếp theo của bài viết trình bày khái
quát chính sách phát triển kinh tế-thương
mại của Chính phủ Hoa Kỳ thông qua việc
thực thi Điều 301 Đạo luật thương mại năm
1974, Điều 1303 Đạo luật cạnh tranh và
thương mại thống nhất năm 1988 hay Điều
2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải
quan nói trên của Cơ quan USTR. Ở phần
cuối cùng, bài viết đề cập một số điểm cơ
bản thể hiện trong các báo cáo chuyên đề

đối tác thương mại nước ngoài được xem là
không công bằng, bất hợp lí hoặc có sự phân
biệt đối xử dẫn tới sự cản trở hoặc hạn chế
thương mại Hoa Kỳ.
(5)

Thủ tục điều tra quy định tại Điều 301
nói trên khi được áp dụng toàn bộ bao gồm
sáu bước sau đây:
1) Khởi xuất việc điều tra trên cơ sở
khiếu nại của bên có lợi ích liên quan hoặc
theo sáng kiến của chính Cơ quan USTR;
2) Công bố khởi xuất điều tra trong danh
bạ lưu trữ quốc gia (federal register);
3) Nếu việc điều tra được tiến hành trên
cơ sở khiếu nại của bên có lợi ích liên quan
thì Cơ quan USTR có trách nhiệm thu thập ý
kiến và tổ chức trình bày công khai về việc
điều tra khi được bên này yêu cầu;
4) Đề xuất yêu cầu thương lượng, điều
đình với chính phủ quốc gia đối tác thương
mại nước ngoài về việc điều tra;
5) Tuân thủ quy trình giải quyết tranh
chấp theo thoả thuận hoặc công ước quốc tế
có liên quan, bao gồm các hiệp định thương
mại trong khuôn khổ hoạt động của WTO,
nếu vụ việc liên quan đến vi phạm cam kết
thể hiện trong thoả thuận hoặc công ước
quốc tế đó của chính phủ quốc gia đối tác
thương mại nước ngoài;

Ví dụ, khi ban
giải quyết tranh chấp của WTO (WTO
dispute settlement panel) thông qua quy trình
và thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các
quốc gia thành viên có liên quan, đã ra báo
cáo hay phán quyết rằng hành động, chính
sách hay thực tiễn thương mại đó ở quốc gia
nước ngoài không vi phạm hay không phủ
nhận những quyền lợi mà Hoa Kỳ có được
theo hiệp định thương mại của WTO.
(9)

Bên cạnh trường hợp bắt buộc phải áp
dụng biện pháp trả đũa nêu trên, Cơ quan
USTR có quyền lựa chọn hay quyết định
biện pháp trả đũa khả thi trong phạm vi luật
định (discretionary action) áp dụng khi
quốc gia đối tác thương mại nước ngoài
được xem là đã thực hiện hành động cụ thể,
có chính sách hoặc duy trì thực tiễn thương
mại bất hợp lí hay có sự phân biệt đối xử
gây cản trở hoặc hạn chế thương mại Hoa
Kỳ.
(10)
Ví dụ, phủ nhận các cơ hội mang tính
công bằng và bình đẳng trong việc thành
lập các doanh nghiệp.
(11)

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá vào thị

thống Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập
(The General System of Preferences),
(15)

theo Đạo luật phát triển kinh tế khu vực
lòng chảo Caribbean (The Caribbean Basin
Economic Recovery Act),
(16)
hay theo Đạo
luật ưu đãi thương mại Andean (The
Andean Trade Preference Act).
(17)
Tương tự,
Cơ quan USTR có thể áp dụng biện pháp
hạn chế, ngăn ngừa hoặc từ chối hoạt động
của các nhà cung cấp dịch vụ tương ứng từ
quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó ở
thị trường Hoa Kỳ.
(18)
Trong khi đó, họ có
nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm các giải pháp
thương thuyết, điều đình với quốc gia đối tác
thương mại nước ngoài nhằm tiến tới loại trừ
hay chấm dứt các hành động, chính sách
hoặc thực tiễn ảnh hưởng đến thương mại
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 47


