1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỒNG THỊ HẰNG
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH VỀ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH Y TẾ THEO HƯỚNG
ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ CHỦ CHO CÁC TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
3. Phạm vi nghiên cứu 8
4. Mẫu khảo sát 8
5. Vấn đề nghiên cứu 8
6. Giả thuyết nghiên cứu 9
7. Phƣơng pháp chứng minh 9
8. Kết cấu của Luận văn 9
CHƢƠNG 1. 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH 10
CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH Y TẾ 10
1.1. Một số khái niệm 10
1.1.1. Khái niệm y tế 10
1.1.2. Vai trò của y tế 11
1.2. Chính sách tài chính về khoa học và công nghệ trong ngành y tế 14
1.2.1. Vai trò của khoa học và công nghệ trong ngành y tế 14
1.2.2. Những đặc điểm của nghiên cứu khoa học chi phối hoạt động tài chính 20
1.2.3. Yêu cầu chính sách tài chính về khoa học và công nghệ trong ngành y tế 21
1.2.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách tài chính cho hoạt động khoa học và công
CỦA TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG NGÀNH Y TẾ 65
3.1. Chi ngân sách nhà nƣớc theo hƣớng tập trung, trọng điểm, có hiệu quả trong việc thực
hiện 65
3.2. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tƣ về khoa học và công nghệ trong ngành y tế 66
3.2.1. Tăng cƣờng nguồn lực đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc cho phát triển khoa học và
công nghệ 66
3.2.2. Huy động và đa dạng hóa nguồn lực đầu tƣ 68
3.2.3. Hoàn thiện các quy định trong huy động, quản lý và sử dụng các quỹ phát triển
khoa học và công nghệ 69
3.2.4. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách
nhà nƣớc đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ 70
3.2.5. Các giải pháp khác 70
3.3. Hoàn thiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực tài chính cho các tổ chức
nghiên cứu khoa học và công nghệ ngành y tế 74
3.3.1. Đổi mới cơ chế phân bổ kinh phí cho khoa học và công nghệ 74
3.3.2. Phân cấp quản lý kinh phí cho khoa học và công nghệ 74
3.3.3. Hình thành các quỹ khoa học và công nghệ 76
3.3.4. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý kinh phí cho khoa học và công nghệ
76
3.4. Những điều kiện để các tổ chức nghiên cứu trong các bệnh viện có thể tự chủ về tài
chính 78
3.4.1. Khắc phục những bất cập hiện tại 78
3.4.2. Thực hiện xã hội hóa việc chăm sóc sức khỏe 79
3.4.3. Phát huy nội lực của các bệnh viện 82
3.4.4. Xây dựng bệnh viện hƣớng về “khách hàng” 83
3.4.5. Thay đổi phƣơng thức chi 83
Tiểu kết chƣơng 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1. KẾT LUẬN 85
2. KHUYẾN NGHỊ 86
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghệ thông tin là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật to lớn
của thế giới, đã và đang giúp thay đổi toàn diện và hiệu quả tất cả mọi lĩnh
vực khoa học, kỹ thuật, chính trị, quân sự và đời sống… trong đó có lĩnh vực
y tế. Chăm sóc sức khỏe nhân dân theo định hướng công bằng, hiệu quả là
mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình phát
triển sự nghiệp y tế. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công
nghệ là rất cần thiết, ngành y tế cũng đã nghiên cứu và thành công rất nhiều
đề tài có tính ứng dụng cao tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu như mong
muốn để phục vụ sức khỏe nhân dân. Nghiên cứu khoa học là hoạt động cần
thiết để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn, ứng dụng tiến bộ khoa
học, kỹ thuật mới vào chẩn đoán, cấp cứu, điều trị nhằm nâng cao chất lượng
chăm sóc người bệnh.
