Bộ Giáo Dục Đào Tạo
Trường Đại học Phương Đông
Khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh
----------
.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
Đề tài: Vai trò của Khoa học và Công
nghệ trong nền Kinh tế Thế giới.
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Kim Ngọc
Nhóm sinh viên thực hiên : 4
Hà Nội, 3/2016
Thành viên trong nhóm 4:
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
514401211
514401212
514401214
514401216
514401218
514401221
514401224
514401228
514401229
514401235
514401237
514401244
514401251
MỤC LỤC
Phần mở đầu
Ngày nay, chúng ta đang được sống trong một xã hội hiện đại, tiện nghi. Mọi nhu
cầu của con người gần như đều được đáp ứng thậm chí là đáp ứng hơn cả mong đợi.
Tất cả những gì chúng ta có được đều nhờ các phát minh vĩ đại của khoa học công
nghệ ( giấy, máy vi tính, bóng điện, điện thoại, internet...). Nhờ vận dụng nhanh chóng
những thành tựu mới của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học... Cục diện hiện nay của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới đã có
sự thay đổi về căn bản trên quy mô toàn cầu. Trong những năm đầu của thế kỉ XXI,
nhiều nước đang tiến nhanh vào kỉ nguyên thông tin, trong đó nền tàng của sư tăng
trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của
khoa học công nghệ. Hiện này, khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, hàng đầu. Sức mạnh của mỗi quốc gia tùy thuộc phần lớn vào năng lực khoa
-
với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng.
Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ kinh tế giữa các nước hoặc các tổ chức kinh tế thế
giới, được nghiên cứu dưới góc độ nền kinh tế thế giới. Các quan hệ kinh tế quốc tế
gồm có:
+ Quan hệ thương mại quốc tế.
+ Quan hệ đầu tư quốc tế.
+ Quan hệ tài chính tiền tệ quốc tế.
+ Quan hệ chuyển giao hợp tác về khoa học công nghệ.
+ Liên kết và hội nhập.
Theo đà phát triển của Khoa học và công nghệ, với nhu cầu của con người ngày
càng đa dạng, các quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển về chiều rộng và chiều sâu. Trong
thực tế còn bao gồm hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ và nhiều hoạt
1.1.2
-
động quốc tế khác. Từ đó tạo nên cốt lõi và đánh dấu trình độ phát triển ngày càng cao.
Khoa học công nghệ.
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương
tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Như vậy công nghệ là việc phát
triển và ứng dụng các công cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải
-
quyết những vẫn đề của con người.
Khoa học là các nỗ lực thực hiện phát minh và tăng lượng tri thức hiểu biết của con
-
-
mở rộng và bước đầu hình thành một thị trường thế giới rộng lớn.
Lần 2 (1870 – 1913): Gây ra nhưng biến đổi trong các ngành điện lực, hóa chất, luyện
kim. Những thay đổi cơ bản trong buôn bán quốc tế tăng trưởng quá trình đầu tư quốc
tế, hình thành những quan hệ quốc tế ngày càng bền vững. Thời kỳ này cũng đánh dấu
-
sự xuất hiện của nền kinh tế thế giới như thực thế thống nhất.
Lần 3 (1913 – 1950): Làm xã hội phát triển nhanh chóng các ngành năng lượng hạt
nhân, hóa dầu, công nghệ vũ trụ và khai thác đáy đại dương, tin học, công nghệ sinh
học... làm gia tăng dòng đầu tư và buôn bán quốc tế, thúc đẩy sự phát triển của nền
-
kinh tế thế giới về vật chất – kỹ thuật lên một tầm cao mới.
Lần 4: Hiện nay chúng ta đang thực hiện Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, tập trung
phát triển ngành vi điện tử, tin học, thông tin viễn thông và tự động hóa, năng lướng
mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học. Từ đó biến đổi cơ cấu kinh tế của các quốc gia,
đưa xã hội loài người sang một nền văn minh mới.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ.
1.3.1 Nhân tố con người.
Nhân tố con người là điều kiện quyết định trong sự nghiệp phát triển khoa học
công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ vào nền kinh tế các nước. Con người là chủ
thể sáng tạo ra khoa học công nghệ, đến lượt khoa học công nghệ lại trở thành phương
tiện công cụ và đồng thời cũng là cơ sở để con người vươn lên hoàn thiện mình về mọi
và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kì quan trọng. Yêu cầu bảo toàn vốn được thể
hiện trước hết ở công tác tổ chức tài trính có ý nghĩa là phải lựa chọn các phương án
tối ưu trong tạo nguồn tài chính.