hoá được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của
các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa
Kỳ.
(21)
Phù hợp với quy định này, hàng năm
Cơ quan USTR phải công bố các báo cáo
xác định quốc gia đối tác thương mại nước
ngoài nào được xem là “nước lưu tâm hàng
đầu” (priority foreign countries) hay là
“nước lưu tâm xem xét” (watch list foreign
countries) trên cơ sở điều tra chính sách hay
pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở quốc
gia đó có mang tính cân xứng và hiệu quả
hoặc có thể hiện sự bảo hộ cân bằng và hợp
lí đối với hàng hoá-dịch vụ được bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nhân hay
doanh nghiệp Hoa Kỳ khi tiếp cận thị trường
nội địa của họ hay không. Các thủ tục tiến
hành điều tra và các yêu cầu khác cũng như
việc thực hiện biện pháp trả đũa thương mại
nhìn chung tuân theo Điều 301 Đạo luật
thương mại năm 1974 nhưng biện pháp trả
đũa chỉ áp dụng đối với quốc gia đối tác
thương mại nước ngoài được xem là “nước
lưu tâm hàng đầu”.
Theo mối quan hệ về thời gian như trên,
các báo cáo chuyên đề 301 về sở hữu trí tuệ
(gọi tắt là báo cáo chuyên đề 301) chỉ có thể
bắt đầu được thực hiện từ năm 1989. Tính
đến nay (2010), đã có 22 báo cáo này được

Japan, Spain, European Union Trong thực
tế, điều này có ảnh hưởng quyết định đến
việc Hiệp định TRIPs về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ của WTO được kí kết vào năm
1994 cùng với Hiệp định thành lập WTO.
Nhiều ấn phẩm của các học giả trên thế
giới, ở cả nước phát triển và đang phát
triển, bao gồm các học giả Hoa Kỳ, phản
ánh và bình luận về kết quả này của Vòng
đàm phán Uruguay.
(22)

Song song với việc tạo ra và chịu đựng
nhiều điều tiếng trong công luận quốc tế, đặc
biệt trong nhiều năm đầu thực hiện các báo
cáo chuyên đề 301, khó có thể phủ nhận
được rằng việc làm này của Chính phủ Hoa
Kỳ nói chung và Cơ quan USTR nói riêng đã
phản ánh phần nào đặc tính dễ vi phạm của
hàng hoá và dịch vụ được bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ, cũng như đã phản ánh phần nào
tình trạng lan rộng “toàn cầu” của các vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó,
các báo cáo này đã góp phần kiến tạo các
luật bảo hộ sở hữu trí tuệ, góp phần tạo dựng
môi trường sản xuất-kinh doanh lành mạnh
từ đó bảo vệ chất xám trong sáng tạo và phí
tổn trong đầu tư, bảo vệ các nhà sản xuất-
kinh doanh chân chính, cũng như bảo vệ lợi
ích của người tiêu dùng trước tình trạng

nhiều lợi ích khác của người sử dụng hay
người tiêu dùng.
(25)
Đây là điều thường
xuyên được nhắc tới trong các báo cáo
chuyên đề 301, theo đó hàng hoá-sản phẩm
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có phạm vi
ngày càng gia tăng không dừng lại ở những
loại hàng có tác động tiêu cực tới sức khoẻ,
tính mạng người sử dụng như các loại thuốc
chữa bệnh, các sản phẩm làm đẹp hay chăm
sóc sức khoẻ khác, các loại thực phẩm, rượu
bia, các loại nước giải khát… mà còn mở
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 49

rộng đến nhiều loại sản phẩm khác đòi hỏi
các tiêu chuẩn kĩ thuật phức tạp và độ an
toàn cao như các bộ phận, chi tiết, thiết bị,
phụ tùng sử dụng trong các ngành sản xuất,
lắp ráp ô tô và máy bay, các loại hoá chất,
các loại pin dùng trong máy tính và trong
nhiều sản phẩm điện tử khác…
Như vậy, mặc dù duy trì và phát triển
kinh tế-thương mại Hoa Kỳ phải là điều đầu
tiên được hướng tới trong các báo cáo
chuyên đề 301, lợi ích chính đáng của nhà
sản xuất-kinh doanh chân chính, của người