Trong quản lý tài chính lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ đối
với các cơ sở y tế kể từ khi có Luật ngân sách nhà nước(1996) cũng đã có
những bước tiến vượt bậc. Chính phủ đã có cam kết cải cách quản lý tài chính là
một phần trong chương trình Cải cách tổng thể nền hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2010 theo tinh thần của Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17
tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ. Định hướng này đã được cụ thể
hóa bằng Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 quy định chế độ tài
chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và sau này là Nghị định 43/2006-
sở vật chất, trang thiết bị lạc hậu, xuống cấp đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng
công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình hình
trên là do việc đầu tư kinh phí để phát triển sự nghiệp y tế còn thấp, mặc dù
Đảng và Nhà nước những năm qua cũng đã có nhiều chính sách khuyến khích
đầu tư cho ngành y tế nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.
Y tế có một vai trò quan trọng trong hệ thống phát triển kinh tế-xã hội, do đó
đầu tư cho yế là một tất yếu, nguồn vốn đầu tư cho y tế chủ yếu là nguồn vốn
ngân sách nhà nước và nguồn vốn của các tầng líp dân cư.
8
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề :"Đổi mới chính sách tài chính về khoa
học và công nghệ trong ngành y tế theo hướng đảm bảo quyền tự chủ cho các tổ
chức nghiên cứu." có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn bởi ngành y tế
là một ngành khoa học, một khoa học có vai trò, nhiệm vụ đặc biệt cao cả, đó
là chăm sóc sức khoẻ cho con người - mục tiêu và động lực của quá trình phát
triển; Quá trình phát triển do chính con người thực hiện và nhằm mục đích
nâng cao chất lượng đời sống con người. Vì vậy việc nghiên cứu phát triển
cũng như ứng dụng các thành tự mới về KH&CN trong lĩnh vực Y tế cần
được hết sức coi trọng.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá những thành tựu, những bất cập và những nguyên nhân của
những bất cập quản lý tài chính trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công
nghệ trong ngành y tế.
Đề xuất một số giải pháp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học trong ngành
y tế hướng tới thực hiện mục tiêu tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu khoa học
của ngành y tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản, có ý nghĩa then chốt nhất
trong huy động và sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực nghiên cứu
khoa học ngành y tế.
Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chính sách tài chính về khoa học và công nghệ
trong ngành y tế.
Chương 2: Thực trạng chính sách tài chính về khoa học và công nghệ
trong ngành y tế.
Chương 3: Biện pháp đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
lĩnh vực tài chính cho tổ chức nghiên cứu học khoa học. 10
CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH Y TẾ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm y tế
Y tế là hoạt động phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe con người
như: các hoạt động khám và điều trị bệnh tật, các hoạt động phòng bệnh, điều
dưỡng, chăm sóc sức khỏe và thẩm mỹ của con người.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực y tế của Việt
Nam, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức y tế hay sức khỏe là gì.
Khi nói đến sức khỏe nhiều người, kể cả cán bộ y tế, nghĩ ngay đến việc
khám, phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh. Hoặc xa hơn, đó là dự phòng
bệnh tật, nghiên cứu khoa học. Nhưng yếu tố tinh thần và xã hội của sức khỏe
thì hình như chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Do vậy, các hoạt động và
phát triển của y tế Việt Nam, thực sự còn lúng túng, do thiếu một triết lý. [15]
Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO, 1947) định nghĩa “Sức khỏe là sự vẹn
toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật”.
1
Có
quá tải. Những kết luận đó không hẳn sai, nhưng trong thực tế thì không bao
giờ cho đủ số lượng bác sĩ theo nhu cầu, chứ chưa kể chất lượng bác sĩ, lại
còn phải hòa nhập với khu vực, quốc tế. Nhưng chúng ta ít quan tâm đến cái
gốc xã hội của tình trạng quá tải, của thiếu giường bệnh. [15]
1.1.2. Vai trò của y tế
- Vai trò của y tế trước tiên được thể hiện trong việc nâng cao sức khỏe
con người, điều này có tác động rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội.