Chương 2. Vai trò của khoa học công nghệ trong nền kinh
tế thế giới.
2.1 Vai trò của khoa học công nghệ trong nền kinh tế thế giới.
Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa – xã hội... là những lĩnh vực
vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của mỗi đất nước chứ không riêng gì
đất nước Việt nam ta thì khoa học công nghệ luôn được xác định giữu vai trò then chốt
trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, đó là một lĩnh vực mà có mối liên hệ mật thiết và bổ trợ cho sự phát triển của
7
các lĩnh vực khác. Trên toàn giới và đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta đang
trong quá trình hội nhập quốc tế thì khoa học công nghệ ngày càng phát triển
Thứ nhất:
Khoa học công nghệ góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, khả
năng đó thể hiện một cách chung nhất là số lượng sản phẩm mà một nền kinh tế có thể
cung ứng cho thị trường. Nếu là một nền kinh tế lạc hậu với trình độ khoa học công
nghệ thấp kém thì chắc chắn khả năng sản xuất của nền kinh tế đó rất thấp. Khoa học
công nghệ có thể nối dài khả năng của con người trong việc chiếm lĩnh tự nhiên, thì
trình độ khoa học công nghệ cao đến đâu thì khả năn sản xuất của nền kinh tế sẽ tăng
tới đó. Dưới tác động của khoa học công nghệ:
-
Các nguồn lực của sản xuất sẽ được mở rộng, điều này có thể thấy rõ dưới tác động
của khoa học công nghệ, con người có thể mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và
động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đưa đến sự phân chia các ngành thành nhiều
ngành nhỏ hơn, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó là thay đổi
cơ cấu, vị trí giữa các ngành hay thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng:
-
Tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần, của ngành nông
-
nghiệp giảm dần.
Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng
mạnh, quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao. Vai trò của
lao động trí tuệ trong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng và trở thành đặc
trưng phát triển khoa học công nghệ.
Lấy ví dụ ngay trong ngành công nghiệp của Việt Nam khi có yếu tố khoa học
công nghệ cao tác động. Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể,
hình thành một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với
nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ khá hiện đại. Đến năm 2000, công nghiệp khai thác
chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất toàn ngành, trong đó khai thác dầu khí chếm
11,2%, công nghiệp chế tác chiếm 79%, trong đó công nghiệp sản xuất thực phẩm
chiếm khoảng 23,6% công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước, chiếm
khoảng 6% trong đó công nghiệp điện chiếm 5,4%.
Thứ ba:
Sự phát triển của khoa học công nghệ góp phần làm tăng sức cạnh tranh của hàng
hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường. Điều này thể hiện rõ nét trong các hoạt
động của các doanh nghiệp trong kinh tế hàng hóa, mục tiêu cuối cùng của các doanh
nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Muốn vậy, họ phải tìm đến những mặt hàng có nhu cầu
lớn, tối thiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến
hình thức mẫu mã hàng hóa, có thể nói rằng mục tiêu trên chỉ thực hiện được khi áp
dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
tộc, đặc điểm tôn giáo, đặc điểm văn hóa... là một yếu tố của các yếu tố sản xuất,
Trong đó, khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng nhất, nó quyết định sự thay đổi
năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Những phát minh, sáng chế mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao
động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng,
góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện đại.
Có thể thấy rằng khoa học công nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mới mà
còn tạo ra phương pháp sản xuất mới. Điều này mở ra khả năng về kết quả sản xuất và
tăng năng suất lao động. Kinh tế học hiện đại phân tích đóng góp của các nguồn lực
tào tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cho rằng, khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng
nhất hiện nay. Phần đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng kinh tế ở các
nước phát triển đã đạt 60-70%, còn ở các nước đang phát triển ở mức 30-40%. Sự phát
triển của khoa học công nghệ còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, từ quá
trình tăng trưởng về mọi mặt nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, có cả sự tăng
trưởng về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội. Khoa học công nghệ
không chỉ là thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một nước mà còn trở
thành công cụ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi
trường sinh thái.
10
2.2 Thành tựu đạt được khi áp dụng khoa học công nghệ ở trên thế giới.
Những thành tựu chính sách của cuộc cách mạng khoa học công nghệ tập trung
vào 3 lĩnh vực mũi nhọn sau đây:
-
Công nghệ thông tin.