xuất-kinh doanh chân chính mà còn gây tổn
hại hoặc tiềm ẩn khả năng gây tổn hại đến
sức khoẻ, tính mạng và các giá trị khác mà
người tiêu dùng hướng tới khi mua bán hoặc
sử dụng hàng hoá-sản phẩm đó. Vì lí do này,
các báo cáo chuyên đề 301 trong thực tế còn
phản ánh yêu cầu thiết thực của Chính phủ
Hoa Kỳ trong quan hệ kinh tế-thương mại
với các quốc gia đối tác thương mại nước
ngoài trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp chung,
cùng nhau hợp tác đấu tranh ngăn ngừa có
hiệu quả các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
trong phạm vi toàn cầu. Điều này trong thực
tế đã được phản ánh phần nào thông qua
hiệu lực của Hiệp định TRIPs của WTO với
các tiêu chuẩn chung kèm theo nhiều điều
khoản mềm dẻo liên quan đến tính đảm bảo
ghi nhận, tính có phạm vi và tính đảm bảo
cho việc sử dụng quyền cũng như việc thực
thi các quyền sở hữu trí tuệ thông qua các
thủ tục dân sự, hành chính, hình sự và biện
pháp kiểm soát hàng hoá xuất-nhập khẩu qua
biên giới thực hiện bởi cơ quan hải quan.
Mỗi nhà sản xuất-kinh doanh chân chính và
mỗi người tiêu dùng ở bất kì quốc gia thành
viên nào của WTO đều có quyền được
hưởng lợi từ các tiêu chuẩn chung đó./.

(1). Sau hơn 10 năm thành lập và chính thức đi vào
hoạt động, số lượng các quốc gia thành viên WTO

(9).Xem: Jean Heilman Grier, Tlđd.
(10).Xem: Điều 2411 (b) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19
đã dẫn.
(11).Xem: Jean Heilman Grier, Tlđd.
(12).Xem: Điều 2411 (c) (1) (A) Chuẩn luật Hoa Kỳ
số 19 đã dẫn.
(13).Xem: Điều 2411 (c) (1) (B) Chuẩn luật Hoa Kỳ
số 19 đã dẫn.
(14).Xem: Điều 2411 (c) (1) (C) Chuẩn luật Hoa Kỳ
số 19 đã dẫn; Jean Heilman Grier, Tlđd.
(15). Chi tiết cụ thể về chế độ thuế quan ưu đãi phổ
cập của Hoa Kỳ cũng như chế độ này được áp dụng
cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
Hoa Kỳ, xem: Võ Thanh Thu, Nguyễn Cương, Đoàn
Thị Hồng Vân, Hỏi đáp về Hiệp định thương mại
Việt-Mỹ, Nxb. Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh,
2001, tr. 15 - 20.
(16). Các ưu đãi thương mại theo Đạo luật này được
áp dụng với các quốc gia thuộc khu vực lòng chảo
Caribean như Costa Rica, El Salvado, Haiti, Jamaca,
Trinidad và Tobago, v.v
(17). Đạo luật này quy định chế độ miễn thuế nhập
khẩu dành cho nhiều mặt hàng đến bốn quốc gia là

Bolivia, Columbia, Ecuador và Peru.
(18).Xem: Điều 2411 (c) (2) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19
đã dẫn.
(19).Xem: Điều 2411 (c) (1) (D) Chuẩn luật Hoa Kỳ
số 19 đã dẫn.
(20). Toàn bộ các báo cáo chuyên đề 301 trong bài

Capitalism: The Political Economy of the TRIPs
Agreement, M E Sharpe, London, 2004.
(23).Xem: Michael Blakeney, Tlđd.
(24). Global Intellectual Property Center, Creative
Economy is under attack: Time to act, 28/06/2010,
nguồn: www.theglobalipcenter.com, ngày 14/09/2010.
(25). Chú thích số 24 đã dẫn.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status