+ Khi chúng ta xây dựng mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” thì con người là chủ thể, là yếu tố quyết định sự
thành, bại. Song để thực hiện được vai trò của mình trong sự nghiệp đó trước
hết con người phải có sức khỏe. Nếu một xã hội với nhiều bệnh hoạn, dân
chúng yếu ớt thì các mục tiêu phát triển của quốc gia cũng không có cơ hội để
thực hiện được. Bởi vậy, trong luật bảo vệ sức khỏe nhân dân của nước ta đã
nêu: “Sức khỏe là vốn quý nhất của con người là một trong những điều kiện
12
cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu cũng là nhân tố quan trọng
việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc”
+ Bên cạnh đó, hoạt động y tế còn làm cho dân số và sức lao động xã
hội được kéo dài, yếu tố dùng chức năng riêng có của mình để thỏa mãn nhu
cầu một cơ thể khỏe mạnh, trưởng thành, cung cấp liên tục người lao động
cho các lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất. Thông qua việc phòng và chữa
bệnh cho người lao động, nâng cao năng xuất lao động, tăng thêm của cải cho
xã hội. [8]
+ Tác dụng của y tế không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế, nó còn
liên quan đến sự phồn vinh và hưng thịnh của một quốc gia hay một dân tộc.
Một dân tộc có một số lượng dân số ổn định, thích ứng với tài nguyên xã hội
và kinh tế là một điều kiện cần thiết để xã hội đó tồn tại và phát triển
+ Tiến bộ của y tế bản thân nó là sự phát triển kinh tế xã hội. Vì thế
Tuy nhiên, khác với các ngành kinh tế khác, ngành y tế không phải là
một ngành sản xuất kinh doanh làm ra của cải cho xã hội mà sản phẩm của
ngành y tế chính là phúc lợi xã hội, sức khỏe của con người. Mặc dù trong cơ
cấu hoạt động của ngành y tế có những bộ phận được gọi là sản xuất kinh
doanh như kinh doanh ngành dược, trang thiết bị y tế nhưng hoạt động thu
được từ hoạt động này lại được tái sản xuất, đầu tư cho ngành y tế để phục vụ
công tác chăm sóc sức khỏe con người. Các khoản thu được từ hoạt động sản
xuất kinh doanh trong ngành y tế chỉ nhằm duy trì hoạt động và bổ xung
nguồn lực cho ngành y tế trong khi các nguồn vốn khác còn đang ở mức hạn
chế. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong ngành y tế chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
trong cơ cấu hoạt động của ngành. Ngành y tế hoạt động không vì mục đích
sinh lời mà bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm nâng cao phúc lợi xã
hội, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Một điều đáng quan tâm cho các nhà lãnh đạo là ngành y tế không thể
tự mình tái sản xuất sản phẩm xã hội được bởi vì sản phẩm của ngành ytế
không phải là sản phẩm vật chất mà đó chính là sức khỏe của nhân dân, sức
khỏe của cộng đồng. Hoạt động của ngành y tế mang tính nhân đạo là chủ
yếu. Trong khi đó, bất kỳ một hoạt động nào cũng cần phải có một khối lượng
14
vốn đầu tư nhất định, dù nó được lấy từ đâu để duy trì hoạt động, tích lũy, tái
tạo và nâng cao sức lao động, khoa học kỹ thuật. Ngay cả các công tác từ
thiện như khám chữa bệnh miễn phí hoặc hỗ trợ một phần chi phí cho nhân
dân khi khám chữa bệnh cũng cần phải có một ngân quỹ nào đó đầu tư. Như
vậy, ngành y tế là ngành sử dụng ngân sách chứ không tạo ra vốn đầu tư cho
bản thân mình. Các cấp, các ngành lãnh đạo có liên quan phải thường xuyên
quan tâm, phối hợp với các ngành y tế để duy trì và ngày một nâng cao vai trò
xã hội của ngành. [16]
Như vậy, trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, ngành
y tế có một vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là người lính xung kích mở đường
với nhau ở bất cứ nơi đâu trên trái đất. Trong các doanh nghiệp, trường
học, bệnh viện…thì việc quản lý đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nhờ các
phần mềm quản lý do con người tạo ra. Cũng như trong y học thì việc khám
và chữa bệnh nhờ các kĩ thuật hiện đại đã thực sự không thể thiếu, nhờ có
nó mà một số căn bệnh trươc đây y học phải bó tay mà giờ đây đã trở nên
hết sức dễ dàng…
Ta có thể thấy vai trò không thể thiếu của các tri thức KH&CN trong
tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội hiện đại. Với sự phát triển của các lĩnh
vực đó thì nó càng thể hiện rõ được vai trò của nó. Tri thức KH&CN luôn
khẳng định được vai trò chủ đạo của nó với sự phát triển đi lên của các lĩnh
vực trong xã hội hiện đại ngày nay. Việc ứng dụng các thành tựu của khoa
học vào mục tiêu phát triển là một điều tất yếu không thể thiếu vì những gì
mà KH&CN đem lại là hết sức to lớn, góp phần cho sự phát triển nhanh
chóng và hiệu quả.