Thành tựu khoa học kỹ thuật về điện tử và tin học với các con chíp vi xử ly, kỹ
thuật laser tạo ra “trung tâm thần kinh” cho các hoạt động thu thập, xử lý thông tin, tạo
hợp tác để xây dựng hệ thống lưới điện năng lượng tái tạo. Hệ thống này sẽ kết nối các
turbine ở ngoài bờ biển Scotland với các tấm thu năng lượng. Mặt trời lớn ở Đức, kết
nối năng lượng tạo ra từ những con sóng đổ vào bờ biển Đan Mạch và Bỉ với các đặp
11
thủy điện Na Uy. Một công nghệ cung cấp lượng điện năng khổng lồ và đặc biệt là nó
rất “xanh”.
-
Công nghệ sinh học.
Trên cơ sở phát triển của sinh học phân tử, di chuyển học phân tử, công nghệ
sinh học bao gồm công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ
enzyme... cho phép con người làm chủ và điều khiển được một số quy trình sinh học
đối với các vật thể sống, đồng thời tạo ra các chế phẩm mới, các giống vật nuôi có
những đặc tính tốt phục vụ cho lợi ích của con người.
Ví dụ: Tháng 3 năm 1997 cừu Đô ly sinh ra bằng phương pháp sinh sản vô tính.
•
Tháng 4 năm 2003 công bố “Bản đồ gen người”, tương lai sẽ chữa được những bệnh
nan y.
12
•
Cuộc Cách mạng xanh trong nông nghiệp diễn ra vào những năm 60 và 70 của thế kỷ
văn hóa Việt Nam; khẳng định chủ quyền quốc gia đối với các quần đảo Hoàng Sa và
toàn vẹn lãnh thể của Việt Nam.
Chúng ta có quyền tự hào về nền toán học, vật lý của Việt Nam đã đạt được thứ
hạng cao trong khu vực, với các nhà khoa học trẻ tài năng như Giáo Sư Ngô Bảo
Châu, Đàm Thanh Sơn, Vũ Hà Văn đã tạo tiền đề để hình thành một số lĩnh vực khoa
học công nghệ mới về vũ trụ, hạt nhân... Chúng ta đã tiếp cận trình độ các nước trong
khu vực về công nghệ nano, tế bào gốc, giải mã gen cây trồng, vật nuôi và giải mã bộ
gen người. Trong các lĩnh vực kinh tế: Việt Nam đã tự xây dựng nhà máy thủy điện
Sơn La 2400MW lớn nhất Đông Nam Á, trong đó có thiết bị cơ khí thủy công và thiết
bị nâng hạ 1200 tấn; Việt Nam là 1 trong 3 nước ở Châu Á và 1 trong 10 nưới trên thế
giới làm chủ thiết kế và chế tạo giàn khoan dầu khí tự nâng 90m nước, 120m nước...
14
Ngành công nghiệp công nghệ thông tin và viễn thông phát triển vượt bậc với
việc chúng ta đang chuẩn bị sản xuất vi mạch điện tử, thị trường viễn thông Việt Nam
đã được xếp thứ 13 Châu  về cả quy mô và tốc độ phát triển trên 3 linh vực: cố định,
di động và Internet, sản phẩm phần mềm của BKAV được sử dụng ở 106 quốc gia, sản
phẩm của Tosy được trình diễn ở nhiều triển lãm công nghệ quốc tế. Việt Nam đã đưa
lên quỹ đạo các vệ tinh viễn thông Vinasat1 và Vinasat2, vệ tinh viễn thám
VNREDSAT và đã chế tạo thành công vệ tinh siêu nhỏ Pico. Chúng ta cũng đã làm
chủ công nghệ tiên tiến trong thiết kế, thi công các công trình giao thông, xây dựng có
trình độ công nghệ cao: cầu bê tông hẫng khẩu độ trên 150m, cầu dây văng nhịp lớn,
cầu Pá Uôn trụ cao gần 100m.
Các kết quả nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đã đóng góp tới
30% giá trị gia tăng trong nông nghiệp, Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu thế giới
về năng suất và sản lượng xuất khẩu lúa gạo, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cá tra, hải sản...
Việt Nam là quốc gia tự nghiên cứu, sản xuất được nhiều loại vắc xin phòng các bệnh
hiểm nghèo và tiêm chủng mở rộng, mới đây là vắc xin Rotavin; đã thành công trong
tư vấn, giám định, định giá tài sản trí tuệ và công tác quản lý chất lượng sản phẩm
hàng hóa được tăng cường. Các chợ công nghệ và thiết bị Techmart, hoạt động trình
diễn, kết nối cung cầu công nghệ đã được triển khai, hoạt động hỗ trợ sáng kiến của
người dân được quan tâm.
Thứ năm:
Hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ được đẩy mạnh. Đến nay, Việt Nam đã
có quan hệ hợp tác về khoa học công nghệ với trên 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng
lãnh thể, là thành viên của 100 tổ chức quốc tế và khu vực về khoa học công nghệ; Bộ
khoa học công nghệ có bộ phận đại diện ở 12 nước có trình độ phát triển cao; đã có
16
hơn 80 hiệp định, thỏa thuận hợp tác khoa học công nghệ cấp Chính phủ và cấp Bộ đã
được ký kết và đang thực hiện. Mới đây ngày 6/5/2014 Việt Nam đã ký chính thức
Hiệp định hợp tác hạt nhân dân sự (Hiệp định 123) với Hoa Kỳ góp phần nâng cao
năng lực ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, phục vụ chương trình
điện hạt nhân của Việt Nam.
Chương 3. Những xu hướng phát triển khoa học công nghệ
toàn cầu, cơ hội, thách thức và các giải pháp nhằm phát
triển khoa học công nghệ ở Việt Nam.
3.1 Những xu hướng phát triển khoa học công nghệ toàn cầu.
Một là, xu hướng liên kết, hợp tác và phân công lao động quốc tế trong nghiên
cứu khoa học công nghệ ngày càng tăng.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, để tận dụng các cơ hội, hạn chế các tác động
tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nươc, đặc biệt là các nước
đang phát triển phải tăng cường liên kết, hợp tác về khoa học công nghệ với các nước
khác. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học công nghệ cho phép các chủ thể, các
quốc gia khai thác được các thành quả nghiên cứu ới về khoa học công nghệ của thế
dẫn các bài báo khoa học nói chúng (15,8%).
Công nghệ sinh học giúp đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội bền
vững như giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, sản xuất năng lượn
sạch...
Công nghệ nano có tác động lớn tới kinh tế và xã hội ở các quốc gia. Nó giúp thu
nhỏ các thiết bị công nghệ thông tin, phát triển nghiên cứu bộ gen và góp phần sản
sinh năng lượng tái tạo.
Ba là, xu hướng gia tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ trên thế giới.
18
Đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ tạo ra sản phẩm và công nghệ mới, từ đó góp
phần vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia và doanh nghiệp. Các nguồn đầu tư
cho khoa học công nghệ trên thế giới chủ yếu là từ Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ
chức khác.
Theo Trung tâm thông tin khoa học công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công
nghệ: Tổng lượng đầu tư cho khoa học công nghệ trên thế giới tăng gấp đôi trong hơn
10 năm qua, tăng trưởng nhanh hơn so với tổng sản lượng kinh tế toàn cầu. Chỉ số cam
kết đầu tư cho khoa học công nghẹ tăng từ khoảng 525 tỷ USD năm 1996 lên khoảng
1.100 tỷ USD năm 2007.
Mỹ là một nước dẫn đàu trên thế giới trong đầu tư khoa học công nghệ. Năm
2007, Mỹ đầu tư 369 tỷ USD cho phát triển khoa học công nghệ, đồng thời lượng đầu
tư này đều được gia tăng qua các năm.
Đầu tư nghiên cứu phát triển từ ngân sách liên bang cho các tổ chức nghiên cứu
công của Mỹ ( Xem bảng dưới đây). Số liệu trong bảng cho thấy, trong giai đoạn
2003-2007, đầu tư vào khoa học công nghệ từ ngân sách liên bang của Mỹ gia tăng
liên tục qua các năm. Nếu năm 2003 nguồn đầu tư là 118,1 tỷ USD thì năm 200 con số
này là 13 tỷ USD. ở Trung Quốc, trong giai đoạn 1995-2003, tốc độ tăng đầu tư cho
nghiên cứu và phát triển hàng năm đạt con số 20%. Theo sau là Singapore với tốc độ
hoạt đông về đầu tư, thương mại, dịch vụ, di chuyển nhân lực quốc tế... nên đã hình
thành nên xu hướng tự do hóa các hoạt động nêu trên. Theo xu hướng này, các nguồn
lực và công nghệ của các quốc gia, chủ thể, doanh nghiệp sẽ vượt ra khỏi biên giới của
một quốc gia, lưu thông, dịch chuyển trên quy mô quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của các hoạt động công nghệ toàn cầu.