Cụ thể ta có thể thấy được hiệu quả của việc áp dụng CNTT vào lĩnh
vực Y tế như thế nào. Vai trò của CNTT với sự phát triển của ngành Y tế là
hết sức to lớn và cần thiết. CNTT đã dần trở thành một yếu tố không thể thiếu
trong sự nghiệp phát triển ngành Y tế của một quốc gia, nó nắm giữ một vai
trò chủ đạo.
CNTT đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời
sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày
càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách
16
hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ
đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong KCB
như chụp cắt lớp, mổ nội soi thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện
tử
Ta có thể thấy được những hiệu quả vô cùng to lớn mà Công nghệ
thông tin đem lại trong việc khám chữa bệnh ở các bệnh viện: “Hơn một năm
phải chờ đợi các thủ tục hành chính để rút các hồ sơ bệnh án như trước (kéo
dài gần 1 ngày); Việc ứng dụng CNTT cũng đã giúp phòng chức năng kiểm
tra được các thất thu về tài chính, làm giảm tỷ lệ thất thu trong toàn BV từ
trung bình >10 triệu đồng/tháng xuống còn < 1 triệu đồng/ tháng và làm
giảm 2/3 thời gian giải quyết thủ tục hành chính tạo điều kiện cho cho các
thầy thuốc có thêm thời gian chăm sóc bệnh nhân”
Trong công cuộc đổi mới của đất nước hơn 10 năm qua, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Chính phủ cho sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và sự phấn đấu vượt lên trên mọi gian
khó của đội ngũ cán bộ khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ, dược sỹ, điều
dưỡng, kỹ thuật viên trong ngành, Ngành Y tế Việt Nam đã giành được nhiều
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực phòng bệnh, chữa bệnh, các chỉ tiêu
tổng quát về sức khoẻ con người Việt Nam đã đạt đựơc mục tiêu đề ra. Trong
đó, khoa học và kỹ thuật công nghệ đã đóng góp vai trò quan trọng giải quyết
những vấn đề thiết thực, cấp bách về y tế và y học, góp phần to lớn nâng cao
chất lượng, hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
KH&CN thực sự là động lực phát triển Y tế và Y học Việt Nam.
Không chỉ vậy, việc áp dụng CNTT nói riêng, KH&CN nói chung đã
đạt được rất nhiều thành tựu to lớn cho nền Y học của Việt Nam:
- KH&CN đã góp phần tích cực để khống chế, đẩy lùi và từng bước
thanh toán một số dịch bệnh nguy hiểm ở Việt Nam trong 10 năm cuối thế kỷ
XX, giảm tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh như: sốt rét, tiêu chảy, nhiễm khuẩn
cấp tính đường hô hấp ở trẻ em, khống chế không để xảy ra các dịch bệnh lớn
ngay cả trong và sau thiên tai bão lụt lớn. Ví dụ như, về sốt rét năm 2000 so
với năm 1991 đã giảm chết hơn 96,8% và giảm mắc hơn 73,1% và duy trì kết
quả bền vững đến nay.