Trong xu hướng tự do hóa hoạt động khoa học công nghệ, các công ty xuyên
quốc gia có vai trò quan trọng. Các hoạt động đầu tư của công ty xuyên quốc gia có
hai xu hướng: Xu hướng tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiến tiến
để khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu thị trường nước sở tại.
Do vậy, xu hướng này chủ yếu xảy ra ở các nước có cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực
đáp ứng được yêu cầu và có thị trường tiềm năng lớn cho các sản phẩm công nghệ cao
như nhóm các nước có nền kinh tế đang nổi lên; Xu hướng đầu tư của các công ty
xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển nhằm khai thác tài nguyên và nguồn nhân
lực có kỹ năng giản đơn và chi phí thấp. Tuy nhiên các nước đang phát triển có thể thu
hút được các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên tiến của các
công ty xuyên quốc gia nếu đáp ứng các điều kiện về nguồn nhân lực chất lượng cao
và môi trương thuận lợi cho đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên tiến.
Như vậy, xu hướng phát triển của khoa học công nghệ toàn cầu hiện nay tiếp tục
khẳng định tài sản trí tuệ, khoa học công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng, đặc
20
biệt là việc sản xuất ra các sản phẩm khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại, có hàm
lượng tri thức cao, mang lại giá trị lớn.
-
3.2 Những xu hướng công nghiệp sẽ làm thay đổi tương lai.
Dữ liệu hóa.
-
Công nghệ nano và khoa học dữ liệu.
Năm 2014 ghi nhận nhiều thành công của công nghệ nano và khoa học vật liệu,
như thuốc tiêu diệt tế bào ung thư dựa trên công nghệ nano. Trong tương lai, công
nghệ nano sẽ là hướng phát triển trên lĩnh vực như công nghệ, y tế,... Thậm chí vào
năm sau, một hội nghị công nghệ nano sẽ được tổ chức tại Hàn Quốc, hứa hẹn mang
tới nhiều thông tin hay về lĩnh vực này.
22
-
Công nghệ pin và sạc không dây.
Cách để tăng thời lượng sử dụng cho hầu hết các thiết bị cầm tay hiện nay là sạc
dự phòng. Chắc chắn Intel, Qualcomm, Nvidia, AMD và Texas Instruments đang xây
dựng các CPU di động ngày càng hiệu quả hơn, nhưng lượng điện năng tiêu thụ cũng
sẽ hút cạn viên pin.
Trong năm 2015 có thể sẽ có đọt phá. Đầu năm nay, Viện Tiêu chuẩn và Công
nghệ báo cáo rằng, các nhà khoa học của Viện đã phát triển thành công pin công nghệ
mối rẻ hơn, ổn định hơn, mạnh hơn và nhiều năng lượng hơn.
-
Màn hình cong.
Năm 2014 chỉ mới ghi nhận được một số sản phẩm màn hình cong như HDTV
cảu LG hay Fit của Samsung. Và người ta đang mong chờ các sản phẩm có màn hình
không chỉ cong mà còn linh hoạt nữa. Đặc biệt, công nghệ kính cường lực Gorilla
Glass cũng sẽ linh hoạt hơn để áp dụng trên các sản phẩm nàm hình cong.
Điện đám mây.
Việc chuyển sang điện toán đám mây là một quyết định quan trọng trong việc xử
lý dữ liệu lớn, thậm chí nền tảng công nghệ này có dẫn đến nhiều mô hình kinh doanh
mới. Điện toán đám mây đang tạo ra một sự thay đổi cơ bản trong kiến trúc máy tính,
phát triển phần mền và các công cụ và cả trong cách chúng ta lưu trữ, phân phối và sử
dụng thông tin. Theo nghiên cứu khảo sát gần đây của Vmware cho thấy có tới 83%
doanh nghiệp Việt Nam coi đám mây là ưu tiên hàng đầu, và khoảng 67% doanh
nghiệp nới rằng điện toán đám mây có ảnh hưởng lớn tới hoạt động chuyển đổi kinh
doanh.
-
Tốc độ tăng trưởng công ty công nghệ.
25