18
- Trong lĩnh vực khám chữa bệnh: “Ứng dụng nhiều kỹ thuật mới hiện
đại đã thiết thực nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Các kỹ thuật hiện đại
Các thiết bị và máy y tế về chẩn đoán hình ảnh ngày càng ứng dụng
nhiều hơn về công nghệ thông tin, các phần mềm cho các máy Y tế ngày càng
được nâng cấp, nhất là khi kỹ thuật số ra đời và phát triển đã ghi nhận và phân
tích tín hiệu rất tốt, cho hình ảnh sâu hơn, chất lượng ảnh tốt hơn.
Hơn nữa việc giao diện giữa các thiết bị và máy y tế kỹ thuật cao với hệ
thống máy tính dùng trong quản lý tại bệnh viện và giữa các bệnh viện với
nhau ngày một nhiều, nên các giao thức truyền ảnh trên mạng được dưa ra (có
một chuẩn chung thống nhất, chất lượng ảnh đủ để chẩn đoán, giảm nhẹ gánh
nặng đường truyền), tạo nên phòng “hội chẩn ảo" giữa các chuyên gia y tế ở
xa nhau.
Trong X quang việc ứng dụng CNTT cũng đã góp phần hiệu quả hơn
rất nhiều. Việc trợ giúp chẩn đoán, lưu trữ tư liệu và nghiên cứu hình ảnh X
quang là một trong những ứng dụng tin học phổ biến nhất trong các mạng
PACS và Telemedicine. Việc chuyển tín hiệu từ máy chụp X quang lên phòng
mổ Chấn thương chỉnh hình đã được nhiều nước áp dụng phổ biến, ở Việt
Nam một số cơ sở đã áp dụng phương pháp này, việc ứng dụng này đã cung
cấp cho phẫu thuật viên trong khi mổ có hình ảnh trực tiếp giúp cho việc mổ
được tiến hành hiệu quả hơn, tốt hơn. Có thể nói Việc ứng dụng CNTT trong
các thiết bị và máy y tế với các phần mềm chuyên dụng đã tạo ra bước phát
triển đột phá trong việc ghi hình ảnh có chất lượng cao các cơ quan bị bệnh
của cơ thể con người, giúp cho các chuyên gia y tế chẩn đoán bệnh khách
quan hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn nhiều. Với việc lưu trữ và
truyền ảnh giữa các khoa, phòng trong bệnh viện và giữa các bệnh viện với
nhau đã tạo ra phòng "Hội chẩn ảo", góp phần quan trọng vào việc sử dụng trí
tuệ tập thể, đặc biệt là trí tuệ của các chuyên gia y tế giỏi, chuyên gia đầu
ngành trong chẩn đoán và điều trị bệnh cho mọi người bệnh ở nhiều vùng đất
nước khác nhau, thậm chí giữa các nước khác nhau trên thế giới.
Do vậy, có thể thấy được vai trò vô cùng to lớn và cần thiết của CNTT
trong sự phát triển của ngành Y học. Đảng và nhà nước ta đã khẳng định phát
triển KH&CN cùng với sự phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
được đặt ra trong nghiên cứu.
21
+ Trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm không đủ đáp
ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết.
+ Sự hạn chế về năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu.
+ Đặt sai giả thuyết khoa học.
+ Những tác nhân bất khả kháng
Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn
chịu những rủi ro trong áp dụng, mặc dầu sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu
đã có thể đạt trình độ một "sáng chế" (nếu đạt đủ tiêu chí mới, trình độ sáng
tạo và khả năng áp dụng công nghiệp), một "hình mẫu". Hai trường hợp có
thể xảy ra:
- Thứ nhất, kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong
phạm vi mở rộng không thành công.
- Thứ hai, ngay cả khi thử nghiệm thành công thì vẫn không thể đi đến
quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó.
Chính vì vậy, hai đặc điểm này của nghiên cứu khoa học ảnh hưởng rất
lớn đến chính sách tài chính khi nghiên cứu khoa học. Tính mới và tính rủi ro
có thể làm cho mọi dự toán bị phá sản, làm cho không thể máy móc chi theo
tiến độ. Tính mới dẫn đến những khoản mục mới, không thể chi theo kế
hoạch các khoản mục. Không thể cố định một dự toán nghiên cứu khoa học,
bởi trong quá trình nghiên cứu khoa học phát sinh tính mới, chính sách tài
chính sẽ thay đổi. Tính rủi ro của nghiên cứu khoa học cũng có thể làm thay
đổi hoàn toàn chính sách tài chính. Do vậy, khi đưa ra các vướng mắc về
chính sách tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học thì trước tiên phải
nghiên cứu hai đặc tính quan trọng này của hoạt động nghiên cứu khoa học.
1.2.3. Yêu cầu chính sách tài chính về khoa học và công nghệ trong ngành
y tế
Chính sách tài chính thực chất chính là việc quản lý sử dụng kinh phí ở
thuận lợi phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một trong
những công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của
xã hội. Thông qua việc xác định cơ cấu tỷ trọng các khoản chi ở các đơn vị
mà Nhà nước tham gia điều chỉnh hướng dẫn đảm bảo các hoạt động y tế ở
23
các đơn vị sự nghiệp y tế đi đúng hướng theo đường lối của Đảng và Nhà
nước.
Từ đó ta có thể thấy vai trò chủ yếu của việc quản lý sử dụng kinh phí ở
các đơn vị sự nghiệp y tế. Song các vai trò này phát huy được hay không phụ
thuộc rất lớn vào công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng như hệ
thống quản lý ở các đơn vị sự nghiệp này.
Quản lý sử dụng kinh phí trong bệnh viện ở Việt Nam được hiểu là việc
quản lý toàn bộ các nguồn vốn (Vốn do NSNN cấp, vốn viện trợ, vốn vay và
các nguồn vốn khác), tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám
bệnh, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế phải đảm bảo các
yếu cầu sau:
- Nâng cao chất lượng kế hoạch hoá hoạt động của bệnh viện, kế hoạch
hoạt động chuyên môn phải gắn với kế hoạch đảm bảo vật chất, hậu cần, với
dự toán tài chính của bệnh viện, xác lập chính xác các ưu tiên trong điều kiện
các nguồn lực đầu tư luôn bị hạn chế.
- Đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên về chuyên môn của bệnh
viện, đồng thời tập trung kinh phí để từng bước giải quyết được những hoạt
động ưu tiên đã được xác lập trong kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của bệnh
viện.
- Quản lý chặt chẽ thu chi tài chính; thực hành tốt công tác kế toán,
phân tích hoạt động kinh tế; xác lập vai trò của công tác tài chính-kế toán là
công cụ đắc lực để quản lý kinh tế bệnh viện.
hưởng.
Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi
thường xuyên được nhìn nhận trên các giác độ sau:
Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết
phải xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt
của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao, quyết định cuối cùng
cho dự toán chi thường xuyên của NSNN thuộc về Quốc hội. Chỉ sau khi dự
toán chi đã được Quốc hội xét duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính
thức để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp. Do vậy, có thể
25
nói quyết định của Quốc hội về việc thông qua dự toán NSNN (trong đó có dự
toán chi NSNN) như là một trong những “Đạo luật” điều chỉnh đến hoạt động
của lĩnh vực này. Vì thế các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm
chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được
Quốc hội thông qua.
Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên, đơn vị sự
nghiệp y tế phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt, phân bổ và sử
dụng cho các khoản, các mục đó, phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã
quy định.
Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định các đơn vị sự
nghiệp y tế khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy
dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh. Muốn vậy, dự toán chi đã được xác lập
theo các chỉ tiêu nào, theo khoản, mục nào thì quyết toán chi cũng phải được
lập như vậy.
(ii) Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Có thể nói tiết kiệm và hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan
trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi một lẽ đơn giản rằng:
- Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn. Do vậy,
trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính